1. THIÊN NHẤT: LÝ TAM-NGUƠN

                 

                                                  THIÊN NHẤT 
                                                 TAM-NGUƠN

         Đông-Nhạc Thánh-đế đã nói rằng:“Thiên địa tuần hoàn, châu nhi phục thỉ ”. Trời đất xoay vần, giáp vòng trở lại chỗ ban đầu.

         Đó là luật tuần-hoàn của vũ-trụ vạn-hữu. Như Xuân tàn thì Hạ đến, Hạ mãn thì Thu sang, Thu qua thì Đông lại; rồi một khi Đông mãn thì trở lại Xuân, cứ xoay vần như thế mãi.

        Trong Luận-ngữ có nói rằng: “Thiên hà ngôn lai, tứ thời hành yên, vạn vật sanh yên’’. Trời nói gì đâu, mà bốn mùa thường vận hành vậy, muôn vật vẫn sanh dục vậy; cũng đồng nhận cái luật tuần-hoàn của vũ-trụ. Cái luật này vận-hành tự-nhiên, không có một quyền-lực nào cản trở được.

         Con người cũng như vạn vật không sao cưỡng lại sự chi-phối của luật xoay vần ấy.

        Như hột lúa đem gieo, mọc lên cây mạ. Cây mạ lớn lên thành cây lúa; cây lúa đơm bông kết hột, rồi thì tàn tạ, di lại một số hột. Hột ấy đem gieo, đủ điều-kiện nhân-duyên sẽ thành cây lúa và cây lúa sẽ đơm bông kết hột, y như hột lúa lúc ban đầu.

         Đến loài vật như gà vịt chẳng hạn, từ trong trứng nở ra, lần lần lớn lên, rồi thì đẻ ra trứng. Trứng ấy đem ấp sẽ sẽ sanh ra gà con, vịt con, và cứ như thế cái vòng sanh diệt tiếp nối không bao giờ dứt.

         Con người cũng vậy, từ thế-hệ này sang thế-hệ khác, vẫn ở trong cái luật tuần-hoàn của sanh, lão và tử.

         Xét rộng ra đến thế-giới, ta cũng thấy không ngoài cái vòng: Thành, Trụ, Hoại, Không, như các kinh Phật đã nhận.

         Nói tóm lại, tất cả sự vật trong vũ-trụ vạn-hữu đều ở trong vòng cái luật xoay vần của ba thời-kỳ sanh, trưởng và diệt. Tuy Đức Phật chia làm bốn thời-kỳ, nhưng đáng kể chỉ có ba thời-kỳ: Thành, Trụ và Hoại mà thôi, vì thời-kỳ ‘’Không’’ thuộc về vô-hình, cũng như thời-kỳ sau khi con người chết hoàn toàn thuộc về thần-thức, đều ở ngoài vòng tác-động của luật sanh diệt.

         Sự phân định thời-gian sanh diệt của sự vật làm ba thời-kỳ đã được thuyết-minh trong nhiều kinh sách.

         Như về Đạo Phật, các kinh điển đã phân-định từ lúc Đức Phật còn trụ thế thuyết-pháp cho đến ngày Phật-pháp biến hoại làm ba thời-kỳ là: Chánh-pháp, Tượng-pháp và Mạt-pháp.

        Cũng như Đạo Phật, cuộc đời hay cuộc diễn-tiến nhân-loại phân làm ba nguơn là: Thượng nguơn, Trung-nguơn và Hạ-nguơn.

         Có thể nói Đức Phật-Thầy Tây-An là người đầu tiên thức-tỉnh người đời về lý Tam-nguơn để báo tin rằng thời-kỳ Hạ-nguơn đã cận, như hai câu thơ:

    Hạ-nguơn đã cận người ôi !

Nay Ta giáng bút để thôi coi đời.

         Sau Đức Phật-Thầy còn có nhiều bậc giác-ngộ trong giáo-hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương cũng không dứt nhắc nhở đến lý Tam-nguơn trong thi văn hay Sám giảng.

         Ông Sư-Vãi Bán-Khoai trong Sấm Giảng Người Đời có viết:

             Hạ-nguơn nay đã hết rồi,

Minh-hoàng cầu Phật lập đời Thượng-nguơn.

         Nhứt là Đức Huỳnh Giáo-Chủ, những danh từ Thượng-nguơn, Hạ-nguơn được Ngài đề-cập rất nhiều trong Sám-giảng của Ngài như:

          Hạ-nguơn nay đã hết đời,

Phong ba biến chuyển đổi dời gia-cang.

Hay là:

       Làm sao rõ mặt râu mày,

Thượng-nguơn hồi phục là ngày an-cư.

         Ngoài giáo-hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương, mấy mươi năm trở lại đây, Cao-đài-giáo ra đời, cũng nhận “Đạo có ba nguơn’’ là Thượng-nguơn, Trung-nguơn và Hạ-nguơn.

         Trong quyển Đại-thừa Chơn-giáo, lý Tam-nguơn được giải rõ hơn đâu hết.

          “Đạo có ba nguơn; ba nguơn ấy là cái số cuối cùng của Trời, Đất. Trước hết mở đầu là Thượng-nguơn. Thượng-nguơn đây là “nguơn tạo-hóa” là nguơn gầy dựng cả Càn-khôn Võ-trụ. Vậy khi mới tạo Thiên lập Địa, nhân-loại sanh ra thì tánh-chất con người rất đổi hồn-hồn ngạc-ngạc, còn đang thuần-phác thiện-lương, nên chỉ thuận-tùng Thiên-lý mà hoà-hiệp dưới trên, tương thân tương ái. Thời-kỳ ấy người người đồng hấp-thụ khí thiên-tiên, nên hằng cộng hưởng thanh-nhàn khoái-lạc mà vui say mùi Đạo tháng ngày. Bởi đó đời Thượng-cổ mới có danh là Thượng-Đức, mà Thượng-nguơn ấy cũng kêu là nguơn Thánh-Đức nữa.

         ‘’Kế đó bước qua Trung-nguơn thì nhân tâm bất nhất, tập quán theo thói đời, thâm nhiễm những nết xấu mới làm cho xa mất điểm thiện-lương bèn cậy sức mình mà hiếp bức lấy nhau, chém giết lẫn nhau, không còn kể đồng-loại, đồng-chủng đã lợt tình đồng-nghĩa, đồng-bào. Bởi đó đời Trung-cổ mới có danh là đời Thượng-Lực mà Trung-nguơn ấy cũng kêu là nguơn ‘’Tranh Đấu ‘’ nữa.

         ‘’Tiếp đến Hạ-nguơn, sự tranh-đấu càng ngày càng ráo riết, dữ tợn, gớm ghê thì nhân-loại lại chê sức mạnh mà dùng não cân, nên mới bày ra chước quỹ mưu tà, kế sâu bẫy độc thiệt là khốc-liệt phi-thường. Song đó là cũng lẽ tự-nhiên, càng tranh-đấu mới càng tấn-hóa. Ngặt càng tranh-đấu lắm lại càng ác-liệt lắm nên tranh-đấu phải đến ngay thời-kỳ tiêu-diệt. Bởi đó đời hiện tại là đời Mạt-Kiếp, còn Hạ-nguơn này là nguơn ‘’ Điêu-Tàn’’.

         ‘’Nhưng hễ hết loạn là tới trị, vong tất phục-hưng, nên nguơn tiêu-diệt tức sẽ bước đến nguơn bảo-tồn là nguơn Đạo-Đức phục-hưng, để sắp lại như đời Thượng-cổ, thế nên gọi là nguơn ‘’Tái Tạo ‘’.

         ‘’Vậy nhân-loại bước qua thời-kỳ này là thời-kỳ qui nhứt-thống, đại luân-hồi của Thiên Địa đó ‘’.

         Cùng xiễn-minh cái lý Tam-nguơn ấy ông Thiệu-Khang-Tiết trong quyển Hoàng-Cực Kinh-Thế cũng nhận rằng: ‘’mỗi nguơn là 129.000 năm, có 12 hội, mỗi hội có 10.800 năm, có 30 vận; mỗi một vận có 360 năm, có 12 thế; mỗi một thế là 30 năm. Vậy mỗi nguơn có cả thảy 12 hội, 360 vận, 4320 thế ‘’ (theo Trần Trọng Kim, Nho giáo, quyển hạ, trang 110, in lần thứ tư, do Tân-Việt xuất-bản.)

         Với hai đoạn văn vừa dẫn chứng ta có được cái khái-niệm tổng-quát về lý Tam-nguơn.

         Đời có ba nguơn: Thượng, Trung và Hạ cũng như năm có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông tuần-hoàn không bao giờ dứt. Hễ hết thời-kỳ Thượng-nguơn thì bước sang thời-kỳ Trung-nguơn, hết thời-kỳ Trung-nguơn thì đến thời-kỳ Hạ-nguơn. Nhưng khi Hạ-nguơn chấm dứt thì bắt đầu trở lại thời-kỳ Thượng-nguơn như trước, và cứ như thế xoay vần mãi mãi.

        Như Đại-thừa Chơn-giáo đã cho biết thì cuộc đời tốt đẹp phát-khởi từ thời Thượng-nguơn cứ mỗi độ đi dần xuống là giảm hạ đi một bậc, cho đến cuối thời Hạ-nguơn thì cực kỳ xấu xa hung ác để chấm dứt một lịch-trình diễn-tiến. Rồi thì một lịch-trình diễn-tiến khác lại mở ra, cũng phát-khởi từ Thượng-nguơn để chấm dứt ở Hạ-nguơn.

         Có thể ước lượng được thời-gian của một lịch-trình diễn-tiến Tam-nguơn là bao lâu chăng? Về vấn-đề nầy Đại-thừa Chơn-giáo có viết:

         ‘’Ngày nay đã dùng số nhất định của Tao Doan (?), đã tới nguơn cuối cùng của Thiên Địa, vì tính ra thì đã mười hai vạn chin ngàn sáu trăm (129.600), nên đã tới thời-kỳ tạo Thiên lập Địa một lần nữa.’’

         Đoạn nầy cho ta thấy rằng: cứ mỗi cuộc tuần-hoàn của Tam-nguơn là một lần tạo Thiên lập Địa và thời hạn của một diễn-tiến là 129.600 năm.

         Nếu mỗi lần tạo lập đời Thượng-nguơn là một lần tạo Thiên lập Địa và lịch-trình diễn-tiến của nó là 129.600 năm thì con số nầy không phù-hạp với số năm của một Đại-kiếp theo quan-niệm của nhà Phật.

         Theo kinh-điển, một Đại-kiếp có 4 Trung-kiếp là: Thành, Trụ, Hoại, Không tức là lịch-trình diễn-tiến của một cuộc tạo-lập thế-giới. Thời-hạn của một Trung-kiếp là 320.000.000 năm; thế thì thời hạn của một Đại-kiếp gồm có 4 Trung-kiếp là 1.280.000.000 năm.

         Con số 129.600 có lẽ là thời-gian của một lịch-trình diễn-tiến Tam-nguơn thì đúng hơn là thời-gian của  một cuộc tuần-hoàn tạo Thiên lập Địa, vì rằng trong một cuộc đại tuần-hoàn tạo Thiên lập Địa hay trong đại lịch-trình diễn-tiến của một Đại-Kiếp có rất nhiều tiểu lịch-trình diễn-tiến của Tam-nguơn; hay nói một cách dễ hiểu hơn, trong một cuộc đại tuần-hoàn có rất nhiều cuộc tiểu tuần-hoàn nối tiếp nhau.

         Cũng đồng một thể-thức tế-phân ấy, một cuộc tuần-hoàn nhân-loại chia làm ba nguơn: Thượng, Trung, Hạ nữa.

         Như thế thì lịch-trình của Tam-nguơn sẽ diễn ra với hình-thức:

         Thượng-nguơn có: Thượng-Nguơn thượng

                                       Thượng-Nguơn trung

                                       Thượng-Nguơn hạ

         Trung-nguơn có:    Trung-Nguơn thượng

                                       Trung-Nguơn trung

                                       Trung-Nguơn hạ

         Hạ-Nguơn có:        Hạ-Nguơn thượng

                                       Hạ-Nguơn trung

                                       Hạ-Nguơn hạ

         Sự phân ký của Tam-nguơn, xem đó, không khác sự phân chia thứ bậc của Cửu-phẩm Liên-hoa ở cõi Cực-lạc. Nhưng có điều nên để ý là thời-gian của Thượng-Nguơn, Trung-Nguơn và Hạ-Nguơn không đồng đều, ngang bằng nhau.

         Cuộc diễn-tiến của Tam-nguơn là một cuộc diễn-tiến theo chiều giảm, nghĩa là từ trên đi xuống xa chừng nào thì thời-gian càng giảm ngắn chừng nấy. Hãy ngó một bộ chảo 9 cái, chất chồng lên nhau, cái nầy nằm trong lòng cái kia, chúng ta sẽ ý-thức được sự sai biệt, dài ngắn, lớn nhỏ, giữa chín thời-kỳ trong Tam-nguơn.

         Chẳng những thời Thượng-Nguơn dài hơn thời Trung-Nguơn và thời Trung-Nguơn dài hơn thời Hạ-Nguơn, cho đến thời-kỳ Thượng-Nguơn-hạ là thời-kỳ ngắn nhất của Thượng-Nguơn cũng còn dài lớn hơn cả Trung-Nguơn, hay thời-kỳ Trung-Nguơn-hạ thời-kỳ ngắn nhất của Trung-Nguơn cũng còn dài lớn hơn cả thời Hạ-Nguơn thì dễ thấy sự cách-biệt giữa Thượng-Nguơn đối với  Trung-Nguơn hay giữa Trung-Nguơn đối với Hạ-Nguơn xa nhau là bực nào.

         Sự cách-biệt giữa các thời-kỳ của Tam-nguơn sẽ cho ta một ý niệm về các mắt của cây cau hay cây dừa, hễ càng gần đến thời già cỗi thì mắt của nó càng nhặt.

        Thế cho nên lịch-trình diễn-tiến của Tam-nguơn khó mà ước-lượng được thời-hạn của một nguơn và các phân-kỳ của nó.

Comments