Navigation

1) Giác Mê Của Đức Phật Thầy Tây An

 Giác Mê 

Của Đức Phật Thầy Tây An
 
Thừa nhàn gẫm sự giác mê,

Phàm trần thoát khỏi mọi bề mới ngoan.

Nợ tiền duyên Bồ đề giống trước,

Vẹn một mình mới trọn ba thân.

Máy thiền rộng thẩm vô phân,

Tri âm lãnh ngộ thấy gần chẳng xa,

Lướt phong ba mấy người chí cả.

Khỏi ái hà là họa tiền duyên.

Tai nghe mắt thấy nhìn tường,

Cách nhau một vách mà nên Thánh phàm.

Nhớ Bắc Nam dưỡng thân tứ đại,

Sao tu hành nào nại thỉ chung;

Sắc mài đã trọng thửa công,

Bửu Sơn đã tới tay không để về.

Dốc một lòng lên non đào giếng,

Kẻo lời phàm đem tiếng thị phi;

Cam lồ rửa sạch tánh mê,

Nước trong thì thấy nguyệt kia xa gì.

Danh lợi đề đã nên tiếng sãi,

Lạc ở mình cớ dễ chẳng tan;

Súng kia nhắm dạng đề làng,

Thiên cơ dễ biết ngộ duyên quân Thần,

Đã cầm cân non già từng nhắc.

Dạ hai lòng tráo chác đấu đong.

Lọc lừa thời đặng nước trong,

Ma Phật trong lòng lựa phải tầm đâu.

Mở cửa lầu ra vào ngày tháng.

Một ngọn đèn soi rạng mười phương;

Muốn cho thấy chúa Tâm vương,

Vào non bỉ ngạn kiết tường hoa khai.

Dốc giồi mài công phu lừa lọc,

Kết tri âm mảng đọc tâm kinh.

Kiếp mình thức tử tri sanh,

Sá chi dế lổ đành rành đặng mây.

Bỏ giống kia mới rằng của lạ,

Như bán hàng một gia khó chi.

Nhơn nào quả nấy chẳng sai,

Ai từng mặt bạc mày chì giống nhau.

Bửa cháu rau đã an phận khó,

Còn hơn người bán chó treo dê.

Khát thời uống nước Tào khê,

Đói ăn Ma phạn, tối về canh tân.

Thiệt kim ngân xá chi lửa dục,

Đặng nhiều đồng khéo đúc thì nên.

Miễn là neo nọc cho bền,

Gió vây mặc gió vững thuyền thì thôi.

Từng giồi mài ơn che mặt bạc,

Chi cho bằng xài xạc áo tơi.

Cớ chi bán lụa đầu hồi,

Hội lành nở bỏ mà vui chốn nào.

Muốn ăn cơm mận nước đào,

Áo dà gậy trúc tiêu dao tháng ngày.

Cám ơn Thầy lòng thờ án ná,

Mấy ai hầu đặng cá nhớ nôm?

Có cây mới biết hoa thơm,

Thuyền chèo đến biển nỡ hềm đò phu!

Một thuyền một bạn ngao du,

Làm sao đến biển Diêm phù gieo câu.

Bỏ sang giàu giữ ba điều khó,

Lánh khỏi dòng cây cỏ mới ngoan.

Ngày hằng mở cửa tam quan,

Hương gìn đèn đốt cho an tư bề.

Nương ngụ nhờ ba căn liều mọn,

Kẻo một mình nhọc dọn sửa sang.

Đi đâu cho khó nhiều đàng?

Kìa non Bửu tự nọ ngàn Ma ha!

Kiểng nào kiểng chẳng có hoa,

Non nào non chẳng có tòa thiên thai!

Đất nọ liền mượn cầu ai bắc,

Bịnh vô căn phục dược làm chi!

Đừng nghe lời lẻ thị phi,

Làm sao mắt thấy tai nghe thì làm.

                                 KIM CANG

                                   Kệ rằng:

                    Đạo phật cùng người chẳng bao xa!

                    Làm lành nên Phật, dữ làm ma.

                    Quí tiện đua theo dường danh lợi

                    Nào ai thoát khỏi chốn Diêm la ?

                    Người đời chẳng khác ngựa qua cửa sổ,

                    Thiểu niên rồi trẻ lại thấy già.

                    Chi cho bằng an phận đươc nhẫn nhục.

                    Ắt là tảo ngộ chốn Di Đà.

                                                             ***

Thọ truyền giáo đạo Thích Ca,

Màu thiền tấm ấn phép nhà nhiệm thay!

Chim cò bay trong rừng sương tuyết,

Người vô tình chẳng biết dấu xưa.

Một thuyền vượt biển vô biên,

Phàm trần thoát khỏi về miền Tây Phương.

Sự chẳng toan dọn đào giếng trước,

Đến cơn nghèo khát nước tầm đâu?

Những lời điên đảo dối nhau,

Thiệt vàng thì ít giả thau thì nhiều.

Công đã liều ăn sương nằm tuyết,

Lên non tầm cho biết ky nam.

Việc chẳng làm than tân rằng khó,

Của ở đời ai khó cho không?

Phật Trời há dễ tư công,

Không tu mà đặng cho không máy thiền.

Đạo Thánh hiền tầm đâu cho khó,

Ai dạy mình, mình lại dạy ai!

Ngọc nhà luống bỏ chẳng mài,

Tiểu tâm vì bởi cậy tài nên xa.

Giác suy xa ấy là người quân tử,

Xét phận mình ngày đủ ba phen.

Ai đốt đèn nhà ta đặng tỏ,

Kẻ gian tà đâu dám phạm xâm.

Loài cầm thú còn hay biết ổ,

Huống chi người nở bỏ tứ ân!

Trách ai bụng lượng vô phân,

Để theo tranh tụng giành phần thịt kia.

Trông chi chì, vàng mười thì bỏ,

Chim ham mồi mắc khó nào hay.

Ai trau công quả cho dày,

Đất bùn có thuở mọc rày hoa sen.

Đất gần miền gắng công chèo lấy,

Dại chi sao ngồi vậy chẳng toan.

Tuy là tấn dị thối nan,

Trượng phu kia hỡi cho bền chí trai.

Khối sắt mài nên kim mới kể,

Chí anh hùng lấp bể làm non.

Sắt kia vào lửa mẻ mòn,

Gan vàng tiết đá lòng son mấy người?

Sự nực cười nước kia chảy ngược,

Bạch hạc bay trượng trước nhành hoa.

Trống kia chặp bảy chặp ba,

Trực nhìn dường thấy Bửu tòa Thiên thai.

Chỉn lạ thay trâu cày đáy biển,

Người đã cười hả miệng cùng nhau.

Màu thiền đắc ý cũng mầu,

Còn hơn chen chúc công hầu vương khanh.

Những đua tranh tiền ma gạo quỉ,

Của ở đời ai có cho không.

Tây phương trước mặt chẳng bao xa,

Cách nhau vì bởi ái hà biển mê.

Những che khen cười nhau lộn xạo,

Gẫm ở mình ngay thảo nổi chi!

Dốc lòng niệm chữ từ bi,

Lấy dao trí huệ cắt đi cho rồi.

Bởi dây dùng không bề khó dứt,

Sao trách rằng Trời đất không binh.

Chớ khen những đảng không minh,

Ở mình lại giác lấy mình rằng khôn.

Chốn hải môn ra vào ngày tháng.

Giữ lái lèo tốt gió thì hơn.

Hay buôn mới gọi nhiều tiền,

Điên đầu cũng gọi rằng người làm chi!

Chốn hải môn lánh mình khỏi trước,

Giả chơn ai đặng nước hoa sen.

Có công hay học thì nên,

Chẳng cầu ai dễ đem quyền tới cho.

Ham ăn chim mới mắc dò,

Lưới mê thoát khỏi ngoài vòng  mới ngoan.

Quyết liu mình giồi mài trí huệ,

Kẻo bán đồ nhi phế uổng công.

Rối tơ khéo gở thì xong,

Lọc lừa thời đặng nước trong khó gì!

Há dạy chi nên ai phải dạy,

Tới cửa thiền thì thấy Đế vương.

                              Kim Cang

                                     Kệ rằng:

            Thủy thanh nguyệt ảnh hiện tự nhiên,

            Tảo tận trần ai mãn thế duyên.

            Thủy nguyệt quang âm minh cảnh chiếu

            Danh như bổn tánh đoạn tiền khiên.

                                                        ***

Ngâm thôi vào chốn tam quyền,

Nhã quang định tánh vào thiền sửa sang.

Lấp ba đường để thông một cửa,

Thuyền ra vời mặc thửa lộng khơi.

Sớm thời Nam thiệm dạo chơi,

Tối về Trước quốc gần đời Ma ha.

Chốn lâm tuyền ngao du cũng toại,

Gẫm hai đường cũng toại vừa hai.

Bạn thuyền bát nhã hôm nay.

Chơi hoa lấp kiểng gồi mài kim cang.

Ba xe lửa đỏ rõ ràng,

Nước nhà một gáo tưới tan tư bề.

Nhà gìn đ mật Ma-ha,

Phòng khi luyện được để hòa làm viên.

Chiếc đơn điền dõi miền địa hậu.

Cõi vô thường còn để trên không.

Vào non ngũ uẩn mới thông,

Luyện nên linh dược thì lòng mới an.

Việc hành thoàn kể đâu cho xiết,

Người vô tình chẳng biết chèo bơi.

Làm nguời cho biết sự đời,

Tu nhơn tích đức để lời thảo ngay.

Voi kia ai mượn thày lay,

Bởi mình lại khiến lấy dây buộc mình.

Chốn quang minh về Ta hay chọn,

Muốn tầm hiền hãy chọn người khôn.

Cùng nhau biển ái nguồn ân,

Vui chi một phút lửa phàm cháy ram.

Đầu đuôi xét lại cho cam,

Trầm hương thì bỏ son chàm lại đeo.

Vì bỉnh thoại nói rằng thời dễ,

Gẫm trong mình như thể cá ươn.

Trẻ thơ vụn lượng khá thương,

Có đâu biết sự chiến trường chông gai.

Mặc ý ai khôn ngoan chèo lấy,

Tới liên trì thì thấy hoa sen

Sãi mùa lỡ dở tèm hem,

Chớ nên sức học dám chen khoe mình.

Nôm na lộn lạo sử kinh,

Dám chê thượng trí dám khinh sãi mùa.

Nên hư chẳng tốn tiền mua,

Câu nào đắc ý thì chua trong lòng.

Thập thủ liên huờn thi. (1)

(1) Nhiều người cho rằng mười hai liên huờn này là của Cậu Hai Lãnh thường gọi là cậu Hai Gò sặc làm. Nhưng xét lại với câu”Công ơn đạo đức sánh Trùm che” thì chỉ có Đức Phật Thầy mới dám sánh như thế. Hơn nữa chỉ có Đức Phật Thầy mới được “cỏ cây trên dưới đua chào rước; thú vật cha con thấy sợ e” Hoặc giả Cậu Hai Lãnh thừa sứ mạng của Đức Phật Thầy chép ra rồi người ta thấy vậy lầm nhận Cậu hai Gò Sặc là tác giả đó chăng?

Riêng chiếm non Bồng một cảnh Tiên,

Tu trì phép đạo khác màu thiền.

Nước kinh rửa sạch lòng trần tục,

Phù Phật đành dưng kẻ thiện duyên.

Sáu ngả quỉ tăng nhiều chỉ bảo,

Ba đường tội phước khắp răn truyền.

Từ bi đã có lòng siêu độ,

Biển khổ sông mê thấy những phiền!

 

Thấy những phiền cho cuộc ở đời,

Xa tầm non núi một phương Trời.

Hoa thơm trước mặt thơm tho nực,

Thú dữ bên mình nhả nhớn chơi.

Nghiêng chén hải lan vui chốn chốn,

Cum cây trăng Sở dạo nơi nơi.

Quên năm Giáp tý năm nào cả,

Luyện thuốc linh đơn tế độ người.

 

Độ người thẳng tới cõi Thiên thai,

Chẳng nhuộm màu đời có mấy ai?

Giày cỏ đến lui Trời đất rộng,

Ao sen xài xạc núi sông dài.

Kiểng vui ý hiệp son giồi phấn.

Thú lạ tình ưa đá chẳng phai.

Nghiêng ngửa cội tòng nghe tiếng gió,

Dọc ngang mặc thích thế không hai.

 

Thế không hai có bực người lành,

Trên đảnh mình ngâm chữ thái bình.

Một tấm lòng nhàn mây sắc trắng,

Trăm đường tục lợi nước màu xanh.

Dạy đời hằng giữ câu vi thiện,

Tưởng đạo vui theo dạ chí thành.

Cửa Phật tau giồi công đức lớn,

Ngâm tầm mùi đạo rất tinh minh.

 

Đao rất tinh minh có dễ đâu,

Một thầy dạy biết đạo kia mầu.

Tụng kinh lạy Phật trừ loài dữ,

Niệm chú thư phù trị bịnh đau.

Dụng phép về Tây nương chiếc dép.

Cất thân qua biển cởi cây lau.

Hòa Nam đã thấu công phu nọ,

Nên Phật Mâu ni tế ngõ hầu...

 

Ngõ hầu trở lại chốn Trời nghe,

Thong thả tình dầu uống nước khê.

Mặt ẩn công danh dường dép sút,

Mắt nhìn phú quới tợ mây che.

Cỏ cây trên dưới đua chào rước,

Thú vật cha con thảy sợ e.

Miệng động ra tay sôi nấu đá,

Phật Tiên nào biết tấm lòng nghe.

 

Lòng nghe muốn ở đạo tu non,

Rảnh việc nào lo nỗi mất còn.

Kiểng vật có Trời dành sửa dọn,

Giang san nhiều chỗ tính vuông tròn.

Giàu sang cửa tía càng thêm bực,

Cây trái rừng xanh gẫm rất ngon.

Đến chỗ đều vui ai rõ đặng,

Bốn mùa phơi phới phấn giồi son.

 

Giồi son giồi phấn tốt chi đây!

Đâu dám khoe cùng thú vị này.

Niệm chữ Di Đà thình dạ chánh,

Soi gương trí huệ cứu người ngay.

Bạn cùng nhựt nguyệt vui mùi đạo,

Dạo khắp san khê thỏa dạ Thầy. (2)

Ca khúc huỳnh lương thêm khoái khoái,

Trong đời tiền bạc chẳng thò tay.

 

Thò tay lần đếm chuổi Bồ đề,

Chẳng biết cuộc đời gẫm ngỡ quê.

Nong nả non Thần giồi luyện phép,

Náu nương cửa Thánh sửa sang nghề.

Giấy tinh đốt cứu người đau đớn,

Nước lã phun lành kẻ ủ ê.

Linh nghiệm hạ trần ai chẳng kính?

Công ơn đạo đức sánh trùm che.

 

Đức sánh trùm che bực Thánh Hiền,

Đạo mầu nghĩa nhiệm tấm lòng siêng.

Lánh nơi thành thì tình đời trải,

Gặp lúc thái bình giấc ngủ yên.

Lăng líu tiếng chim kêu náo nức,

Rỡ ràng hoa nội trổ Tiên Thiên.

Trân trân danh lợi cười ai mến,

Riêng chiếm non Bồng một cảnh Tiên.

___________________________________________

(2) Đọc câu này đủ thấy là lời của Đức Phật Thầy rồi.


Comments