Navigation

2.- Thiên-Thơ

                                II.- Thiên Thơ

Trong các Sấm Giảng, cũng như mấy vị có huệ và điễn-lành đều nhận rằng nước Việt Nam sau này sẽ dẫn đầu thế-giới và trong ngày Hội Long-Hoa, Thánh-Chúa xuất-hiện trên đất Việt-Nam, nhưng chưa giải-bày rõ tại đâu nước Việt-Nam hữu-phước và sẽ là cõi Trung-Ương sau này, nghĩa là trung-tâm điểm của nền văn-minh Thượng-Nguơn. Cô Trúc-lâm-nương có cho biết Thánh-chúa sẽ xuất hiện ở Bảo-giang môn, nhưng không nói Bảo-giang môn ở đâu?

Nay nhơn đọc quyển Con đường nào? của tác-giả A.T.Y có thấy giải-thuyết những chỗ thắc-mắc ấy, nên chúng tôi xin trình-bày ra đây để giúp thêm sự hiểu biết về vấn-đề Tận-Thế và Hội Long-Hoa.

Cứ theo tác-giả thì quyển Con đường nào? viết theo tài-liệu quyển Huyền Diệu Thiên Thơ mà tác-giả may mắn được một dị-nhân tặng cho ở vùng Thất-Sơn.

        Trước khi vào đề, tác-giả nêu lên một bài thơ có thể nói, tóm lược những điều Sấm-Giảng đã giải về cõi đời Hạ-Nguơn, hiện-tượng khi sấm nổ, Hội Long-Vân và Long-Hoa, Tam giáo qui nguyên, ngũ chi hiệp nhứt, giống dân Hồng-Lạc lập nên dòng Bích-Ngọc sau này… Chỉ có tám câu thơ mà gồm đủ các biến thiên của nước Việt.

 Việt-Nam xuất hiện Hạ-Nguơn kỳ,

Thánh-Tổ lâm phàm hiệp ngũ chi.

Ba tiếng sấm vang khai địa huyệt,

Bảy nguồn thủy dựng tảo sơn kỳ.

Rồng Mây Phật hội Phong-Thần mạng,

Sen nở, Long-Hoa vạn quốc qui.

Ớ hỡi ! Lạc-Hồng nền Bích-Ngọc,

Vững lòng Chúa ẩn, hạnh duyên tùy.

        Cốt yếu của quyển Con đường nào? là quyết định chắc-chắn có Thánh-Nhân ra đời hay chăng ? Đó là cả mục-đích của quyển Con đường nào? mục-đích tìm Thánh-Nhân và vì đâu nước Việt-Nam có phước được Thánh-Nhân xuất hiện và được nảy nở một giống dân Bích-Ngọc sau này?

Muốn đạt được mục-đích tìm Thánh-Nhân ấy, tác-giả nêu lên hai nguyên lý để làm mục-phiêu trong sự suy-cứu:

1o Nguyên-lý cõi trần sắp có Thánh-Nhân ra đời.

20 Nguyên-lý Thánh-Nhân ra đời.

Trước hết chúng tôi đề-cập đến Nguyên-lý thứ nhứt.

        Muốn biết có Thánh-Nhân ra đời hay không tác-giả xét qua mấy khoản sau đây:

        a) VĂN-MINH VẬT-CHẤT HIỆN TẠI. Về phương diện khoa-học, thì loài người đã thông-minh tuyệt-bực, phát-minh nhiều máy móc tân-xảo. Nếu sánh với năm mươi năm về trước thì trình-độ ngày nay đã tiến-hóa rất nhiều, từ chỗ phiền-phức tiến đến chỗ giản-tiện mỹ-thuật.

    Về phương-diện sinh-lý, tình-cảm, tư-tưởng và xác thân của người đời nay, biến-hóa đến chỗ mịn-màng, sắc-xảo, thông-minh, một hiện-tượng là trẻ con ngày nay có nhiều cảm-tưởng rất sâu xa.

        b) PHONG-TỤC. Nhờ sự giao-thông mau lẹ, phong-tục của xứ này chịu ảnh-hưởng của xứ kia mà thay đổi. Con người ở bên Á-châu tiêm-nhiễm trực tiếp hay gián-tiếp văn-minh thế-giới mà không hay.

        c) SỰ CHÊNH-LỆCH VỀ TINH-THẦN. Bị văn-minh khoa-học cám-dỗ, con người ham mê theo vật-chất kim-thời, lăn mình vào cuộc tranh-đấu để thỏa-thích tâm phàm. Vì quá say mê vật-chất mà một ngày một xao lảng phần cao-siêu của tinh-thần. Chính vì đó mà “cuộc thế đảo lộn xoay vần, đang lôi cuốn chúng-sanh vào đời mạt-pháp”.

        d) GIÁO-LÝ XƯA HẾT HIỆU-LỰC. Tác-giả đưa ra gương Phật-giáo suy-vi ngày nay, để chỉ rằng giáo-lý xưa không còn hiệu-lực, “mặc dầu hôm nay chúng ta thấy Phật-giáo còn thạnh-hành nhưng chẳng qua là sự tín-ngưỡng thờ phượng mà thôi. Đường tu luyện bị sai siển rất nhiều, hoàn cảnh hỗn-loạn lôi kéo con người càng ngày càng xa đường đạo, mặc dầu còn mỗi ngày lễ bái đốt hương”. Mà s-dĩ có cảnh-tượng suy-đồi ấy là bởi ngày nay “cảnh đời hiện-tại khiến người giàu thì ham mê vật-chất, đeo đuổi theo danh-lợi nhãn tiền, sung-sướng tạm thời trong vật-dục, không cần đến đường đạo hạnh cao thâm”. Còn kẻ nghèo vì vấn đề “cần sống” còn đâu đầu óc lo nghĩ đến đạo-đức. Chính vì thế  “tâm phàm không thể bình tỉnh mà tu niệm được. Nơi am tự chùa chiền còn bị tàn phá, nơi miếu võ còn bị tiêu tan, huống chi là kẻ thường dân làm sao cho khỏi bị đảo-điên trăm bề?”

        e) THỜI LOẠN BẮT BUỘC. Tác-giả nhận rằng: hiện nay chẳng riêng gì nước Việt-Nam mà hầu hết các nước trên thế-giới đều lâm vào tình-cảnh của một cuộc nội-loạn. Vì sự cần sống mà con người nhập phe đảng để tranh-đấu nhau, chính đó là nguyên nhân của cuộc nội-loạn nước nào theo nước nấy.

        g) ĐỜI SẮP TÀN. Vì đâu đời sắp tàn? Tác-giả đưa ra hai nguyên-nhân:

1o) Vì sự cần sống mà loài người sanh ra tội ác đến cực điểm, sát hại nhau không biết gớm. “Đời càng chế-tạo máy tinh-vi mầu-nhiệm, khí-giới tối-tân lợi-hại mà thiếu đức hạnh hiền lương thì càng dẫn con người đến chỗ tàn sát nhau không dứt”. Mà đó cũng là cơ Tạo-hóa khiến hạng người hung ác phải tiêu-diệt, còn hạng người hiền lương thì được sống sót để lập nền-tảng cho giống dân thứ sáu ra đời.

2o) “Theo luật vũ-trụ, trái đất phải thay đổi cảnh vật núi non sông biển vào khoản 2100 năm một lần và biến chuyển, lấp biển dời non, biên-giới sụp đổi một kỳ là 12.000 năm. Mỗi lần thay đổi san-hà thì một lần chúng-sanh biến-động tâm-lý, xác thân cũng theo cảnh trần mà biến-hóa”.

        h) TỪ TRÍ-HUỆ ĐẾN GIẢI-THOÁT. Với sự phát minh khoa-học, con người đã tiến đến một trình-độ quá cao về vật-chất lẫn tinh-thần. “Trong thế-kỷ này chúng sanh phần nhiều đã đến trình-độ tiến-hóa vật-chất cực-điểm, tầm đến nguyên-lý sanh-tồn của vạn vật, cái luật vũ-trụ tiến-hóa vô cùng hơn hồi đời Xuân-Thu bên Tàu nữa”. Nhưng vì hóa đắm theo vật-chất mà thành ra mê chấp. Chính vì sự mê chấp mà con người phải đi đến chỗ tiêu-diệt.

Hạng người tiến-hóa không kịp trình-độ giải-thoát thì bị tiêu diệt, còn hạng người đủ điều-kiện giải-thoát thì được sống sót, tạo lập đời mới cho giống “Dân Bích-Ngọc”. Giống dân này phải nhờ bực Thánh-Nhân lâm-phàm chỉ dạy phương-pháp giải-thoát đường mê chấp.

Xét qua các nguyên-nhân vừa kể trên, tác-giả kết-luận: thế nào cũng có Thánh-Nhân ra đời trong thời-kỳ này.

                    1-Nguyên-lý Thánh-Nhân ra đời

Muốn biết Thánh-Nhân giáng-sanh ở xứ nào, cần phải xét qua ba điều-kiện:

“Thời thế. Thời thế là thời-cơ vận mạng của một nước, và thế-lực thạnh suy của nhơn dân. Thời thế hiện ra cho đúng sự cần dùng sức lực của Thánh-Nhân.

“Hoàn cảnh. Phải đủ hoàn-cảnh thuận-tiện, địa thế và xã-hội. Nghĩa là Thánh-Nhân giáng trần trong cảnh: trên thì hạp lòng trời, dưới thì hạp lòng chúng sanh để cho Ngài dạy-dỗ được mau lẹ.

“Nhân-tâm. Do duyên nghiệp và trình-độ con người trong đường tu niệm. Nếu nhơn-dân không đầu óc-tu niệm, tâm trí hoang mang theo vật chất lòng dạ độc ác tham-lam, Thánh-Nhân nào có ra đời nơi ấy được đâu. Ngài ra đời không hạp nhơn tâm, ai hưởng ứng theo Ngài? Bởi vậy Ngài lựa xứ nào có tiền duyên hiền lành với Ngài. (Vì bực Thánh-Nhân thường được chứng quả đến La-Hán Phật, được quyền tự-do chọn lựa cho đầu thai giúp đời, nếu như không giúp đời bằng cách giáng trần thì không đầu thai cũng được, vì La-Hán Phật là hạng đã thoát luân-hồi quả-báo rồi)  phần đông có chí tu-hành và phải đến nấc thang tiến-hóa cần-thiết Ngài mới lâm phàm giúp đỡ.

“Xứ nào đủ ba điều-kiện trên kia, thì nơi đó Thánh-Nhân xuất-hiện chẳng sai. Bây giờ các nước trên thế-giới coi xứ nào có đủ ba điều-kiện ấy?”.

Trước hết tác-giả xét qua các nước bên Âu-châu thì thấy rằng: “Gần hết các nước văn-minh bị khoa-học trói buộc, lôi kéo vào cảnh tham-vọng tài-sản, vật chất, quên hết sự quí báu tinh-thần.Tuy rằng từ 1800 có một vài người tu hành đắc đạo như Le Comte de Saint Germain, và có hội Thông-thiên-học xuất-hiện ban rải thuyết “Huynh-đệ đại-đồng” trong các dân-tộc. Chúng ta không quên phong-trào Thôi-miên học P.Jagot,  anh em ông Durville, và Thần-linh-học A. Kardec, giúp đỡ người Âu rất nhiều về sự thức-tỉnh tinh-thần khỏi đường lầm mê vật-chất. Nhưng người Âu bị khoa-học có kết-quả nhãn tiền làm thỏa-mãn tâm-phàm, vật chất lôi-cuốn quá mạnh, thành-thử một bên thì lăn xả vào đường tranh-đấu, còn một bên thì an-phận với chủ nghĩa “Huynh-đệ đại-đồng” của giáo-lý Thông-thiên-học đang hồi thạnh-hành khắp nơi”...

Xét qua Ấn-độ thì mặc dầu ở nước này có Trung-ương hội thánh Adyar Madras, truyền-bá giáo-lý Thông-thiên-học nhưng các bực ấy còn thiếu điều-kiện kiến-tạo đời An-lạc, vì một vị Tiên hay Phật muốn xuống trần phải có sáu điều-kiện căn-bản này:

“1.-Phải đắc quả La-Hán Phật, hoặc chiếm được sắc lịnh Tiên ban.

“2.-Phải đi vào đường hy-sanh hạnh-phúc cõi Bồng-Lai Cực-Lạc dể chịu đầu thai làm phàm tục.

“3.-Phải đủ năng-lực tiến-hóa vật-chất, tinh-thần cho hạp hoàn-cảnh và thời-thế dưới cõi trần.

“4.-Phải lập lời Thệ-nguyện gánh vác công việc của chúng-sanh đến nấc thang tiến-hóa nào?

“5.-Phải có nhân-duyên với phần đông dân-sự ở xứ đó.

“6.-Phải có nhân-duyên đầu thai xuống cõi trần cho kịp lúc nhân-dân đang cần gầp người giúp đỡ.  

“Tất cả điều-kiện trên, có hai khoản Nhân-duyên là quan-trọng nhứt. Bởi vì nếu một vị Tiên, Phật quyết hy-sanh giúp đời, có nhân-duyên tiền căn với nước Mỹ không thể giáng trần vào con nhà Việt-Nam được. Lại nữa, nếu nhân-duyên Thánh-Nhân giáng sanh, chưa nhằm lúc chúng-sanh cần gấp sự giúp đỡ thì công-phu lâm phàm của Thánh-Nhân không còn hiệu lực gì nữa.”

Sau khi xét qua các nguyên-lý về Thánh-Nhân xuất hiện và các nước trên thế-giới, tác giả kết-luận: Việt-Nam là Thánh-địa vì Việt-Nam có đủ điều-kiện địa-lý và dân-tộc cho Thánh-Nhân ra đời.

               2- Việt-Nam Thánh-địa

Và đây, tác giả xét qua phương-diện địa-lý của Việt-Nam.

“Nước Việt-Nam có hai địa-thế đặc-biệt là hai mảnh đất phù-sa do các sông lớn bồi đắp, Hồng-Hà và Cửu-Long-giang, lập thành Bắc-phần và Nam-phần Việt-Nam. Nếu lấy khoa học địa-lý mà xét thì cái đầu ở Nam còn cái đuôi ở Bắc. Nước Việt-Nam được thấm nhuần con sông lớn nhứt, dài nhứt trên thế-giới. Nguồn nó bắt đầu tại núi Tây-Tạng Hy-mã-lạp-sơn chạy sang bên Tàu, bỏ ngọn về Việt-nam, hả miệng ra biển Đại-thanh. Miệng Cửu-Long vừa kết tụ nguơn khí, đầu Cửu-Long vừa hiện đủ hình, thì nước Việt-Nam có Tổ xuất-hiện, Thánh-Nhân ra đời giúp chúng-sanh vào đường hạnh-phúc.

“Một con sông lớn nhứt thế-giới, khởi nguồn nơi dãy núi Tây-Tạng cao nhứt, dài nhứt, lớn nhứt ở hoàn-cầu, làm sao khỏi linh-hiển lạ thường?

“Khoa địa-lý dạy rằng hễ trong dòng sông, bắt nguồn từ nơi đất địa hiển-linh, núi cao ngàn năm không người ở, rừng rm ngàn năm không ai tới lui, phóng lượn sóng nghênh-ngang ngàn thu không cạn thì con sông ấy sẽ kết tụ nơi huyệt “Long đảnh” một địa-huyệt rất linh hiển phì nhiêu về vật-chất, cao siêu tột bực về tinh-thần. Ngọn Cửu-Long-giang là một dòng Bảo-giang oanh-liệt, oai nghiêm, vừa tạo thành nên vóc-vạc hoàn-toàn lối 100 năm nay. Kết liên với các núi, Cửu-Long-giang xuất-hiện ra 12 huyệt huyền-diệu chấm đậm nét hùng-vĩ trên địa-cầu này.

“Bắt đầu khởi kết tụ nguơn-khí Âm Dương xây nên địa-huyệt thứ nhất tại THẤT-SƠN (Châu-đốc). Chỗ ấy ba huyệt thiên-tiên hiệp lại làm Nê-huờn cung, xuất-hiện đúng ngày linh-hiển TAM HUÊ TỤ ĐẢNH mùi hương lạ kỳ bí-mật bay ra từ núi Sam đến núi Tượng. Chỗ ấy là cân não, cốt tủy của Cửu-Long tên nó được hưởng-ứng theo luồng điện thiên-nhiên, oai nghiêm, từ-bi, hùng-vĩ đời sau gọi là KIM THÀNH HUYỆT. Đó là huyệt dương đã hiện, Cửu-Long kết lần với hai cốt núi Âm-Phong, cô độc, liên hiệp thành cặp mắt Hà-tiên và Phú-quốc là THỦY TRUNG HUYỆT, Tây-ninh núi Điện Bà là HUỲNH MÔN HUYỆT, hai đảnh núi ấy thuộc về Âm, kết tụ nguơn-khí tại Trung-nguơn tạo nên ẤN ĐƯỜNG HUYỆT (Dương) để khai mở luồng điễn quang cho các huyệt kia vừa ngưng tại lối miệt Long-xuyên, Bình-mỹ (một dãy cù-lao lớn chạy chạy dài từ Bình-mỹ xuống gần đến Cần-thơ).

“Từ Kim-Thành huyệt phóng xuống mũi Cà-Mau và núi Kỳ-Vân, hai huyệt dương nữa, một bên thì thành sống mũi Cửu-Long chấm đến Cà-Mau (tức là LÂM HUYỀN HUYỆT) một bên thì Hàm-Rồng tại Kỳ-Vân (tức là huyệt BÍCH-NGỌC). Đồng cân với hai huyệt âm (Thủy-trung huyệt và Huỳnh-môn huyệt) hiện ra một huyệt thứ sáu (BÌNH-NAM-HUYỆT) tại núi Côn-Nôn là chót lưỡi của Cửu-Long.

“Sáu huyệt Âm dương vừa kết tụ nguơn-khí thì tại gần Trung-ương huyệt, yết hầu Cửu-Long, vừa khai mở gần Cần-thơ bây giờ, gọi là Trung-ương Cửu-Long huyệt. Lần lần ba cửa mở ra cửa Đại, Tiểu v.v… vừa thành tựu (năm Nhâm-Thìn 1892) khiến cho ba nguồn thủy dựng tại Bình-Nam châu chuyển-động (lưỡi Cửu-Long) làm cho các miền ở chánh cửa khẩu phải bị nạn lụt (Vàm-cỏ, Gò-công, Bến-tre và các cù-lao nhỏ v.v… ) ba ngày ba đêm.

Đó là bảy huyệt linh-thiêng chánh gốc của xứ Việt-Nam mới ngưng kết được lối 100 năm nay. Đứng giữa hoàn-cầu sự linh-thiêng tân-tạo là đầu Cửu-Long-giang, một nguồn Bảo-giang thiên-cơ đã định phải chói rạng sự huyền-diệu nhứt hạng khắp bốn bể năm châu. Vì địa linh ấy mới sanh nhơn kiệt, các vị Thánh Tổ kim thời hễ thuộc Âm-mạng thì phải xuất-hiện (chớ không phải giáng sanh) dạy đời trong ba huyệt Âm (Thủy-trung huyệt, Huỳnh-môn huyệt và Bình-Nam huyệt), còn thuộc Dương thì phải xuất-hiện ở Thất-Sơn, Kỳ-Vân và Cà-Mau (Kim-Thành, Bích-Ngọc, Lâm-Huyền huyệt). Nhưng mặc dầu Âm hay Dương mạng, tại gần Cần-thơ cũng là kết-tinh mối Trung-ương, yết-hầu Cửu-Long, lập nền tảng bình-phân nguồn sống vật chất cho nhơn-dân, còn Kim-Thành huyệt là nơi kết-tụ tinh thần khiến cho Thánh Tổ sẽ lập căn-bản, ban rải mùi Từ-bi Bác-ái, Minh-triết cho chúng-sanh.

 Bởi nguồn thiên-cơ định cho xứ Việt-Nam được hưởng ân huệ của Cửu-Long-giang cho nên chúng ta phải rút địa-thế mà đoán ra thạnh-suy, hung-kiết, vận-mạng của một nước, một giống dân. Còn ngoài Bắc phần Việt-Nam là cái đuôi Cửu-Long lan-tràn đến vịnh Hạ-Long là dứt tại cốt Hậu-Đà của Long-Vĩ huyệt ngang Vinh lên Lạng-sơn Cao-bằng, có nhiều hầm mỏ và các tiểu huyệt, đã hiện ra từ 4000 năm nay bây giờ đã gần tàn rụi, bao nhiêu đời oanh-liệt các bực tiền-đế tiền-vương đều lần lượt ẩn vào mây mù tịch-mịch của thời gian.

“Tạo-hóa có một định-luật bất-tuyệt là vạn vật sanh hóa tiêu-diệt theo thời-gian, hết rồi đến sụt, hết thạnh tới suy, hết cao siêu đến hồi hỗn-loạn. Cái luật tuần-hoàn bí-mật của giọt nước mưa luân-chuyển từ nơi hải-hà mênh-mông không bờ-bến, bay bổng lên tận trời xanh, ngưng kết mây mù, rơi tan xuống đất từ giọt nhỏ lăn lộn qua các cảnh gió bụi, sạch trong, rồi đến lúc thoát dòng “Gian nan đau khổ” hiệp nhau thành một con sông lăn mau về biển cả, rồi cũng đến ngày kia bay trở lại lên trời biến-chuyển theo luật tuần-hoàn Trời đất, không ngừng không nghỉ. Chúng ta nào có biết đâu đời sống con người cũng như giọt nước mưa của vũ trụ? Nhưng lạ lùng thay! Hiện-tượng của: đất địa, san hà, hồ hải!  Đó cũng là một sự “sống” vô cùng bí-mật của quả địa-cầu này, và cũng là một “đòn cân tạo-hóa để bình-phân thiên-luật điều-hòa các tinh-tú trong vòng càn khôn vô-tận."

“Việt-Nam! Việt-Nam! Việt-Nam là một xứ tùy vận-mạng thiên-cơ địa hậu, sanh được ở chỗ linh huyệt thiên-nhiên của tạo-hóa, thật lành thay! Quí thay! Xứ tân tạo, nước tân tạo, dân tân tạo.  Kỳ hương sẽ phưởng phất tại huyệt Kim-Thành khiến cho chúng-sanh trên hoàn-cầu sẽ được hưởng mùi hạnh-phúc ngàn thu. Đất phù-nguyên vừa kết thành, tự-nhiên các huyệt mạch được tích tụ khí nguơn-thỉ Trời Đất, khiến cho tất cả con người (95 phần trăm) Nam-phần Việt-Nam xu-hướng theo đường đạo hạnh. Vì sao?  Bởi xứ Việt-Nam là nơi Thánh-địa, tạo-hóa đặt để Nam-phần Việt-Nam đúng theo luật vũ-trụ và ở nhằm trụ cốt huyền-diệu của trái đất này.

“Thất-Sơn  (bảy hòn núi sấp theo hình của huyệt tiên-thiên trong thân thể con người) cho nên gọi là núi Bảo-Sơn (hay là Bửu-Sơn cũng vậy). Số bảy là số hóa sanh vô-tận (Vô cực –Thái cực – Lưỡng nghi ­- Tứ Tượng, 3 trong rồi biến ra bảy, ngôi thứ tự Trời Đất, đến bảy từng vũ-trụ hóa-sanh sẽ hiệp nhứt trong vô-tận (chữ Án của Ấn-độ). Trong số bảy ấy phân ra hai giai-đoạn. Thứ nhứt ngôi đầu tiên (A-Di) là ngôi Âm dương chưa phân định. Đến lúc Âm-dương vừa phân, A-Di vừa sáng tỏ,  thì chính trong ngôi ấy đã có hiện ra Tam-Thanh (Huyền-hóa Tam-Thanh). Đó là Tam-Thanh nhứt thể (một ba-ba một). Tam-Thanh nhứt thể biến hiệp với khí nguơn-thỉ biến thành cõi Trời phụ (nếu kể tam-thanh là ba, thì 6+3=9, còn nếu kể nhứt thể thì 6+1=7).  Ấy là những số huyền-diệu bí-mật thiên cơ. Một, Ba, Bảy, Chín thành Tam-giác (Ba) tứ diện (Bốn) là hình-thức của một người ngồi thiền đúng cách (kiết già). Hiệp nhứt Trung-Ương là thức-tánh rồi huờn hư. Thật ra một sự bí mật của người tu-hành đang tầm hiểu.

“Bởi vậy nước Việt-Nam sanh vào một địa-huyệt thật linh-diệu vô cùng (Thất-Sơn, bảy núi, Dương và Cửu-Long, chín rồng, Âm). Sơn tiền điểm Long-mạch trong số bảy có sanh hóa, trong số chín Âm-dương kết tụ huờn hư, thật là không có xứ nào được như vậy. Toán theo khoa-học địa-lý thì nhờ có sự huyền-diệu trên đây, xứ Việt-Nam trở nên một Thánh-địa, một nước chứa đầy dân-tộc hiền-hậu, thông-minh nhơn-đức. Nhưng từ ngày bí-mật của ngọn sông Cửu-Long vừa lập thành bảy huyệt chánh gốc đến nay (gần 100 năm) các huyệt ấy khai mở mà con người Việt-Nam đã tiến lần đến chỗ hiền nhân thánh-triết”.

Cứ theo khoa-học địa-lý mà xét nước Việt-Nam hẳn là một địa-linh, các huyệt vừa kết tụ trong vòng một trăm năm nay. Ảnh-hưởng của cuộc địa-linh ấy đã gây nên một phong-trào đạo-hạnh tưng-bừng chưa từng thấy.

“Phong-trào đạo Tiên hồi 1880 (huyệt vừa kết tụ lại Thất-Sơn và Kỳ-Vân), có nhiều nhân-vật đắc quả Tiên ban như các vị: Phật-Thầy, Cử Đa, ông Đanh, Đạo Nổi, Thầy thím v.v… Từ 1800 đến 1920 thì có phong-trào Thiên-Chúa-giáo sang qua lan-tràn khắp xứ, kế đó có cuộc chấn-hưng Phật-giáo người chót được sắc lịnh phổ-thông ba năm là nhà sư Nguyễn-Kim-Muôn (sắc lịnh đây là sắc lịnh của hội chư Phật chớ không phải bằng-cấp thầy chùa). Sứ-mạng ngài có ba năm với Pháp-môn Tịnh-độ mà thôi. Trong thời-kỳ ấy gần hết dân-chúng miền Nam theo Tịnh-độ Cư-sĩ tu hành nhiệt-tâm. Sớm chiều trong các làng đều nghe tiếng chuông mõ. Ba năm sứ-mạng của Sư vừa dứt thì có hội Thần-linh-học gầy dựng đạo Minh-lý rồi kế Cao-Đài-giáo tiếp theo bành-trướng cơ-quan Tam-kỳ Phổ-độ làm rúng động nhơn-tâm, dân-chúng tín-ngưỡng theo hằng triệu. Như vậy còn chưa kể các vị tu Tiên như Tây-ninh có Bà Cô, Nha-trang, Phan-thiết có Cô-tư Bè, Kỳ-Vân có Cô-Cậu, hiện nay vẫn còn linh-diệu, mỗi phái được hàng ngàn đệ-tử.

“Kế thấy cuộc chấn-hưng Phật-giáo ở tại Linh-Sơn tự có cơ-quan truyền-bá bằng kinh sách; ông Minh-Trí lập ra nhánh Lễ-bái Lục-phương. Phật-học chùa lớn tại Phú-định (Chợ-lớn) do ông Lâm-Văn-Hậu chủ trương và các hội như Lưỡng-xuyên và Phật-giáo, mùi Chơn-lý của kinh phật được đem ra học hỏi nhiệt-thành; chùa lớn nhứt ở tại Huế, bên nữ cô Diệu-Tịnh (Thích-Nữ) lập chùa Từ-Hòa, vận-động phái nữ ra trường “Ni-trường Phật-học” ngoài Huế, dìu dắt nữ-lưu trên đường sáng suốt. Kế Diệu-Tịnh có Võ-Phụng-Kiều, pháp-danh Diệu-Minh, mở các am vân tại Mỏ-cày (Bến-tre) truyền-bá pháp-luyện tinh-thần và ăn hoa quả (cô dùng hoa quả trên ba mươi năm mà mập-mạp mạnh khỏe như thường). Lối 1935 ông Bạch-Liên tại Châu- đốc lập chi nhánh Thông-thiên-học do tận gốc bên Ấn-độ (Adyar Madras). Đồng thời ảnh-hưởng Phật-Tiên hiệp-nhứt nổi lên, vị cầm-đầu giáo-hội là ông Huỳnh-phú-Sổ (bây giờ gọi là Đức Giáo-chủ Hòa-Hảo).

“Như chúng ta xét rõ, không nước nào mới trong vòng một trăm năm mà nổi lên hơn cả chục phong-trào đạo-đức rất nhiệt-thành. Thứ nhứt là từ 50 năm nay, người Việt-Nam (riêng Nam phần) hết lòng lo tu-niệm…

Ấy cũng là nhờ một phần lớn ở địa lý, đất linh, ở vào các vĩ-tuyến địa-cầu kết thành những huyệt-mạch cực-kỳ huyền diệu về tinh-thần đạo-đức”

Tác-giả cho biết phần đất Việt-Nam đóng vào 12 huyệt sáng-suốt (6 huyệt chánh, 6 huyệt phụ và huyệt Trung-Ương là huyệt hội các huyệt) mà số 12 huyệt lại thuộc về Tâm-điền huyệt; “cho nên khiến các hạng con người lần lần xu-hướng vào đường đạo-hạnh hết. Các huyệt vừa kết tụ thì các tôn-giáo, giáo-hội mọc lên như nấm, nhân-dân niệm Phật Trời vang lừng một cõi. Đến lúc cửa huyệt Kim-Thành, Bích-Ngọc, Lâm-Huyền khai mở trong ba tiếng Ngũ-lôi vang động, bảy nguồn thủy dựng trào lên, thì Thánh-Nhân xuất-hiện ra đời đem mùi bác-ái yêu thương nhơn-vật vô cùng mà giúp chúng-sanh vào đường hạnh-phúc…

“Về dân tộc Việt-Nam, chúng ta không thể xem xét nước da hay là giống sanh-sản lai người ngoại-quốc. Nhưng chúng ta có thể lấy nội-dung tiến-hóa theo chiều thiên-cơ. Nhơn-vật ở địa cầu này đã đến thời-kỳ biến-chuyển lần thứ ba (lần thứ nhì bên Âu-châu sụp đất Atlantide thành biển Océan Atlantique bây giờ, có trên 12.000 năm). Giống dân thứ tư tiêu-diệt, còn sống sót các giống dân phụ của giống dân thứ năm trở lại sanh-sản rải rác dưới cõi trần, để ngày sau gầy tạo nên hoàn-cảnh, nhơn-tâm và nòi giống của giống của dân thứ sáu ra đời hiệu là giống dân BÍCH-NGỌC, màu da trắng trong như ngọc-bích, thông-minh tiến hóa vô cùng, tự-do dùng thân cảm-tưởng trong Danh, Lợi, Tình mà lòng không mắc chấp…

“Trước khi giống dân thứ sáu ra đời, phải có một phong-trào hỗn-loạn (như khi xưa, mỗi lần tạo-lập nền tảng cho giống dân mới, thì giống dân cũ sắp tàn, sự hỗn-loạn tự-nhiên phải có). Lịch-sử hằng ghi chép những gương xưa, chúng ta thấy rõ. Kế thời tạo-lập nền tảng cho giống dân mới, thì có Thánh-Nhân ra đời dạy chúng-sanh.

“Dân-tộc Việt-Nam theo thời cơ Thiên-định có rất nhiều linh-hồn thông-minh, tài-trí, đức-hạnh của các giống dân phụ thứ năm chuyển kiếp làm con người, vì Nam phần Việt-Nam là nơi địa-huyệt hạp với sự tiến-hóa với các linh hồn ấy. Dầu rằng các linh hồn khắp nơi hội-hiệp ở tại Nam phần Việt-Nam nhưng chẳng qua là do luật Trời biến-động khiến luồng Từ-Ân xuyên-tạc, Nguồn Ân Thánh-Triết lâm phàm sẽ thâu các linh-hồn ấy vào hàng đệ-tử cùng nhau tạo-lập “Đài gương An-Lạc”, đem hạnh-phúc cho nhơn-sanh. Vì dân-tộc Việt-Nam quan-hệ vô cùng đến sự tiến-hóa trên địa-cầu này, cho nên Nguồn Ân Thánh Triết (hiện nay chứng quả Phật La-Hán) phải tùng theo thiên-cơ mà chuyển kiếp vào dân Việt-Nam, lập đời mới, văn-minh tuyệt điểm vật-chất và tinh-thần phối-hiệp, rồi Ngài sẽ đắc quả Bồ-Tát vào cõi Trời Cực-Lạc”.

Tuy biết rằng “Nguồn Ân” xuất-hiện và tạo nền hạnh-phúc ở Việt-nam, nhưng Ngài còn giúp đỡ cho cả thế-giới. Ngài sở-dĩ giáng sanh ở Việt-Nam là “vì nơi đây hạp với thiên-cơ địa-hậu, hoàn cảnh, nhơn-tâm, nhưng Nguồn Ân vẫn là hạnh-phúc chung cho nhơn-loại, giúp chúng-sanh thoát khỏi dòng lao khổ”.

“Hạnh-phúc thay dân Việt-Nam!

“Hãy sửa soạn tâm hồn trong sạch lạy mừng Nguồn-Ân cứu-thế, muôn đời mới có một”.

Đó là tất cả nguyên-lý để tìm hiểu tại đâu nước Việt-Nam sẽ là cõi đất Trung-Ương trong thời-kỳ Thượng-Nguơn và dân-tộc Việt-Nam được hữu-phước dẫn đạo sau này, như Sấm-Giảng đã từng cho biết.

Chúng ta đã biết qua đâu là huyệt Kim-Thành, đâu là huyệt Bích-Ngọc, đâu là Bảo-Sơn đâu là Bảo-giang?

Thế là bức màn huyền-vi hé mở cho chúng ta khi đọc đến Sấm Trạng-Trình với những câu như:

Bắc hữu Kim-Thành tráng,

Nam tạc Ngọc-Bích thành.

Hay là:

Bảo-giang Thiên-tử xuất,

Bất chiến tự-nhiên thành.

Hoặc là:

Bảo-Sơn Thiên-tử xuất,

Bất chiến tự-nhiên thành.

 
Comments