3. THIÊN BA: ĐỜI TRUNG-NGUƠN

                                                       THIÊN BA

                                                                 ĐỜI TRUNG-NGUƠN

         Thời-kỳ Trung-nguơn là thời-kỳ mà giống người huyền-linh của thời Thượng-nguơn với hình-thể khinh-thanh (hommes éthèrés) đã lộ rõ hình-tướng của con người xác-thịt (hommes physiques). Sở dĩ có sự biến-đổi hình-hài ấy là vì trải qua thời-kỳ trường xuân dài dằng-dặc của buổi Thượng-nguơn, con người càng đi xa dần xuống chừng nào thì càng ô-nhiễm lấy cuộc đời vật-chất mà mất dần cái thể-chất nhẹ-nhàng của con người ở cõi Sắc-giới. Cái khí tiên-thiên thanh-khiết ở buổi đầu cũng theo thời gian mà càng ngày càng nhiễm trược. Do sự thay đổi khí-hậu và hình-thể ấy, con người lần lần giảm thọ, từ trên một muôn tuổi ở đầu Thượng-nguơn-thượng xuống còn trên một ngàn tuổi ở cuối Thượng-nguơn-hạ.

         Về điều này, ông Ba Thới có viết:

Lập Thượng-nguơn tuổi có một muôn,

Trung-nguơn dũ hạ phép khuôn trên ngàn.

         Mặc dầu thân-thể đã trở nên nặng nề nhưng ở đầu buổi Trung-nguơn-thượng con người còn giữ được một phần nào bản-tánh huyền-linh, nghĩa là có những phép huyền-thông như: đằng-vân, nghe thấy được xa, thông cảm nhau bằng những luồng tư tưởng không cần đến văn-tự, biết được việc quá-khứ, vị-lai, dùng thần-lực sai khiến mọi vật chung quanh mình theo ý muốn.

         Về phương-diện tâm-linh thì con người Trung nguơn-thượng chưa cách xa con người Thượng-nguơn cho lắm, nhưng về phương-diện đời sống vật-chất và khí hậu thì có nhiều thay đổi.

         Cây lúa có những hột bằng trái dừa thích-hợp với thổ-nghi của đời Thượng-nguơn, qua đến đời Trung-nguơn thì không còn nữa. Với khí-hậu nhiễm-trược một phần nào của Trung-nguơn, hột lúa nhỏ bé lại, mặc dầu còn tự-nhiên sanh, khỏi cần cày cấy, nhưng muốn có mà ăn phải nhọc công gặt hái, xây giã và vo nấu.

         Ông Ba Thới có viết:

Trước võ vàng ruột trắng phân ly,

Trung-nguơn khiến biến người khi tiêu điều.

         Cứ theo ông Ba Thới, sở dĩ hột lúa biến hình là vì con người Trung-nguơn tỏ ý khinh-khi hay thờ-ơ đối với nó. Về điều nầy, trong Kinh Trường A-hàm có giải-thích đại-khái rằng: ‘’Từ ngày con người lộ rõ hình hài nam-căn nữ-căn phân-biệt thì sanh lòng dâm-dục. Rồi vì quá tham đắm dục-tình nên thường lười biếng, thay vì mỗi ngày ra hái lúa thì nay hái một lần cho thật nhiều để ăn được nhiều ngày khỏi đi hái. Thành thử lúa ấy dần dần tim lụn, sanh ra nhỏ hột.

         Và cũng từ ngày con người sanh lòng dâm-dục, nhân-loại bắt đầu nẩy nở bằng thai-sanh, chứ không hoá-sanh như trước.

         Điều mà chúng ta không thể tưởng tượng được là con người sanh ra lúc bấy giờ có một thân hình quá to lớn, có thể nói là khổng-lồ đối với chúng ta.

         Bà Blavatsky nhận rằng: ‘’Bộ xương người ở thời-kỳ đó đem so sánh với thân hình người thời nay, khác nhau cũng như bộ xương của con Mégalosaure (loại kỳ-nhông dài độ 40 thước) sánh với con rắn mối ‘’.

         Đó là giống người mà các nhà khảo-cổ gọi là kình-nhân (géants). Nhưng trải qua thời-gian và các cuộc biến-thiên, hình-vóc to lớn ấy lần nhỏ thấp. Như trong sách Mạnh-tử cho biết vua Thành-Thang bề cao 9 thước, vua Văn-Vương 10 thước (độ 3 thước tây) là những nhân vật sống cách ta độ 4 ngàn năm thì đủ hiểu thân hình con người thái-cổ còn to lớn là bực nào nữa.

         Giống kình-nhân quả có thật trên lịch sử loài người, vì gần đây có nhiều nhà bác-học đã chứng-minh điều đó.

         Ông F. Biol, nhân-viên của viện nghiên-cứu Pháp cho biết rằng nơi cánh đồng Chatampéramba tục gọi Tử-trường hay Tử-địa, người ta tìm thấy bộ xương người cực kỳ to lớn mà những nhà tự-nhiên-học gọi là giống kình-nhân.

         Linh-mục Prègues, trong quyển Hỏa-diệm-sơn nhận rằng: Ở vùng núi lửa trên đảo Théra, người ta tìm thấy những sọ của giống kình-nhân chôn vùi dưới những vồ đá to, cần phải người có sức phi-thường mới xê-dịch nỗi. Tác giả cho biết đó là giống người mà Thánh-kinh gọi là Giborim (kình-nhân), Réphaim (người ma) hay Néphilim (người thối-hóa).

         Bà Blavatsky, trong quyển Nội-Giáo Bí-Truyền cũng cho biết rằng: nên để ý những bộ xương khổng-lồ cao từ 20 đến 30 bộ Anh (độ 6 đến 9 thước Tây) tìm thấy ở hòn đảo Pâques (phần đất của một thế giới đã chìm) và ở miền giáp ranh sa-mạc Gobi, vùng mà trước kia đã bị chôn vùi hằng bao thế-kỷ. Những bộ xương mà ông Cook tìm thấy ở đảo Pâques cao đến 27 bộ Anh (độ 8 thước Tây) và bề ngang chả vai độ 8 bộ Anh (độ 2 thước 4 Tây).

         Đồng thời với giống kình-nhân, xã-hội thái-cổ còn thấy xuất hiện những quái-vật (monsters) mà người thời nay gọi là những loài vật thần-thoại. Thật ra, loài vật nầy quả có thật trên lịch sử nhân-loại chớ chẳng phải là sản-phẫm tưởng-tượng. Với hoàn-cảnh và khí-hậu thích-hợp cho sự sinh nở giống kình-nhân thì đương-nhiên có sản-sinh giống quái vật.

Ông Charles Gould trong quyển Loài Quái Vật Thần-Thoại (Mythical monsters) có cho biết rằng:

         ‘’Một số lớn loài vật gọi là thần-thoại đã làm đầu-đề hằng bao thế-kỷ cho những ngụ-ngôn hay chuyện hoang-đường, vẫn chính-thức được liệt vào khoa tự-nhiên-học thực-nghiệm và có thể nhận không phải là sản-phẩm của bịa đặt lố-lăng mà trái lại được xem như giống vật có thật từ xưa, nhưng hiềm vì trải qua bức màn sa-mù dày bịt của quá-khứ, nó không được mô-tả một cách đầy đủ và xác thật…

         ‘’Đối với tôi, phần nhiều những giống vật ấy không phải là những điều bịa-đặt mà nên xem là đối-tượng của một cuộc nghiên-cứu hợp-lý. Con rồng thay vì là một con vật tưởng tượng của giống dân cổ Ấn-độ như các nhà nghiên-cứu thần-thoại đã nghĩ, vẫn là con vật có thật thuở xưa kia, từng doanh lộn trên không trung và có thể biết bay nữa.

         ‘’Đến con lân, đối với tôi, vẫn có thật…và rất dễ mà nhận rằng tất cả những chuyện kỳ-bí về con người huyền-linh hay bán huyền-linh, những kình-nhân, rồng, quái-vật đều là những vật nên xem như những loại biến thể hơn là những loại hoàn-toàn bịa đặt ‘’.

         Thật ra loài rồng, kỳ lân, phụng…không còn lạ gì đối với Nho-giáo. Trong các sách cổ đều có nói đến, hiềm vì ngày nay hoàn-cảnh và khí-hậu không thích-hợp cho sự xuất-hiện của nó, cho nên ta không thấy, chớ chẳng phải là không có thật.

         Chẳng riêng gì ở Đông-phương, cả Tây-phương cũng nhìn nhận có rồng và đã từng mục-kích nữa.

         Thi-sĩ Pétrarque của Ý, trong một tập thơ có kể lại trong một hôm ông cùng nàng Laure vào rừng có gặp một con rồng trong động đá và ông đã giết chết.

         Cha Kircher có thuật lại rằng năm 1669, ông có thấy một con rồng bị nông-dân La-mã giết. Sau đó ông Christophe Scherer, thị-trưởng quận Seleure xứ Thuỵ-sĩ, trong một bức thơ gởi cho cha Kircher, cũng nhận rằng: chính ông đã tận mắt thấy một con rồng lượn trên không trung trong một đêm hè năm 1619.

         Như thế đủ chứng minh những loài quái-vật mà ngày nay các nhà khoa-học cho là thần-thoại quả có thật ở thời-kỳ mà loài người xuất-hiện với hình thể một giống kình-nhân.

Nhưng cái thế-giới thần-tiên ấy đã chìm đắm trong màn đen của thời-gian sau những cuộc biến thiên xảy ra vì nạn động đất và Đại hồng-thuỷ. Ngày nay còn dấu vết chăng chỉ lưu lại những danh-từ Lemurie, Atlantide mà riêng có hạng người sáng tỏ mới hồi-cố được bằng trực-giác hay huệ.

         Cứ theo các nhà khảo-cổ thì trận Đại Hồng-thủy nhận chìm thời-đại hoàng-kim ấy có thể xảy ra trong khoảng từ 10 ngàn đến 20 ngàn năm trước Tây-lịch.

         Về trận Đại hồng-thủy này, trong nhiều sử sách thấy có nói đến. Như dân Chaldée đã ghi nhận thì mực nước lần ngập lụt ấy lên đến chót núi Nizir ở xứ họ. Còn dân Do-thái thì cho rằng trận Đại hồng-thủy ấy đã biến đổi biển Gobi thành bãi sa-mạc và đánh bạt những thuyền tỵ-nạn trôi tấp vào các hòn núi ở trung-tâm Á-châu là nơi, theo nhiều nhà khảo-cổ đã nhận, phát-tích nguồn-cội của nhân-loại ngày nay.

         Nhưng theo quan-niệm Bà-la-môn thì họ nhận rằng không một ai còn sống sót sau trận đại-tai ấy, chỉ trừ có một mình Manou.

         Dầu với quan-niệm nào, các tôn-giáo cũng đều nhận quả có nạn Đại hồng-thuỷ đã xảy ra, nhưng phải chăng vì thế giới cũ không còn để lại dấu vết mà Bàn-Cổ, theo quan-niệm Nho-giáo, được xem là người phân-định Trời Đất, mở đầu cho Tam-Hoàng Ngũ-Đế; và Noé, theo Thánh-kinh được xem như thỉ-tổ của loài người?

         Thật ra đó chỉ là một trận Đại hồng-thủy cũng như bao thiên-tai thuỷ-họa khác xảy ra trên lịch-trình diễn-tiến của loài người để đổi mới vạn vật, chứ không phải là một cuộc khai Thiên lập Địa như nhiều tôn-giáo đã nhận.

         Theo bà Blavatsky thì giống dân mới nầy chẳng qua là hậu-duệ của giống dân Atlantide (Ắc-lăng-tíc). Chính giống dân mới nầy đã lập thành xã-hội thượng-cổ, còn ít nhiều dấu vết lưu lại ngày nay. Mặc dầu khi mới sinh ra, không phải ai ai cũng là hạng địa-tiên như trước, nhưng con người lúc bấy giờ, vẫn còn bẩm thụ bản-tánh thuần-phác thiện-lương, sống hòa-hợp với thiên-nhiên vũ-trụ, nên xuất-hiện nhiều bậc hiền-nhơn thánh-triết, lập thành một xã-hội cực-kỳ tốt đẹp, người người đều an-cư lạc-nghiệp, chung hưởng thái-bình, cho đến của rơi không người lượm, đêm ngủ nhà không đóng cửa cũng chẳng hề có trộm cắp. Có thể nói trên lịch-sử nhân-loại, chưa có thời-kỳ nào xuất-hiện nhiều công-trình phát-minh và sáng-tạo bằng thời-kỳ nầy, dầu cho những nhà khoa-học ở thời nay tự hào văn-minh tiến-bộ cũng khó lường nổi.

         Những công-trình sáng-tác ấy đại loại như:

        

         Huyền-thông.-

         Vốn sống hòa-hiệp với lý siêu-nhiên, một số người thánh-triết ở thời thượng-cổ thấu được máy huyền-vi của vũ-trụ, biết lẽ quá-khứ vị-lai, có quyền-năng sai khiến sự vật như ý muốn mà người thời nay gọi là thôi-miên hay tự-kỷ ám-thị. Thật ra, con người một khi dứt sạch mọi điều dục-vọng, yên định thân tâm như Phật đã dạy, hay biết nuôi tánh dưỡng mạng đúng theo lẽ qui-nguyên như Đạo Lão đã nói thì đạt được những huyền-lực mà danh-từ Phật học gọi là thần-thông, còn phái tu tiên gọi là phép nhiệm. Trong mỗi con người, ai cũng sẵn có huyền-lực, nhưng hiềm vì quá trưởng-dưng dục-vọng, thành-thử nó không hiện bày ra được. Người thời nay bởi quá đắm say vật-dục, mất cả bản-năng huyền-linh, không hiểu nổi lẽ siêu-mầu của tạo-hóa nên mới cho đó là ma-thuật.

         Những việc như nõ-thần, Phù-đổng Thiên-vương ci ngựa sắt trên lịch-sử cổ Việt Nam, cũng như những việc kỳ-bí khác mà chúng ta thấy trong các truyện cổ Ai-cập, Ấn-độ, Trung-hoa…không phải là việc quái-lạ hay bịa đặt, nếu chúng ta hiểu được nền văn-minh của xã-hội thượng-cổ. Ngày nay lấy tinh-thần khoa-học dựa trên những tiến-bộ vật-chất để phê-bình nền văn-minh tinh-thần của cổ thời, thật là một việc làm hết sức nông nổi, nếu không nói là ngây-ngô, vì đã lấy sự hiểu biết nhỏ hẹp của con người ở thời-kỳ hạ-đẳng để phê-bình xã-hội thời thượng-đẳng.

         Chỉ cần rõ lịch trình diễn-tiến của Tam-nguơn mới có cái nhìn tổng-quát và như thế mới không lầm lạc như người mù rờ voi.

         Bà Balvatsky rất mỉa mai khi nói:‘’Với quan-điểm mà hiện nay chúng ta đang đứng, những giác-quan bình-thường của chúng ta đã trở thành bất-thường ở thời-kỳ thối-hóa và rơi lần xuống vật-chất. Có một thuở, có những điều mà chúng ta ngày nay cho là khác thường, những điều đã đánh lạc hướng các nhà vật-lý-học như thần-giao cảm-cách, sự sáng tỏ v.v… nói tóm lại những điều mà ngày nay chúng ta gọi là ‘’kỳ-bí và dị-thường ‘’, thì hồi thời xưa chỉ là những việc thuộc về khả-năng và giác-quan thông thường của toàn thể nhân-loại. Vả chăng, giai-đoạn mà chúng ta đang trải qua là giai-đoạn đang làm cho ta vừa hạ thấp vừa tiến tới, nói thế có nghĩa là sau khi mất bản-tánh huyền-linh thì chúng ta phát-triển về phương-diện vật-chất.’’

        

         Văn-tự.-

         Ngoài huyền-thông, văn-tự cũng là một công-trình sáng-tạo của người thượng-cổ. Không còn cảm-thông nhau bằng tư-tưởng như hạng người huyền-linh thuở trước, các bực thánh-hiền lúc bấy giờ, để ghi chép những điều sáng tỏ hồi-ức được của người xưa, bèn sáng chế ra văn-tự.

         Có nhiều thuyết cho rằng văn-tự xuất-hiện độ 1.500 năm trước Tây-lịch, nhưng theo các nhà khảo-cổ thì độ năm ngàn năm trước kỷ-nguyên đã có văn-tự rồi. Như trong bài tựa sách Thượng Thư có câu: ‘’Cổ giả Phục-Hy thị chi vương thiên-hạ dã, thỉ họa bát-quái, tạo thư khế dĩ dại kết thắng chỉ chánh. Do thị văn tích sanh yêu.’’ (Thời xưa, họ Phục-Hy làm vua thiên-hạ là người trước nhất vạch ra bát-quái, ghi chép văn-thơ để thay thế chánh-sách thắt- gút. Do đó, văn-tự sách vở ra đời vậy).

         Phục-Hy ra đời vào khoảng 4477-4363 trước Tây-lịch. Như thế, văn-tự đã xuất-hiện trên nền văn-minh Trung-hoa độ năm ngàn năm trước kỷ-nguyên.

         Với sự phát-minh văn-tự, những lời thánh-triết được ghi chép thành kinh-điển mà con người khoa-học ngày nay, ‘’dầu ai thông-minh đến bực nào cũng không hiểu nổi ‘’. Chẳng hạn như Kinh Dịch của Trung-hoa, kinh Phệ-đà của Ấn-độ, kinh Enoch, kinh Job của các dân-tộc ở Trung-Đông…vẫn là kinh-điển kỳ-bí đối với người thời nay.

         Xem đó đủ thấy trình-độ tiến-hóa tư-tưởng của người thời xưa thật là phát-triển cao độ, không như nhiều người hoa mắt trước những phát-minh vật-chất, dựa vào các giống dân hạ-đẳng còn sót lại ở Phi-châu để đoán định sai lầm rằng tư-tưởng-hệ của người thượng-cổ còn ở trình-độ ấu-trỉ.

         Thật là một sự ngộ-nhận rất lớn. Đối với những bậc sáng tỏ thấu hiểu môn bí-truyền của thánh-nhân thì ai cũng nhận thấy xã-hội loài người về mặt tinh-thần, hiện nay đang xuống dốc. Bằng chứng là những công-trình sáng-tạo trước đây một trăm thế-kỷ, ngày nay dù khoa-học tiến-bộ, cũng chưa tìm thấy phát-minh nào khả dĩ so sánh hơn được, nhất là về phương-diện thiên-văn.

        

         Thiên-văn.-

         Có thể nói các dân Chaldée, Ấn-độ, Trung-hoa là những dân-tộc đứng đầu về thiên-văn-học, đã khám-phá ra luật tuần-hoàn của vũ-trụ, luật vận-hành của tinh-tú, tính toán mùa, tiết, tháng, ngày, nhật-thực, nguyệt-thực, nhất nhất không hề sai chạy. Như Thập-nhị thiên-cung (Zodiaque) đã được khám-phá từ thời thượng-cổ, có lẽ vào khoảng 6.500 năm trước Thiên-chúa giáng-sinh, như Newton đã nói.

         Ở vào thời-đại chưa có khí-cụ tinh-xảo về thiên-văn như ngày nay mà đo-lường được cuộc vận-hành của tinh-tú và ước định được mùa tiết, thật là một việc đáng gọi phi-thường. Nhưng đó cũng chưa phải phi-thường, đáng thán-phục bằng việc các nhà thiên-văn-học cổ-thời đã đạt được huyền-cơ của tạo-hóa mà thiên-văn-học ngày nay đành khuất-phục.

         Cứ theo Sénèque thì Bérose đã học được phép tiên-đoán các biến-cố về thiên-tai thủy-hoạ xảy ra bằng cách toán Thập-nhị thiên-cung.

         Lối toán quẻ Dịch và sự biến-đổi âm dương để biết trước việc kiết hung hay phương-pháp chiêm-tinh để đoán định vận-mạng của một cá-nhân, một quốc-gia đã cho ta thấy thiên-văn-học thời xưa cao viễn hơn thiên-văn-học thời nay là bực nào.

         Cái kho-tàng quí báu của thiên-văn-học cổ thời còn lưu tr trong nhiều kinh sách của Chaldée, Ấn-độ, Trung-hoa, nhưng tiếc vì người thời nay đã để mất chiếc chìa khóa, nên chưa khám-phá được. Có đạt bí-quyết chăng, chỉ có hạng người sáng tỏ.

 

         Kiến-trúc.-

         Chẳng những có kỳ tài về thiên-văn-học, người thượng-cổ còn tỏ ra phi-thường về công-trình kiến-trúc. Ngoài những đền đài đồi-phế, tạo phẫm hư hoại vì biến-thiên mà ngày nay còn tìm thấy dấu vết trong những cuộc khai-quật của các nhà khảo-cổ, kim-tự-tháp là một công-trình kiến-trúc có thể gọi là kỳ-quan thế-giới. Các nhà kiến-trúc đại tài ngày nay khi quan-sát cũng phải thán-phục và tỏ ra ngạc-nhiên không hiểu người thượng-cổ làm cách nào xây dựng một công-trình to tác như thế, trong lúc nhân-loại chưa có máy-móc tinh-xảo, vì phần nhiều những kim-tự-tháp ấy dựng cao đến 500 bộ Anh, độ 250 thước Tây.

         Công-trình kiến-trúc này, theo các nhà kiến-trúc đoán định, phải cần dùng độ 100 ngàn công-nhân làm việc trong 20 năm. Họ lấy đất phía bên kia sông Nil, từ trong sa-mạc xa xôi. Công-phu nhất là việc chuyên chở khối vật-liệu ấy sang sông, nhưng điều đó cũng chưa làm cho nhà khảo-cổ thán-phục bằng việc xây một cái hành-lang nhỏ hẹp đi vào ruột mà không sụp đổ dưới sức nặng của khối đá kia.

         Một điều mà các nhà khảo-cổ lấy làm ngạc-nhiên hơn nữa là trong kim-tự-tháp Chéops, người thượng-cổ có để lại những bi-ký tiên-tri các việc vị-lai mà ngày nay kiểm điểm lại thấy không hề sai chạy.

         Ngoài những công trình sáng-tạo vừa kể, còn những thuật luyện kim, ướp xác chết, cách chế hồ…cũng là những việc mà khoa-học ngày nay chưa nghiên-cứu ra.

         Nói tóm lại, thời-kỳ Trung-nguơn là thời-kỳ đánh dấu trên lịch-sử nhân-loại, một giai-đoạn mà con người có một nền văn-minh rực-rỡ nhất về phương-diện tinh-thần.

Thời kỳ nầy bắt đầu từ khi loài người có đầy-đủ thân hình xác-thịt (formes corporelles), với thọ mạng trên một ngàn tuổi, kéo dài cho đến đời Nghiêu Thuấn khi loài người sống trung-bình độ 120 tuổi, lấy tuổi thọ vua Nghiêu làm giới-hạn.

         Như vậy thời-kỳ Trung-nguơn có thể nói là khoảng thời-gian con người sống từ một ngàn tuổi giảm xuống lần cho đến khi còn độ 150 tuổi.

         Ông Noé sống 930 tuổi, ông Bàn-Cổ sống 700 tuổi quả là người Trung-nguơn, chớ không phải người sanh vào thời-kỳ tạo Thiên lập Địa như Thánh-kinh hay sử-sách Trung-hoa đã nhận.

         Trong lịch-sử Việt Nam, về đời Hồng-Bàng, ông Trần-Trọng-Kim có viết: ‘’Xét từ đời Kinh-Dương-Vương đế đời Hùng-Vương thứ 18 cả thảy là 20 ông vua mà tính từ năm Nhâm-Tuất (2579) đến năm Qúi Mão (258) trước Tây-lịch thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, một ông vua trị-vì được 150 năm. Dầu là người Thượng-cổ nữa thì cũng khó lòng mà có nhiều người sống lâu được như vậy. Xem thế thì đủ biết chuyện đời Hồng-Bàng không chắc là chuyện xác-thực ‘’.

         Sở dĩ ông Trần-Trọng-Kim còn hoài-nghi về tuổi thọ của các vua Hùng-Vương, chẳng qua vì không đặt lịch-sử vào giai đoạn của nó.

         Đời Hồng-Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây-lịch nghĩa là trước vua Nghiêu trên 500 năm. Vua Nghiêu sống 118 tuổI thì trước đó 500 năm hẵn con người phải sống lâu hơn, hiểu theo luật diễn-tiến chiều giảm của lý Tam-nguơn.

         Như vậy đủ thấy, cứ lấy tinh-thần của người thời nay, mỗi mỗi căn-cứ theo khoa-học để hiểu đời sống cùng tâm-trạng của người thời xưa thì không sao đúng được.

         Những điều ghi chép về lịch-sử thời cổ mà ngày nay khoa-học cho là hoang-đường vẫn là việc có thật. Tại vì chúng ta lấy bộ óc máy móc để nghiên-cứu hay quan-sát nên không nhận rõ giá-trị thực-tế của nó. Phải có tâm-hồn của người xưa tưức là tâm-hồn của người học Đạo, mở tâm-linh, mới hiểu nổi người xưa mà thôi.

Comments