2. THIÊN HAI: ĐỜI THƯỢNG-NGUƠN

                                                THIÊN HAI

                                          ĐỜI THƯỢNG-NGUƠN

 

         Thượng-nguơn là khởi đầu của cuộc tuần-hoàn Tam-nguơn, cũng như mùa Xuân là khởi đầu của cuộc tuần-hoàn tứ quí.

         Cũng như mùa Xuân là mùa cỏ cây phục-sinh, vạn vật đổi mới, Thượng-nguơn là nguơn tái-tạo, nhưng có điều khác biệt là cuộc tuần-hoàn của tứ quí diễn-tiến một cách êm đềm, còn cuộc tuần-hoàn của Tam-nguơn thì diễn-tiến một cách đột biến. Cứ mỗi độ từ thời-kỳ nầy bước sang thời-kỳ khác, thứ nhứt là khi chấm dứt thời-kỳ Hạ-nguơn để bước sang thời-kỳ Thượng-nguơn của một cuộc tuần-hoàn mới thường có những tai-biến xảy ra làm sụp đổ hay phá hoại thế-giới cũ.

         Theo ông Frenzold Schmidt thì trong 70.000 năm trở lại đây đã có bốn đại tai đã xảy ra: lần cơ-cẫn xảy ra khắp mặt địa-cầu 70.000 năm trước Tây-lịch, lần sụp đổ Tháp Babel, 50.000 năm; lần thiên-hỏa 35.000 năm; lần Đại hồng-thủy 20.000 năm trước kỷ-nguyên.

         Chỉ trong vòng 700 thế-kỷ mà có đến bốn lần đại tai thì từ Kiếp Sơ cho đến nay, hằng trăm triệu năm, quả địa-cầu hn đã trải qua chẳng biết bao nhiêu lần tai biến và đổi mới vạn vật.

         Chính vì có sự đổi mới ấy mà đời Thượng-nguơn được gọi là nguơn tái-tạo hay nguơn khai Thiên lập Địa.

         Nếu kể Thượng-nguơn là bắt đầu từ khởi thỉ, nghĩa là từ ngày tạo-lập thế-giới thì Kinh Trường A-hàm có cho ta biết đại-khái như vầy:

         Khi thế-giới sắp bước đến thời-kỳ Kiếp Hoại thì có xảy ra Đại tam-tai. Trước hết là hỏa-tai nổi lên đốt cháy cõi trời Sơ-thiền. Cứ bảy lần hỏa-tai thì có một lần thuỷ-tai làm ngập hư đến cõi Trời Nhị-thiền. Lại hễ có bảy lần thủy-tai thì có một lần phong-tai nổi lên làm hư đến cõi trời Tam-thiền.

         Kể ra có năm mươi sáu lần Đại hoả-tai làm hại cõi trời Sơ-thiền, bảy lần Đại thủy-tai phá sụp cõi trời Nhị-thiền và một lần Đại phong-tai làm hư nát đến cõi trời Tam-thiền.

         Các Đại tai ấy xảy ra suốt 20 tiểu kiếp của Kiếp Hoại. Sau khi thế-giới bị phá vở, giữa hư-không chỉ còn một cõi mờ mờ mịt mịt đầy những vi-trần mà khoa-học gọi là tinh-vân (Nébuleuse), còn Nho-giáo thì gọi là Càn-khôn hỗn-độn. Đó là thời-kỳ của Kiếp Không. Thời-kỳ nầy kéo dài trong 20 tiểu kiếp.

         Sau Kiếp Không là đến Kiếp Thành. Ở giữa cõi trống không kia, có trận Phong-luân nổi lên thổi các vi-trần ấy gom lại, nhào trộn lẫn nhau làm thành một khối. Hiệp với Thuỷ-luân, trận gió ấy thổi thành một quầng Ma-ni Hỏa-luân, hun-đúc rèn luyện khối vi-trần ấy ngày thêm cứng rắn, cho đến khi thành một Địa-luân thì lửa Ma-ni kia mới diệt.

         Gió thổi, nước xao, trộn lộn như thế trong suốt 20 tiểu kiếp, mới đến kiếp Trụ. Chính trong thời-kỳ nầy, Nho giáo chủ-trương: Thái-cực sanh Lưỡng-nghi, Lưỡng-nghi sanh Tứ-tượng...

         Bây giờ thế-giới đã thành nhưng chưa có loài người, vì Tam tai của Kiếp Hoại đã tiêu-diệt hết từ cõi Trung-giới (Nhị-thiền) xuống cho đến tận cõi Địa-ngục.

         Khi mới thành-lập, mặt đất sanh ra một chất địa-vị, mùi rất ngon ngọt, phóng ra ánh sáng chiếu lên thấu tận Trung-giới. Những thiên-nhơn ở các cõi trời Sắc-giới, khi hưởng tận phước-báo phải lìa bỏ cõi Phạm-thiên, thấy ánh-sáng của trái đất thì cùng nhau kéo xuống xem cho biết. Gặp chất địa-vị, họ nếm thử thấy thơm ngon thì mê thích. Từ đó thân-thể của họ, vì ăn nhiều địa-vị, nên trở nên nặng nề. Do đó họ mất cả thần-túc thông, không còn trở lại cõi trời được nữa.

         Nguồn gốc của loài người là bắt đầu từ đó.

                                                      HOÀN CẢNH

         Như đã biết, Thượng-nguơn là nguơn tái-tạo, nghĩa là nguơn tạo lập hay đổi mới vạn vật, sau một cơn sụp đổ hay phá hoại thế-giới. Bao nhiêu trược khí, uế-vật đều bị các thiên-tai tẩy sạch, bây giờ quả địa-cầu đã hoàn-toàn trở nên tinh-khiết, cũng như lu nước sau khi súc sạch được đổ vào một lớp nước trong.

         Trên mặt đất, thứ gì cũng đổi mới cả, từ đất nước cho đến khí trời, mỗi mỗi đều trong sạch, tinh-vi chưa có một chất bợn-nhơ ô-uế nào.

         Bao bọc bởi một lớp khí tiên-thiên, một hoàn-cảnh thanh-tân như thế, vật gì sanh ra cũng đều nhẹ-nhàng xinh đẹp. Khí hậu mát-mẻ, không nóng không lạnh, hàm-dưỡng một sinh-lực dồi-dào thích-hợp cho sự phát-triển của vạn vật và năng-khiếu của con người.

         Như hồi mới tạo lập, mặt đất sinh ra chất địa-vị rất ngon thơm. Con người lấy đó mà ăn khỏi cần làm lụng. Chất địa-vị dần dần giảm thiểu thì mặt đất sanh ra chất địa-phu cũng thơm ngon như chất địa-vị. Khi chất địa-phu hết thì mặt đất lại sanh ra chất địa-bì. Đến khi địa-bì hết, đất lại sản-xuất một thứ nho, trái sanh đôi, vị ngon ngọt lạ thường. Và khi nho trở nên ít thì sanh ra gạo nếp, mùi vị chẳng những thơm ngon mà ăn vào lại mau tiêu-hóa.

         Thứ gạo nếp nầy tự-nhiên sanh ra, cứ chiều hái lấy ăn, khỏi cần xây giã, vo nấu thì sớm mai hôm sau nó lại sanh ra trái khác.

         Và theo ông Ba Thới, trong Kim Cổ Kỳ Quan thì:

Hột lúa trời đỏ ruột điểm khuyên,

Trái dừa nhắm sức của tiên cho mình.

         Nhưng hột lúa bằng trái dừa ấy dần dần biến hình cho đến thời Trung-nguơn thì trở nên nhỏ bé, phải thất công cày cấy, xây giã, vo nấu mới ăn được.

         Trong suốt thời-kỳ Thượng-nguơn, ngoài những vật thực tự-nhiên sanh ra như: địa-vị, địa-phu, địa-bì, nho, gạo nếp để nuôi sống con người thì mặt đất không còn sanh ra vật chi khác nữa. Các loài vật hay thảo-mộc chưa cần-thiết cho đời sống loài người nên chưa vội sinh ra. Những gò nỗng, hầm hố hay mọi vật trở ngại khác, chắc cũng chưa có trên mặt đất.

                                                       CON NGƯỜI

         Sống trong hoàn-cảnh cực-kỳ tinh-khiết, tự-nhiên thân-thể con người Thượng-nguơn rất mực khinh-thanh, khôi-ngô tuấn-tú, cao lớn dị-thường.

         Vốn từ cõi Phạm-thiên chuyển đến, con người lúc bấy giờ chưa có tình-dục, đều do hóa-sanh mà ra đời, cho nên thân hình thanh-khiết, có ánh-sáng chói ngời. Nhưng từ ngày ăn phải chất địa-vị thì thân-thể mới nặng-nề. Đến khi ăn địa-phu và địa-bì, trong mình nảy nở ra máu thịt thì hình-thức thô-trược hiện ra, rồi mất dần ánh-sáng.

         Bây giờ, mặt Trời, mặt Trăng xuất-hiện để phân ra ngày đêm. Ảnh hưởng của Nhật Nguyệt làm nảy sanh ra giống nho và gạo nếp. Từ ngày con người ăn ăn thứ gạo nếp thì xác thịt dần dần sanh ra bộ tiêu-hóa để chứa đựng cặn-bã. Và để tống những cặn-bã ấy ra, các đường tiểu-tiện và đại-tiện phát-sinh. Đồng thời nam-căn và nữ-căn xuất hiện để phân biệt trai gái. Đến đây con người đã lộ rõ hình hài nên sanh lòng dâm-dục. Và từ đó, con người không còn hóa-sanh mà ra đời bằng thai-sanh.

         Mặc dầu thay hình đổi dạng không còn nhẹ nhàng như trước, nhưng con người Thượng-nguơn vẫn còn giữ được bản-tính huyền-linh của người Trung-giới.

         Trong con người của họ chứa đựng đủ sự nhiệm-mầu của vũ-trụ, vì họ còn sống hòa-hợp với lý siêu-nhiên. Họ biết được quá-khứ, vị-lai, thông-cảm với các đấng siêu-hình. Mặc dầu mất thần-túc-thông không còn trở lại cõi Phạm-thiên, họ còn có thể đằng vân, hô phong hoán vũ, dùng thần-lực sai khiến sự vật theo ý muốn.

         Nguyên cái tính thanh-tỉnh của người Phạm-thiên còn di lại trong tâm-thức, con người Thượng-nguơn sống thuần về tưởng và thông-cảm nhau bằng tư-tưởng hơn lời nói. Lúc bấy giờ văn-tự chưa xuất-hiện vì văn-tự đối với họ không cần-thiết. Ký-ức của họ rất linh-mẫn, chẳng những có thể hồi-cố mọi việc mà còn giúp họ giao-tình khoái-cảm nhau. Như trong kinh điển cho biết con người ở cõi trời Hoá-lạc hành dâm bằng cách liếc nhau. Chỉ lấy mắt đưa tình là đủ khoái-cảm cũng bằng con người ở cõi phàm hành-lạc.

         Từ thời Thượng-nguơn-thượng, con người hành-dâm bằng cách ấy cho đến thời Thượng-nguơn-hạ khi các tướng nam-căn, nữ-căn lộ ra mới hành-lạc như kẻ phàm-tục.

         Về con người huyền-linh, ông Creuser có viết:‘’Những đứa con của cõi Trời và cõi Đất ấy, ngay khi mới sanh, do những quyền-năng tối-thượng và do bản-tính của mình, có những năng-khiếu kỳ-quái về tinh-thần cũng như về thể-xác. Họ điều-khiển ngũ hành, biết các bí-quyết của Trời Đất, của Biển-cả và Thế-gian, đọc được vị-lai trong các vì tinh-tú…Khi nói đến những gì quan-hệ đến họ, không nên hiểu họ như những con người cùng một loại với chúng ta mà là những thần-trí từ trong tự-nhiên sanh ra, có quyền-lực về tự-nhiên…Những con người ấy đều chứa đựng nơi họ, bản-tánh của pháp-luật và phù-thuỷ ‘’. (Dẫn theo Blavatsky: La Doctrine Secrète, Tome III, trang 357)

         Sanh trong hoàn-cảnh tinh-khiết, với lại sẵn có cái tâm thanh-tỉnh, người đời Thượng-nguơn sống một đời rất an-nhiên tự-tại. Thọ mạng của họ dài lâu không thua gì người ở các cõi trời. Như người ở Kiếp-Sơ sống đến 84.000 tuổi, cũng đồng tuổi thọ của người ở cõi Thượng-giới. Chính nhờ hai yếu tố: hoàn-cảnh và tâm-thức mà người Thượng-nguơn sống lâu như thế.

         Trước hết hấp thụ lấy khí tiên thiên, thân-thể của họ rất tráng-kiện, không có tật bịnh hay ốm đau. Đó là yếu tố hoàn-cảnh. Nhưng ngoài yếu-tố hoàn-cảnh còn có yếu-tố tâm-thức, có thể xem là yếu-tố quan-trọng nhất về quan-niệm thời-gian.

         Thời-gian sở dĩ có là do tâm-thức. Nó chỉ là một ảo-ảnh phát-hiện ra do sự nhận-thức của tâm-trạng con người. Nếu không có sự nhận-thức thì không có thời-gian, vì trong trường-hợp nầy, thời-gian chỉ là một sự im-lìm, một sự ngừng nghỉ hoàn-toàn giữa không-gian. Chỉ vì ý-thức con người có phân biệt mà thành ra có quá-khứ, hiện-tại và vị-lai. Thời gian diễn ra mau hay chậm đều do ở cảm-giác của tâm-thức.

         Cũng đồng một khoảng thì-giờ mà đối với kẻ ngồi chờ sẽ thấy lâu-lắc hơn đối với người bận việc. Cứ xem đó đủ thấy thời-gian chẳng qua là một sự nhận-định của tâm-thức.

         Tâm-thức của người Thượng-nguơn vốn thanh-tịnh, là do kết-quả công-phu thiền-định từ bao nhiêu kiếp trước. Với cái tâm thiền-định thì mọi vật bên ngoài đều ngưng đọng. Cái quan-niệm về thời-gian cũng tuỳ theo đó mà thay đổi. Con người Thượng-nguơn sống lâu, chính vì họ dùng cái tâm thiền-định ấy để cảm-giác về thời-gian vậy.

         Có đọc chuyện Từ-Thức đi lạc vào động Tiên mới thấy quan-niệm sai-biệt về thời-gian giữa cõi Tiên với cõi tục. Chỉ lạc vào cõi Tiên có một ngày một đêm mà khi trờ về cõi tục, Từ-Thức đã thấy mình sống xa nhân-gian trên một thế-kỷ.

         Trong Kinh Phật cũng cho thấy sự sai biệt thời-gian và tuổi thọ giữa Hạ-giới với các cõi ở Thượng-giới.

         Như ở cõi Trời Tứ-Thiên-vương, tuổi thọ trung-bình là 500 tuổi, lấy dưới nhân-gian 50 năm làm một ngày một đêm.

         Ở cõi Trời Đao-lợi, tuổi thọ trung-bình là 1.000 tuổi, lấy 100 năm ở dưới nhân-gian làm một ngày và một đêm. Và càng lên các cõi trên chừng nào thì tuổi thọ càng tăng thêm chừng nấy và tỷ-lệ tính một ngày một đêm ở cõi trời đối với thời-gian ở cõi trần cũng tăng lên gắp bội.

         Từ trên một vạn tuổi ở thời Thượng-nguơn-thượng, con người càng tiến xuống chừng nào thì càng giảm kỷ chừng nấy. Cho đến cuối thời Thượng-nguơn-hạ thì tuổi trung-bình của con người chỉ còn độ một ngàn mà thôi.

         Sở dĩ con người càng ngày càng giảm thọ là vì hoàn-cảnh thuần-khiết ở buổi sơ khai, càng ngày càng trở nên ô trược, cũng như vì tâm-thức thanh-tỉnh của con người Thượng-nguơn-thượng dần dần trước-nhiễm vật-dục mà càng ngày càng trở nên điên-đảo.

         Đồng chịu ảnh-hưởng của sự giảm thọ, thân-thể mạnh khoẻ to lớn của con người Thượng-nguơn càng tiến xuống Trung-nguơn thì càng thấp nhỏ lại.

         Ta cứ quan-sát bất cứ loài cây nào sẽ thấy, khi mới lớn lên, trái nó bao giờ cũng lớn, nhưng theo thời-gian dần dần nhỏ đi cho đến ngày già cỗi.

                                                         

Comments