4. THIÊN TƯ: ĐỜI HẠ-NGUƠN

                                            THIÊN TƯ

                                                     ĐỜI HẠ-NGUƠN

         Trong Tam-nguơn, Hạ-nguơn là thời-kỳ đen tối nhất của nhân-loại, cũng như trong lu nước, Hạ-nguơn là lớp cặn cáu ở đáy lu. Lớp người khinh-thanh thượng-thiện của buổi Thượng-nguơn và Trung-nguơn đã siêu-hóa, chỉ còn hạng người đọa-lạc rơi rớt lại cõi đời Hạ-nguơn, cũng như lớp nước trong đã múc đi, chỉ còn lớp cặn cáu.

         Trong một lu nước, phần cặn cáu nếu đem sánh với phần nước trong, chỉ là một phần quá nhỏ-nhít. Về thời-gian cũng thế, buổi Hạ-nguơn sánh với Thượng-nguơn và Trung-nguơn cũng như phần cặn cáu đối với phần nước trong.

         Đặc điểm của con người Hạ-nguơn là tánh ưa tranh-đấu, thối-hóa về phương-diện tinh-thần nhưng rất tiến-bộ về phương-diện vật-chất.

         Chỗ chuyển-biến giữa con người thượng-đức của Thượng và Trung-nguơn với con người hung bạo của Hạ-nguơn thấy hiển-lộ trên lịch-sử Trung-hoa hơn đâu hết. Từ vua Nghiêu vua Thuấn trở về trước là thời-kỳ con người sống trong đạo-đức, nhân-nghĩa, hòa thuận nhau chung hưởng thái-bình, còn từ ngày chấm dứt chế-độ thiện-nhượng tức chế-độ nhường ngôi cho người hiền thì con người càng ngày càng trở nên hung ác, lấy sự tranh chấp tài-sản, quyền-lợi làm mục-đích cho cuộc sống còn.

         Có thể nói đời Nghiêu Thuấn là một nét gạch đậm trên lịch-sử Trung-hoa làm giới-hạn cho hai thế-hệ người Trung-nguơn và Hạ-nguơn.

         Trên sử sách của Thánh-Hiền cho ta thấy rõ chỗ đó; khi nhắc đến người xưa thì mấy ngài khâm-phục và luyến-tiếc, còn nói đến thế-hệ người sau Nghiêu Thuấn thì tỏ ra thái-độ bất mãn và chê trách.

         Mạnh-tử có viết: ‘’Nghiêu Thuấn ký một, Thánh-nhân chi đạo suy. Bạo quân đại tác. Hoạ cung thất dĩ vi ô tri, dân vô sở an tức. Khí điền dĩ vi viên hựu; sử dân bất đắc y thực. Tà thuyết bạo hành hựu tác. Viên, hựu, ô, tri, bài, trạch da nhỉ cầm thủ chí. Cập Trụ chi than, thiên hạ hựu đại loạn…

         ‘’Thế suy, đạo vi; tà thuyết bạo hành hựu tác. Thần thi kỳ quân giả, hữu chi; tử thi kỳ phu giả, hữu chi.’’

         (Vua Nghiêu vua Thuấn thác rồi thì đạo trị quốc của Thánh-nhân càng ngày càng suy. Những vị bạo quân nổi lên thay thế. Họ phá hoại cung tường nhà cửa của bá tánh để làm ao, hồ; dân chúng không có chỗ ở yên. Họ bỏ ruộng đất của bá tánh mà làm vườn thảo mộc, vườn bách thú khiến dân-chúng thiếu ăn thiếu mặc. Lại thêm những tà thuyết, những hành-vi hung-bạo nổi lên. Những vườn thảo mộc, vườn bách thú cùng những ao, hồ, đầm, vũng càng nhiều thì chim thú qui tụ càng đông. Cho nên tới đời vua Trụ, thiên-hạ loạn lạc đến cực điểm…

         (Kế đó, đời càng ngày càng suy, đạo càng ngày càng yếu; lại thêm một tà thuyết, những hành-vi hung bạo nổi lên. Nhân đó có kẻ tôi giết vua, con giết cha. (Đằng văn Công hạ)).

         Sách Minh-Tâm cũng có nói rằng: ‘’Cổ nhân hình tợ thú, tâm hữu lại thánh đức; kim nhân biểu tợ nhân, thú tâm an khả trắc’’. (Người xưa tuy bề ngoài hình chất-phác như giống thú mà trong lòng thì có đức đại-thánh; còn người nay tuy bề ngoài đẹp-đẽ như người mà trong lòng thì như loài cầm-thú biết đâu mà lường cho được).

         Cứ theo đó; thời-kỳ Nghiêu Thuấn được xem là thời-kỳ quá độ giữa hai thế-hệ Trung-nguơn và Hạ-nguơn.

         Tại đâu xã-hội Trung-hoa biến thể sau khi chấm dứt thời Nghiêu Thuấn?

Theo các nhà xã-hội-học, như Tiêu-diệc-Thạch đã viết trong Trung-quốc chánh-trị sử giảng-thoại thì thời-kỳ từ Nghiêu Thuấn trở về trước là thời-kỳ con người còn sống dưới chế-độ tập-thể, tài-sản chưa có tánh-chất tư-hữu rõ-rệt. Vua Nghiêu, vua Thuấn, mặc dầu gọi là vua nhưng thật ra không có quyền-hành như một ông vua dưới chế-độ quân-chủ chuyên-chế. Các vì vua chúa lúc bấy giờ chẳng qua là một vị tù-trưởng do toàn dân trong các bộ-lạc tuyển chọn và ngôi-vị không truyền nhau bằng lối thế-tập mà bằng lối thiện-nhượng. Sau Nghiêu Thuấn thì chế-độ truyền hiền không còn nữa. Ngôi báu lại do cha truyền con nối. Từ đó chế-độ tư-hữu tài-sản càng sâu sắc, dẫn khởi những cuộc tranh-chấp làm cho xã-hội càng ngày càng chìm đắm trong những cuộc giết hại gớm ghê.

         Đời vua Văn-vương, mặc dầu chế-độ thiện-nhượng đã chấm dứt, nhưng cái tánh-chất xã-hội tập-thể của thời Nghiêu Thuấn còn di-lưu. Vua với dân còn hòa hợp nhau trong sự hưởng chung lợi lạc.

         Mạnh-tử ca-tụng cái tánh chất tập-thể ấy trong một đoạn văn như sau:

         ‘’Tề Tuyên-vương hỏi rằng: vườn hoa của vua Văn-vương thuở xưa, vuông vức 70 dặm, phải vậy chăng?’’

         ‘’Mạnh-tử đáp: trong truyện tích có chép như vậy.

         ‘’Vua nói: như vậy thời lớn quá chăng?

         ‘’Mạnh-tử đáp: thế mà dân cho là nhỏ.

         ‘’Vua nói: vườn hoa của quả nhân vuông vức chỉ có bốn chục dặm, thế mà dân cho là lớn. Tại sao vậy?

         ‘’Mạnh-tử đáp: vườn hoa của Văn-vương vuông vức là bảy chục dặm, vẫn mở cửa cho kẻ cắt cỏ hoặc hái củi, vẫn tiếp rước những người săn trĩ bắn thỏ. Đó là vua với dân cùng hưởng khoái-lạc, cho nên dân cho cảnh vườn ấy là nhỏ, chẳng phải vậy sao? ‘’

         Chế-độ tư-hữu tài-sản chưa quá sâu-sắc dưới triều đại của các vị Nhân-quân như vua Vũ, vua Thang, vua Văn, vua Võ, nhưng đã thành hình và trở nên ác liệt từ các bạo chúa nổi lên. (Lương Huệ-vương hạ).

         Chế-độ tư hữu tài-sản chưa quá sâu-sắc dưới các triều đại của các vị Nhân-quân như vua Vũ, vua Thang, vua Văn, vua Võ, nhưng đã thành hình và trở nên ác liệt từ khi các bạo chúa nổi lên.

         Trên lịch-sử tiến-hóa nhân-loại, một khi chế-độ tư-hữu tài-sản xuất-hiện thì mọi cơ-cấu của xã-hội tập-sản phải giải thể. Cái trạng-thái biến-động này biểu-lộ rõ rệt trên lịch-sử Trung-hoa vào thời-kỳ chấm dứt đời Nghiêu Thuấn.

         Do đó chúng ta có thể định-nghĩa rằng: Đời Hạ-nguơn xuất-hiện trên lịch-sử nhân-loại cùng một lúc với chế-độ tư-hữu tài-sản. Trình-độ tiến-hóa của mọi xã-hội, bởi không ngang nhau, cho nên chế-độ mới xuất-hiện có nơi sớm, có nơi chậm. Nhưng dầu sớm dầu chậm, đặc điểm của đời Hạ-nguơn là nó xuất-hiện trên lịch-sử nhân-loại vào thời-kỳ có sử. Như thế, chúng ta có thể dựa vào lịch-sử mà nghiên-cứu đời Hạ-nguơn không phải khó.

         Như chúng ta đã biết, một cuộc tuần-hoàn diễn-tiến nhân-loại phân ra làm ba nguơn: Thượng, Trung, Hạ nữa. Nếu dựa vào lịch-trình thối-hóa về phương-diện tinh-thần thì ba tiểu thời-kỳ của Hạ-nguơn có thể phân-định, tương-đương với các thời-kỳ lịch-sử như sau:

        

         Thời-kỳ Hạ-nguơn thượng: bắt đầu từ khi chế-độ tư-hữu xuất-hiện trên lịch-sử nhân-loại cho đến lúc Chúa Giê-su ra đời. Thời-kỳ nầy kéo dài độ ba bốn ngàn năm, tùy theo trình-độ tiến-hóa xã-hội của mỗi nơi. Có chỗ như những vùng Trung-Đông chẳng hạn, chế-độ tư-hữu tài-sản xuất-hiện trước kỷ-nguyên có trên năm sáu ngàn năm.

         Đặc-tánh của thời-kỳ nầy là con người sanh ra tuy sống trong xã-hội không còn tốt đẹp như thời Nghiêu Thuấn, nhưng còn lắm người giữ được phong-độ cao nhã thuần-lương. Chính trong khoảng thời-gian nầy có nhiều bậc minh-quân hiền-triết ra đời, đem đạo-lý của Tiên Thánh ghi chép thành sử kinh truyền lại cho đời sau. Có thể nói trên lịch-sử của nhân-loại, từ ngày có sử, chưa có lúc nào nến triết-lý học-thuật cao-siêu và phong-phú bằng thời-kỳ nầy, cho đến nay cũng chưa có học-thuyết nào sánh kịp.

 

         Thời-kỳ Hạ-nguơn trung: Bắt đầu từ Tây-lịch cho đến thế-kỷ thứ 18, tức là lúc nền cơ-khí được phát-minh. Thời-kỳ nầy kéo dài độ 1.700 năm. Người sinh ra trong khoảng thời-gian nầy còn giữ được phần nào đạo-lý của Thánh Hiền và cũng có một số ít nhà hiền-triết ra đời. Dầu sao về phương-diện tinh-thần, con người chưa đến mất căn-bản đạo-đức cổ-truyền và sống xa thiên-lý.

 

         Thời-kỳ Hạ-nguơn hạ: Bắt đầu từ máy móc ra đời cho đến nay. Có thể nói không có thời-kỳ nào con người suy-đồi bằng giai-đoạn nầy. Những đạo-lý cổ-truyền không còn được người đời quan-thiết. Ỷ lại vào công-trình phát-minh vật-chất, con người sống theo vật-dục và nô-lệ cho lòng tham-vọng của mình. Nhiều tà-thuyết ra đời, làm lợi-khí cho những cuộc chiến-tranh thảm-khốc. Chính đó là động-lực xô đẩy nhân-loại đến chỗ diệt vong, chấm dứt cuộc tuần-hoàn Tam-nguơn để mở ra một cuộc tuần-hoàn mới với sự tạo-lập cõi đời Thượng-nguơn thánh-đức.