e- Chương Thứ Tư: Phần giải-thích

Chương Thứ Tư
 
Phần Giải-Thích
 
Hỏi. – Sau khi đọc Sám-giảng và giáo-lý của Đức Thầy, có nhiều câu tôi không hiểu hết ý-nghĩa, nhờ quí ông giảng-giải. Như hai câu:

                        Nên ít người khảo xét kệ kinh,

                        Được dắt chúng hữu-tình thoát khổ.

Thế nào là chúng hữu tình?

Đáp. – Trong vũ-trụ vạn-hữu có hai giới: vô-tình và hữu-tình.

Giới vô-tình gồm những loài không cựa động và hiểu biết, như loài kim thạch và cỏ cây.

Còn giới hữu-tình thì gồm những loài có mạng sống và tri-giác nhưng chưa thoát khổ sanh-tử luân-hồi, cho nên kẻ đã giác-ngộ và có bi-nguyện có bổn-phận tùy nghi hóa-độ giới ấy.

H. – Tại sao cho tôn-giáo là thuốc phiện? Và câu này của ai thốt ra?

                        Cổ tục nhà phỉ-báng khinh-khi,

                        Cho tôn giáo là mùi thuốc phiện.

Đ. – Những phần-tử vô-thần thường lên án cho rằng tôn-giáo làm mê-hoặc dân-chúng phải ghiền-gập cũng như thuốc phiện vậy, mà thuốc-phiện thì có tánh-chất làm tổn-hại sinh-mạng và tài-sản, làm lụn bại cả ý-chí tranh đấu.

Chính Mã-khắc-tư, tỵ-tổ chủ-nghĩa cộng-sản ngày nay đã cho rằng:"Tôn-giáo là thuốc phiện của dân-chúng." (1)
______________________________
(1) La religion est l’opium du peuple

H. – Ý nghĩa của hai câu này ra sao?

                        Lấy sắc thân dẹp nỗi bất-bình.

                        Bỏ đức-tín của câu nhân-quả.

Đ. – Hai câu này có ý nói phái vô-thần thường hay chủ-trương dùng tài cán của bản thân để dẹp những nỗi bất bình-đẳng hoặc đem lại hạnh-phúc trong xã-hội, không màng đến luật nhân-quả báo-ứng của Phật Thánh đã thuyết.

H. – Cái luật ấy ra làm sao?

Đ. – Nhân-quả là luật phản ứng của hành-động, hễ gieo cái nhân nào thì gặt cái quả nấy, cũng như trồng dưa thì đặng dưa, trồng đậu thì đặng đậu. Kẻ làm ác dĩ nhiên phải chịu quả ác, còn người làm lành tất hưởng quả lành.

H. – Có những câu Thánh-ngôn nào minh-chứng luật ấy không?

Đ. – Ông Chơn-Võ có để lời dạy rằng:"Tạo tác thiện thiện ác ác, báo ứng như ảnh tùy hình; mạc đạo tạo ác bất báo, trực đãi ác quán mãn dinh; mạc đạo tu thiện vô ứng, trực đãi thiện quả viên thành". Nghĩa là: Những sự làm lành làm dữ, việc báo ứng như bóng theo hình; đừng nói làm dữ không báo, vì còn đợi chuỗi ác cho đầy đủ mới thấy; đừng nói làm lành không ứng, chỉ còn chờ quả thiện cho tròn rồi mới hay.

Trong Nhân-quả-lục có nói: "Yếu tri tiên thế nhân, kim sanh thọ giả thị; yếu tri hậu thế quả, kim sanh tác giả thị". Nghĩa là: Muốn biết cái nhân thuở trước, hãy coi sự hưởng thọ của ta trong cõi này; còn muốn biết cái quả ngày sau, hãy coi chỗ sở hành của ta trong ngày nay.

Lại Từ-Thọ Thiền-sư có làm bài kệ rằng:

Thế thượng đa sát sanh,

Toại hữu đao binh kiếp.

Phụ mạng sát nhữ thân,

Khiếm tài phần nhữ trạch:

Ly tán nhữ thê tử,

Tằng phá tha sào huyệt,

Báo ứng các tương đương;

Tẩy nhĩ thính Phật thuyết.

Có nghĩa:

Trên đời lắm sát sanh,

Mới có cuộc đao binh.

Thiếu mạng bị người giết,

Thiếu tiền bị đốt nhà.

Vợ con mình ly tán,

Vì đã phá nhà người.

Vay trả vẫn tương đương;

Rửa tai nghe Phật thuyết.

Tế-Điên Hòa-thượng có răn đời rằng:

Khán tận Di-Đà Kinh,

Niệm triệt Đại-bi chú;

Chưởng qua huờn đắc qua,

Chưởng đậu huờn đắc đậu.

Kinh chú bổn từ-bi,

Oan kết như hà cứu?

Chiếu kiến bổn-lai tâm,

Tố giả huờn tha thọ;

Tự tác huờn tự thọ.

Nghĩa là:

Xem hết Kinh Di-Đà,

Chú Đại-bi tụng ráo;

Trồng dưa thì được dưa,

Tỉa đậu thì được đậu.

Kính chú vốn từ-bi,

Oan kết làm sao cứu?

Soi thấy tâm bổn-lai.

Người trả do người tạo;

Ta làm thì ta mang.

Không sai luật quả-báo.

Nói tóm lại nghiệp-báo có ba cách:

1o Hiện-báo là nghiệp mình tạo ra trong lúc hiện-thế thì hoặc trả ngay trước mắt, hay phải trả sau đó nhưng cũng trong kiếp này.

2o Sanh-báo là nghiệp mình làm đời trước mà đời này thọ báo, hay là mình làm đời này mà đến đời sau mới thọ báo.

3o Hậu-báo là nghiệp mình làm đời này mà đến nhiều đời sau mới thọ báo. Trong Nhân-quả-lục có nói rằng: "Giả sử bách thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong; nhân duyên hội ngộ thời, quả-báo huờn tự thọ." Nghĩa là: Dầu trăm ngàn kiếp, cái nghiệp làm ra dễ mất đâu; đến lúc nhân-duyên vừa gặp nhau thì nghiệp nào vẫn theo quả nấy.

H. – Hai câu này, ý nghĩa ra làm sao?

                        Tằm sức nhỏ còn làm nên kén,

                        Người không tu có thẹn hay không?

Đ. – Đời thường nói: loài người linh hơn muôn vật, thế mà loài tằm là con vật nhỏ nhứt còn biết làm kén để bao bọc thân mà đáp ân cho chủ. Huống chi loài người chẳng biết tu thân lập mạng để trên đền ơn tổ-tiên cha mẹ, dưới gây lấy công-đức cho mình và cho kẻ khác. Nếu chẳng làm được như thế, thử hỏi có thẹn với loài vật nhỏ mọn kia không?

H. – Trong Khuyến-thiện, Đức Thầy có viết:

                        Pháp giáo chưa biệt lập tam-thừa,

                        Thuở trung-quốc nhà Châu Chiêu-đế.

Thế nào gọi là tam-thừa? Ý-nghĩa ra làm sao?

Đ. – Sở-dĩ trong đạo Phật có chia ra làm tam-thừa là vì sau khi Phật thành đạo, Ngài bèn đem kinh Đại-thừa Hoa-nghiêm ra thuyết trọn 21 ngày mà hàng Thinh-văn không lãnh-hội nổi, nên Phật mới quán xét căn-cơ các giới chúng-sanh không đồng nhau, bèn phương-tiện biện-thuyết tam-thừa: Đại-thừa, Trung-thừa và Hạ-thừa.

Đại-thừa để độ bực có đại-căn, đại-trí lên đến quả diệu-giác.

Trung-thừa để độ bực trung-căn, trung-khí chứng đến quả đẳng-giác.

Hạ-thừa để độ bực hạ-căn, hạ trí đến quả Thánh-đạo.

Cũng có thể quyền giải tam-thừa là ba xe: xe dê, xe nai và xe trâu.

Xe dê là ví Thinh-văn-thừa, vì Thinh-văn chỉ tự tu tự lợi, không phần hóa tha, cũng như xe dê chỉ chở được một người.

Xe nai là ví Duyên-giác-thừa, vì Duyên-giác chỉ có sức tự-giác và giác-tha nhưng vì yếm sanh chán khổ nên phần giác-tha không được vô-ngại quảng-đại, cũng như xe nai chỉ chở được một vài người.

Xe trâu là ví Bồ-tát thừa, vì Bồ-tát hay dùng nguyện từ-bi thật-hành lục-độ để cứu chúng-sanh vô biên mà không biết mỏi, cũng như xe trâu có sức mạnh chuyên chở được nhiều người.

Nói tóm lại nhờ Phật thuyết tam-thừa nên mới độ tất cả chúng-sanh ngu trí tuần-tự đến chỗ giải-thoát viên-mãn.

H. – Sao quả đất chúng ta lại gọi là cõi Ta-bà và vì đâu cõi Ta-bà lại cho rằng khổ? Như câu:

                        Ta-bà khổ! Ta-bà lắm khổ!

                        Có bao người xét cho tột chỗ?

Đ. – Ta-bà, tiếng Phạm là Saha, Tàu dịch là Kham-nhẫn, nghĩa là kham chịu những sự cực khổ.

Trong cõi Liên-hoa tạng trang nghiêm có 20 từng thế-giới, mỗi thế-giới là mỗi cõi Phật. Cõi Ta-bà của chúng ta ở đây thuộc về từng thứ 13, gồm có nhiều thế-giới nhỏ (Tam thiên Đại thiên thế-giới).

Sở-dĩ cõi Ta-bà là cõi khổ là vì nó có tám điều trọng khổ mà khắp cả chúng-sanh phải nhẫn chịu. Tám điều trong khổ là: sanh, lão, bịnh, tử, ái biệt ly, oan tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thạnh.

H. – Có thể cho biết Đức Thầy dẫn hai câu trên của ai không?

Đ. – Đức Thầy dẫn theo cổ nhơn ở câu:" Ta-bà khổ! Ta-bà khổ! Ta-bà chi khổ, thùy năng sổ?" Nghĩa là: Ta-bà cõi khổ mà cái khổ ở cõi Ta-bà mấy ai kể xiết.

Ngài Trung-Phong tổ-sư vịn theo đó làm ra bài kệ:

                        Ta-bà khổ! Ta-bà khổ!

                        Cái khổ Ta-bà thiệt vô số!

                        Người đời lại lấy khổ làm vui,

                        Đành ở vào trong chịu cô lộ.

                        Trong đãy da thúi ló đầu ra;

                        Thêm bịnh vô-minh ngày một khó.

                        Ba tấc hơi kia thoạt mất rồi,

                        Làm đống tro tàn chôn dưới cỏ.

                        Năm đường quanh lộn mãi không thôi:

                        Cay đắng biết bao đời kiếp nọ,

                        Các người ơi!

                        Chi bằng sớm sớm niệm Di-Đà.

                        Bỏ phắt cái khổ Ta-bà đó!

H. – Còn sao gọi:

                        Tịnh-độ vui! Tịnh-độ nhàn vui!

                        Thế nào gọi là cõi Tịnh-độ?

Đ. – Tịnh-độ là tương-đối của uế-độ (tức là cõi Ta-bà). Cõi ấy do nguyện-lực và công-đức của Phật A-Di-Đà hóa-hiện để tiếp-dẫn những chúng-sanh thành-tâm niệm danh-hiệu của Ngài mà cầu sanh về Cực-lạc.

Sỡ-dĩ cõi ấy được gọi Cực-lạc (tột vui) là bởi ở đó không còn tám điều trọng khổ như đã nói ở phần giáo-lý.

H. – Có thể cho biết Đức-Thầy dẫn câu "Tịnh-độ vui! Tịnh-độ nhàn vui" của ai không?

Đ. – Đức Thầy cũng dẫn theo cổ-nhân ở câu: "Tịnh-độ lạc! Tịnh-độ lạc! Tịnh-độ chi lạc thùy năng giác?". Nghĩa là: Tịnh-độ vui! Tịnh-độ vui! mà cái vui ở nơi Tịnh-độ có ai biết đặng?

Cũng chính Ngài Trung-Phong tổ-sư vịn theo đó mà làm ra bài kệ:

                        Tịnh-độ vui! Tịnh-độ vui!

                        Cái vui Tịnh-độ ai biết được!

                        Nhơn-dân quốc-độ thảy đều hơn,

                        Không lạnh, không nắng, không đường ác.

                        Trong thai sen ấy ló đầu ra,

                        Hằng nghe Phật-pháp và thiên-nhạc.

                        Mảy trần không dính đất lưu-ly,

                        Châu báu tạo thành tòa điện-các.

                        Đồ ăn, đồ mặc, tự-nhiên sanh,

                        Thọ mạng biết bao lường tính được.

                        Các người ơi!

                        Chi bằng sớm sớm niệm Di-Đà!

                        Tìm về cái cảnh Tịnh-độ lạc.

H. – Trong hai câu:

                        Dầu ở nơi cùng cốc lâm san,

                        Chẳng trốn tránh Tử-thần cho khỏi.

Sao lại khó trốn lánh Tử-thần? Có sự-tích nào nói về việc khó trốn lánh Tử-thần không?

Xưa có bốn anh em Phạm-chí đều có phép ngũ-thông. Một hôm bốn người đều biết độ bảy ngày nữa thì mạng chung, bèn cùng nhau toan tính. Anh em chúng ta đều có phép thần-thông tự-tại, há chẳng có phương-pháp chi trốn tránh Tử-thần sao?

Người anh nói rằng: Ta ẩn vào biển to, trên không ló đầu, dưới không đụng đất; như vậy thì Tử-thần còn biết ta đâu mà bắt.

Người em thứ hai tính: Ta chẻ núi Tu-di chun vào rồi khép lại thì Tử-thần còn biết ta đâu mà tầm.

Người em thứ ba định: Ta tàng hình vào hư-không, không để dấu-tích chi hết thì Tử-thần còn biết ta đâu mà theo.

Người em thứ tư nghĩ rằng: Bây giờ ta kiếm chợ đông mà lẫn lộn thì dầu cho Tử-thần có kiếm bắt cũng không ra.

Khi ấy, Phật dùng đạo-nhãn xem thấy bốn người ấy khi mãn kiếp cùng chết một lượt, không một người nào trốn tránh Tử-thần cả.

Phật bèn thuyết bài kệ rằng:

                Phi không, phi hải trung,

                Phi nhập sơn thạch gian;

                Vô hữu địa phương sở,

                Khả thoát bất thọ tử.

Nghĩa là:

                Chẳng không, chẳng biển cả,

                Chẳng vào trong núi đá,

                Không có miếng đất nào.

                Thoát được cái chết cả.

H. – Sao gọi thân con người là thân tứ đại, như câu:

                        Chốn Ta-bà tim lụn đèn mòn,

                        Thân tứ-đại của người cũng thể.

Đ. – Theo nhà Phật, thân con người do bốn chất: đất, nước, lửa, gió hợp thành. Như xương thịt thuộc về đất, máu mủ thuộc về nước, nhiệt-khí thuộc về lửa, hơi thở thuộc về gió.

Theo định-luật sanh trụ dị diệt, thân từ-đại cứ tuần tự hao mòn cho đến ngày phải tan rã; chừng đó bốn chất sẽ trả về cho đất, nước, lửa, gió.

H. – Nên cắt nghĩa hai câu này thế nào?

                        Rán tu cho quỉ khiếp thần khâm,

                        Được tâm phát Bồ-đề vững chắc.

Và thế nào là phát Bồ-đề tâm?

Đ. – Bồ-đề nghĩa là giác. Phát Bồ-đề tâm là khởi lòng cầu đạo chơn-chánh mong đến quả chánh-giác một cách kiên-cố. Song kẻ phát tâm Bồ-đề trước phải khởi lòng đại-bi nghĩa là phải rộng lòng thương khắp cả chúng-sanh để phương-tiện giúp cho khỏi khổ được vui vừa vật-chất lẫn tinh-thần lần đến giải-thoát viên-mãn.

Bởi thế trong kinh Ưu-bà-tắc có câu:"Tâm đại-bi là nguyên-nhân phát-sanh tâm Bồ-đề."
 
H.- Kẻ phát tâm Bồ đề hẳn đã có phần giác ngộ, thế sao Đức Thầy còn khuyên phải giữ tâm vững chắc?

Đ. – Sở-dĩ Đức Thầy khuyên như thế là vì, sau khi đã phát Bồ-đề tâm thì các ma-quân thường hay khuấy nhiễu làm cho giải-đãi lui sụt sự tu-hành, bằng cách bọn chúng xâm-nhập vào thân, hoặc gây tạo hoàn cảnh trái ngược để cám-dỗ vào đường tà, hoặc xúi-giục theo lẽ quấy như sắc-đẹp, tài lợi, danh vị… Tuy nhiên, xưa kia khi Đức Phật còn trụ thế, sau những thời thuyết-pháp nói đến chánh-pháp của Ngài vào thời mạt-pháp ít ai tín-phụng chắc-chắn và kẻ đã tín-phụng cũng hay bị các ma-vương ám-ảnh, thì liền có các Thiên-long hộ-pháp đứng lên thệ trước mặt Phật rằng: " Nếu vào thời mạt-pháp có những chúng-sanh nào phát Bồ-đề tâm thì bọn tôi luôn luôn ủng-hộ không cho tà-quái nhiễu-hại cho đến khi chứng quả viên-mãn ".

Như thế đủ tin rằng: hễ người nào phát tâm Bồ-đề dĩ-nhiên được chư Thần gia-hộ. Nếu có sa-ngã chỉ vì mình không thành tâm, hoặc giải-đãi nên bị các nghiệp-lực nảy nở lôi cuốn.

H. – Thế nào gọi là thập tam ma, như câu:

                        Thập tam ma diệt bằng trí kiếm,

                        Dứt xong rồi vô sự thảnh thơi.

Vì đâu khi dứt nó rồi thì được thảnh thơi?

Đ. – Thập tam ma có nghĩa mười ba con ma, tức là thất-tình và lục-dục.

Thất-tình là mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét, muốn.

Lục-dục là sắc đẹp, danh vị, tài lợi, tư vị, hư vọng và tật-đố.

Đó là những mê-tình ẩn náu trong tánh từ lâu để xúi-giục thân, khẩu ý, gây tạo những tội lỗi không ngằn, làm cho chúng-sanh cứ mãi xoay lăn trong bánh xe dục-lạc sanh-tử rất thống-khổ. Nên chi hễ dứt được nó thì các sự khổ của nghiệp oan không còn đeo đẳng; nhân khổ đã sạch, tâm cơ được khai-phát an vui. Vì thế mới gọi là thảnh-thơi vô sự.

H. Trong câu:

                        Nguyện cùng Phật dứt duyên trần-cấu.

Sao gọi là duyên trần-cấu?

Đ. – Trần-cấu là bụi-bặm, nhơ-nhớp tức là các thú-dục, tà-kiến phiền-não làm cho tâm trí bị mờ ám quay cuồn. Hễ dứt được duyên trần đừng để cấu-tạo, tức là dứt được mọi kiến-hoặc, tư hoặc (nghe thấy lầm lẫn).

Có như thế mới gội rửa được tâm trần ô nhiễm để đạt đến thanh tịnh giải-thoát.

H. – Nên hiểu nghĩa bốn chữ: từ bi hỉ xả như thế nào, như câu:

                        Nguyện sửa lòng ắt Phật giúp đời,

                        Xuống phước rộng từ bi hỉ xả.

Đ. – Từ bi hỉ xả là bốn đại-đức của Phật, Đức Thầy có giải như vầy:

1o Đức từ: Phật đối với chúng-sanh như mẹ với con lúc nào cũng lo-lắng đến, hết lòng dìu-dắt, dạy-dỗ không nỡ để chúng-sanh sa vào đường tội lỗi mà chịu khổ não.

2o Đức bi: Nếu chúng-sanh nào dạy-dỗ chẳng nghe làm điều độc ác để phải tội thì Phật chẳng vì thế mà ghét bỏ, lại thương xót không cùng.

3o Đức hỉ: Thường thường an vui mà làm những việc lành. Dầu gặp hoàn-cảnh trái-nghịch cũng chẳng vì thế mà sanh lòng buồn bã.

4o Đức xả: Ngài chẳng chấp một pháp nào trong thế-gian, sẵn lòng lìa xa các nghiệp tiền-trần, tha-thứ hết thảy những ai tối-tăm, lầm-lỗi, chẳng còn vướng-víu chi với cuộc lợi-danh, tài-sắc, nhìn cõi đời chẳng bao giờ sanh lòng luyến ái.

H. – Việt-đàn nghĩa là gì? như câu:

                        Khuyên bá gia bá tánh việt-đàn,

                        Chớ sát hại mạng người như thế.

Đ. – Việt là chữ Hán nghĩa là vượt qua, còn chữ đàn là tiếng Tây-vức, Tàu dịch là bố-thí, những người hay làm việc bố-thí thì chắc-chắn vượt qua khỏi bể khổ, bần cùng nên gọi là việt-đàn.

H. – Màn vô-minh là màn gì: Như câu:

                        Màn vô-minh che mờ căn-trí,

                        Nên thường hay nhận ngụy làm chơn.

Đ. – Vô-minh nghĩa là mờ-ám. Bản-lai của chúng-sanh vốn chơn-như diệu-minh, chỉ vì bất giác khởi niệm vọng-tưởng chấp trước nên bị cái tập-nghiệp ngăn che thành ra tối-tăm mê-muội. Cũng như người ngó lâu vào khoản hư-không thường thấy hiện thành hoa đớm, càng nhìn lâu thì càng thấy nhiều và cứ tiếp nối như vậy luôn, làm cho người cứ ngỡ cho là thiệt rồi tin-tưởng và theo đuổi mãi. Vì thế mới nhận ngụy làm chân mà từ vô-thỉ dĩ lai cứ quay-quần trong biển mê cảnh-giả.

Nhưng một khi chợt tỉnh ra thì những hoa đớm ở khoản hư-không ấy sẽ tự mất đi, bởi tự nó vốn không, cũng như giả-thân này vốn không phải thiệt, chỉ do nhân-duyên đất nước lửa gió cấu-thành.

Chính vô-minh ấy là mối đầu của thập-nhị nhân-duyên để dẫn từ hành thức đến sanh-tử. Cho nên trong kinh Đại-thừa khởi tín-luận của Long-Thọ Bồ-tát có nói: "Tịnh-pháp danh vi chơn-như, nhứt thiết nhiễm-nhân danh vi vô-minh". Nghĩa là: mọi pháp trong sạch thì gọi là chơn-như, còn mọi nhân nhiễm trược thì gọi là vô-minh.

H. – Thế nào gọi là huyễn thân? Như trong câu:

                        Lo huyễn-thân vật-chất kém hơn,

                        Ít tìm biết tinh-thần đạo-đức.

Đ. – Huyễn-thân là thân mộng-ảo không thiệt, vì nó là hiện thân của nghiệp-báo, cũng là dưới sự chi-phối của nhân-duyên biến hoại không thường, đổi thay chẳng ngớt, như mới thấy trẻ đó thì đến già rồi mất.

Vì thế mà có vị Bồ-tát nói rằng:"Thân người biến đổi từ sát-na cho đến khi tan-rã".

Ông Duy-ma-cật có nói rằng: "Cái huyễn-thân này thật là vô thường, nó không có sức, không mạnh, không bền chắc, thật là vật mau hư hoại, thật không thể tin cậy. Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ não bịnh hoạn."

H. – Và thế nào là lưới nghi? Như câu:

                        Dệt lưới nghi đeo điều phiền-phức,

                        Bịn-rịn đời khổ cực tang thương.

Đ. – Nghi có nghĩa là do-dự, trù-trừ, không quyết đoán. Nghi là một cái độn trong năm cái độn mà Phật thường nói.

Có hai hạng nghi: hạng không tu và hạng đã tu. Hạng không tu thì nghi rằng:

        1o Không có nhân-quả báo-ứng,

        2o Không có luân-hồi.

        3o Không có cảnh-giới Phật,

        4o Sau khi chết là mất.

        5o Không có sự xem xét của Thần Thánh.

Vì thế mà hạng này chỉ biết vật-chất là trên hết trong kiếp sống, nên họ có thể làm tất cả những lợi lộc cho họ mặc dầu có hại cho kẻ khác. Và mỗi khi nghe đến thuyết nhân-quả báo-ứng thì họ công-kích bài-bác. Cho nên những kẻ đã quán-liễu đạo-đức dư biết việc làm của họ sẽ trả lại cho họ hoặc kiếp này hay kiếp tới những kết-quả quá thống-khổ mà rất thương-hại.

Còn hạng đã tu thì nghi rằng:

        1o Từ trước tới giờ mình đã tạo nhiều ác-nghiệp mà chỉ tu-hành trì-niệm trong một lúc e không được sự tiếp-dẫn của Phật.

        2o Những phiền-não, sân-hận, mê-si nơi mình chưa sạch, biết niệm Phật có được vãng-sanh về Cực-lạc chăng?

        3o Trong sự tu-hành niệm Phật của mình có được ảnh-hưởng đến sự cứu rỗi tổ-tiên cha mẹ chắc-chắn không?

        4o Sau khi mạng chung biết có được Đức Phật y nguyện mà đến tiếp rước thần-thức mình về Cực-lạc chăng?

        5o Công-phu tu-hành ngày nay biết được có sự hộ-trợ của các đấng thiêng-liêng giúp mình đến Hội Long-Hoa và Hội Long-hoa có hay chăng?

Bởi đó mà hạng này cứ mãi bịn-rịn theo đời, bẩn lấy những điều thô-trược của trần-lao mà phai dần đức tin Phật-pháp. Chung qui chỉ theo định-lệ: dinh như tiêu trưởng mà giam cầm trong vòng mê-muội sanh-tử.

H. – Trong Sám-giảng, Đức Thầy thường nói đến thuyền bát-nhã, như:

                        Phải xả thân tầm bát-nhã thoàn,

                        Sau mới khỏi hùm tha sấu bắt.

Hoặc giả:

                        Ước sao mà thuận gió bướm trương,

                        Đò bát-nhã rước lôi lương đống.

Hay là:

                        Bể trần sóng cuộn lao-xao,

                        Xông thuyền bát-nhã lướt vào một phen.

Bát-nhã là gì? Và tại sao gọi là thuyền bát-nhã?

Đ. – Bát-nhã nghĩa là chơn trí-huệ. Người tỏ ngộ được sự lý bát-nhã hẳn không còn sự si-mê điên-đảo, trở lại được sáng tỏ cả thảy vũ-trụ vạn-hữu không còn một nhận-định mờ-ám của trần-duyên. Bởi thế nên đoạn diệt được cả tập-nghiệp vô-minh phiền-não thì không còn bị lôi cuốn vào nghiệp sanh-tử.

Sở-dĩ đem ví tánh bát-nhã là một chiếc thuyền, vì nó có mãnh-lực đưa chở chúng-sanh đến bờ giác-ngạn khỏi bể trầm-luân. Nó là một chiếc trong sáu chiếc đò (Lục độ) của hạnh Bồ-tát.

H. – Cũng như chữ bát-nhã, trong Sám-giãng cũng thường nói đến chữ ma-ha, như câu:

                        Vậy sớm mau kiếm chữ ma-ha,

                        Thì Phật cứu khỏi nơi khỏi lửa.

Hoặc giả:

                        Tính-ngộ từ đây người gặp chủ,

                        Phủi trần tìm kiếm chữ ma-ha.

Hay là:

                        Bại rồi thành lại nên tuồng,

                        Vạn dân hưởng được nước nguồn ma-ha.

Ý-nghĩa chữ ma-ha ra làm sao? Tại đâu phải tìm chữ ma-ha?

Đ. – Ma-ha tiếng Phạm có nghĩa là rộng lớn. Sự rộng lớn ấy như hư-không, không bờ bến. Nó vẫn rổng không sáng tỏ, đồng với bản-thể của đạo-tâm. Bởi thế khi nói kiếm chữ ha-ma có nghĩa là tầm đến Đại-đạo.

H. – Đức Thầy thường khuyên:

                        Niệm Di-Đà rán niệm cho rành,

                        Thì mới được sống coi Tiên-Thánh.

Hoặc là:

                        Xưa nay sáu chữ lạnh tanh,

                        Chẳng ai chịu khó niệm rành thử coi.

Thế nào là niệm Phật rành và thế nào là không rành?

Đ. – Lâu nay người niệm Phật thì nhiều mà phần đông chỉ niệm cho lấy có, kể số nhiều chớ ít ai tâm khẩu cùng niệm. Trong lúc niệm, không được mấy kẻ thành lòng tha-thiết tưởng Đức Phật như con nhớ mẹ, như kẻ đắm thuyền kêu cứu và nhứt là không được thuần-thục trong chỗ niệm. Vì thế mà thiếu mãnh-lực cảm-ứng.

Cũng có kẻ chỉ được thành tâm trong chốc lát, ngoài ra vẫn xen-tạp những ý tưởng xằng-xiên tà- khúc và không tập-trung được sáu căn cùng trong chánh-niệm.

Như thế bảo sao rành được.

Thế thì có phương-pháp niệm Phật nào rành chăng?

U-Khê tổ-sư có chỉ phương-pháp niệm Phật tam-muội như vầy: "Niệm Phật tam-muội giả, niệm Phật nhơn, dĩ tâm duyên Phật, dĩ Phật hệ tâm, tâm tâm tương tục, vô hữu gián-đoạn. Nhĩ thời nội tâm bất khởi, ngoại cảnh vô xâm, triều nguơn tự qui, phản lưu toàn nhứt. Chính bất thọ chư thọ nhi đắc hồ chánh thọ, cố xưng niệm Phật tam-muội dã. " Nghĩa là: Phương-pháp niệm Phật tam-muội (chánh định) là người niệm Phật lấy tâm duyên Phật, lấy Phật buộc tâm, niệm niệm nối liền, không hề gián-đoạn. Lúc ấy nội tâm không dấy khởi, ngoại cảnh không xâm vào, xoay vòng không hở, trước sau như một. Chính không thọ các cái thọ mà lại được chánh thọ. Thế nên gọi là niệm Phật tam-muội.

Tóm tắt trong chỗ niệm Phật có bốn điều phải được liên-lạc chặt-chẽ, không được sót một, mới có thực nghiệm:

        1o Tiếng niệm tự tâm mà tai vẫn nghe rõ-ràng như chuông đánh.

        2o Phải tập-trung tư-tưởng vào chỗ niệm như thật.

        3o Không để ý-tưởng nào khác xen-tạp.

        4o Phải được chí-thành chí-thiết tưởng như Phật ở trước mặt.

Nếu cứ được mãi mãi như thế thì hột sen ở ao thất bửu nơi cõi Cực-lạc làm sao lại không nảy nở tươi tốt để đón lấy thần-thức ngày thiện-chung.

H. – Thế nào là ngục A-tỳ? Ngục ấy ra làm sao như trong câu:

                        Ngục A-tỳ dựa kế một bên,

                        Chờ những kẻ tu-hành giả dối.

Đ. – Ngục A-tỳ cũng gọi là A-tỳ-chỉ, Tàu dịch là ngục Vô-gián, nghĩa là chịu khổ không phút nào yên. Những người làm ác, sau lúc mạng chung, thần-thức bị đọa vào ngục ấy chịu khổ luôn luôn không hề dứt.

Trong kinh Địa-Tạng có giải về ngục A-tỳ như vầy:

Ngục Vô-gián là một cái thành bao xung quanh rộng hơn tám muôn dặm, làm toàn bằng sắt, cao một muôn dặm, trên thì lửa đốt cháy rực không phút nào tắt, trong thì các ngục khít nhau, danh hiệu có khác, chỉ có một cái ngục tên là Vô-gián.

Người đọa vào ngục này vì thọ năm nghiệp cảm:

Một là thọ tội luôn ngày luôn đêm trải vô số kiếp không có lúc nào ngớt, cho nên gọi là Vô-gián.

Hai là thân ở trong ngục một người cũng đầy mà nhiều người cũng đầy, cho nên gọi là Vô-gián.

Ba là những đồ để hành tội như chỉa ba, thiết bảng, chim sắt, rắn sắt, gấu sắt, chó sắt, lừa sắt, ngựa sắt, cối giã, cối xây, cưa đục, đồ bằm chặt, nước sôi, lưới sắt, dây sắt, đầu niền nịt da, thân xối sắt nóng, đói nuốt hoàn sắt, khát uống nước sắt, trải ngàn muôn số kiếp liên-miên chịu khổ không lúc nào hở, cho nên gọi là Vô-gián.

Bốn là chẳng luận trai gái, Mườn Mán, già trẻ sang hèn, Long thiên thần quỉ, tội nghiệp cảm đều phải đồng chịu, cho nên gọi là Vô-gián.

Năm là khi bị đọa vào ngục ấy thì từ lúc vào cho đến trăm ngàn kiếp số, cứ mỗi một ngày một đêm thì bị chết đi sống lại cả muôn lần, dầu muốn ngừng trong giây phút cũng không được, chỉ khi nào nghiệp mãn mới được thọ sanh, chịu khổ liên-miên như thế, cho nên gọi là Vô-gian.

H. – Mười ơn là những ơn gì, như tôi đọc trong câu:

                        Vẹn mười ơn mới đạo làm con,

                        Lúc sanh sống chớ nên phụ-bạc.

Đ. – Mười ơn của con phải chịu của cha mẹ là:

        1o Lâm sản thọ khổ nghĩa là sanh đẻ chịu khổ,

        2o Hoài đảm thủ hộ nghĩa là bồng ẵm giữ gìn,

        3o Yến khổ thổ cam nghĩa là uống đắng nhổ ngọt,

        4o Hồi can tựu thấp nghĩa là nhường chỗ khô, nằm chỗ ướt,

        5o Sanh tử vong ưu nghĩa là khi sanh được con mừng mà quên lo rầu.

        6o Tẩy trạc bất tịnh nghĩa là rửa ráy mọi điều dơ bẩn,

        7o Nhủ bộ dưỡng dục nghĩa là bú mớm và nuôi nấng.

        8o Vị tạo ác nghiệp nghĩa là vì con mà nhiều khi cha mẹ làm điều chẳng lành.

        9o Viễn hành ức niệm nghĩa là đi xa thì nhớ tưởng.

        10o Cứu-cánh lân-mẫn nghĩa là người mẹ thương con không còn cái thương nào bằng.

H. – Mấy câu này nên hiểu thế nào?

                        Ai là người quân-tử tu-mi,

                        Phải sớm xử thân mình cho vẹn;

                        Chừng lập hội khỏi thùa khỏi thẹn,

                        Với Phật Tiên cũng chẳng xa chi.

Sao lại với Phật Tiên không xa?

Đ. – Ý Đức Thầy muốn nói kẻ tu-mi nam-tử về mặt xử thế phải vẹn lòng trung hiếu tiết nghĩa, về mặt tu thân khá trừ: sát, đạo, dâm, vọng, tửu thì ngày kia mới không thẹn với Tổ-tiên và Trời Phật trong ngày lập hội. Nếu làm được như thế thì đối lại với Tiên Phật cũng không xa khác, vì các Ngài xưa kia cũng nhờ làm xong những điều trên mà đắc quả.

H. – Nên hiểu thế nào hai câu giảng này:

                            Niệm Phật nào đợi mùi hương,

                        Miễn tâm thành kính Tòa-chương cũng gần.

Đ. – Niệm Phật cốt ở tấm lòng kính thành khẩn- thiết, dầu đến lúc đi đứng nằm ngồi cũng vẫn trì niệm không đợi giờ khắc hay hương hoa. Có thể trong sự niệm mới được thiết-tha liên-lạc không bị gián-đoạn đủ sức cảm-thông đến Tiên Phật. Nhờ đó mà các Ngài trợ lực cho mình không về được Cựu-Lạc cũng gần hầu Tòa-chương tức là ngai vị của Thánh-đế.

H. – Cầu Lam là cầu gì mà Đức Thầy cho biết phải nhờ nó để đi đến cảnh an vui, như câu:

                            Qua sông nhờ được cầu Lam,

                        Tu hành nào đợi chùa am làm gì.

Đ. – Cầu Lam là cái cầu đưa đến chỗ Tiên ở.

Tích xưa có kể rằng: Bùi-Hàng người đời Đường đi qua Lam-kiều vào quán uống nước gặp một nàng Tiên tên Vân-Anh đẹp ý muốn lấy vợ. Bà mẹ nàng ấy bảo nếu có cái chày ngọc đem lại kháp vừa cái cối ngọc thì gả cho. Bùi-Hàng trở về gặp Tiên cho chày ngọc nên lấy được Vân-Anh, rồi sau hai vợ chồng đều được thành Tiên cả.

Như thế đủ tỏ rằng gặp Tiên Phật chẳng lựa ở chùa am mà ở nơi quán xá đâu đâu cũng có thể gặp được. Như cổ-ngữ có câu: "Dâm phòng tửu xá vô phi đạo-tràng." Nghĩa là: nơi nhà điếm quán rượu đâu chẳng là trường đạo. Vì thế mà Đức Thầy mới bảo không phải đợi vào chùa am mới tu được, chỉ yếu là ở phương-tiện chơn-chánh.

H. – Sao Tử-vi là sao gì? Và khi nó xuất-hiện có liên-quan gì đến thế-cuộc không? Như câu:

                            Trên trời xuất hiện Tử-vi,

                        Quang-minh sáng suốt vậy thì dân ôi!

Đ. – Tử-vi là một vì sao ít khi thấy mọc. Theo Tấn-thơ thì sao Tử-vi là ngôi sao của thiên-tử. Cho nên khi thấy nó xuất-hiện là điềm Thánh-vương ra đời, đem lại hạnh-phúc thạnh-trị cho dân-tộc. Thế thì con dân khi được thấy sao ấy ra đời hãy dọn mình mà đón sự giáng-lâm của Thánh-chúa bằng cách tu thân xử kỷ lập đức bồi công mới hưởng-ứng được.

H. – Trong câu:

                            Người tu như thể bá-tòng,

                        Ai ai cũng mến cũng trông cũng nhìn.

Sao lại sánh người tu như bá-tòng. Cây ấy có gì đáng mến đáng yêu mà phải sánh như vậy?

Đ. – Sở-dĩ bá-tòng được người đời mến trọng vì nó có bản sắc xanh-biếc cả bốn mùa; nhứt là mùa đông, mọi cây đều tàn cỗi mà riêng nó vẫn được sởn-sơ. Vì thế sách Ích-trí đem người quân-tử ví với bá tòng, như câu: "Bạch ngọc di ư ô nê bất năng tham chấp kỳ sắc, quân tử xứ ư trược địa bất năng nhiễm loạn kỳ tâm. Cố tòng bá khả dĩ nại tuyết sương, minh trí khả dĩ thiệp gian nguy. " Nghĩa là: ngọc trắng vùi nơi bùn lầy mà sắc nó chẳng hề lem ố, người quân-tử ở nơi ô trược không nhiễm loạn cái tâm. Cho nên loại tòng-bá có thể chịu đựng sương tuyết mà kẻ minh-trí cũng có thể vượt trên chỗ gian nguy.

Vì cái đặc-tánh không dời đổi của nó mà Đức Thầy đem người tu để ví với nó, bởi người tu lòng vẫn được liêm-khiết trung-hậu.

H. – Sự-tích về Mạnh-Tông khóc măng như thế nào mà Đức Thầy dẫn ra trong hai câu:

                        Mạnh-Tông xưa cũng khóc măng,

                        Đất khô nảy mụt rõ lòng hiếu-nhi.

Đ. – Trong Nhị-Thập-tứ hiếu có kể rằng: Đời Ngô có anh em Mạnh-Tông thờ mẹ chí hiếu. Một hôm người mẹ nhiễm bịnh ước có măng mà ăn ắt được hết bịnh, Mạnh-Tông nghe mới rảo khắp thôn kế cận tìm không ra, vì thuộc về mùa đông nên măng không mọc. Anh liền trở về ra sau vườn ngồi bên gốc tre mà khóc sướt-mướt. Anh nghĩ rằng nếu kiếm không được măng thì bịnh mẹ phải nguy nên anh cứ khóc mãi cho đến nước mắt ướt cả đất khiến cho măng liền mọc lên. Mới biết lòng hiếu cảm-động đến Trời đất mà ông Tăng-Tử có câu: "Hiếu từ giả bá tánh chi tiên. Hiếu chí ư thiên tắc phong võ thuận thời, hiếu chi ư đại tắt vạn vật hóa thạnh, hiếu chí ư nhơn tắc chúng phước lai trăn." Nghĩa là: Việc hiếu từ là trên hết các hạnh. Hiếu tột đến Trời thì gió mưa hòa thuận, hiếu động đến đất thì muôn vật hóa thạnh, còn hiếu cảm đến người thì các phước đều đến.

H. – Hai câu này nên giải nghĩ làm sao?

                        Sách Thánh-đạo ghi trong Tam-tự,

                        Người mới sanh tánh thiện Trời dành.

Đ. – Sách Tam-tự-kinh có viết: "Nhơn chi sơ, tánh bổn thiện; tánh tương cận, tập tương viễn; cẩu bất giáo, tánh nãi thiên." Nghĩa là: Người buổi sơ sanh, tánh vốn lành: vì tập nhiễm mọi tánh nết chung quanh mà nếu thiếu giáo-dục thì tánh thiện ấy sẽ đổi dời theo thói xấu. Bởi thế kẻ tu-hành nên trở về với tánh lành nguyên-bản của mình.

H. – Trong Kinh Phật thường nói đến hai chữ chơn nhơn, nay đọc Sám-giảng cũng thấy Đức Thầy nói đến như trong câu:

                        Réo những ai lợi-dụng làm xằng,

                        Cho suy sụp chơn-nhơn mờ-mịt.

Vậy ý-nghĩa hai chữ chơn-nhơn ra làm sao?

Đ. – Chơn-nhơn là cái thiệt-thân của giả-thân. Hễ người tịnh-luyện chơn-chánh nó sẽ được xuất-hiện quang-diệu. Nhược bằng tu-hành giả dối lợi-dụng tiền tài và để tâm xao-xiến mãi thì các linh-khiếu đều bị ngăn che mờ ám làm cho nó phải lu-lờ suy-sụp.

H. – Trong hai câu:

                        Lũ tam-bành trong bụng còn đeo,

                        Đoàn lục-tặc ta mau sớm giết.

Thế nào là tam-bành và lục-tặc?

Đ. – Tam-bành là ba vị-thần: Bành-Cư ở đầu Bành-Chất ở bụng và Bành-Kiểu ở chơn, hay xui người làm quấy.

Còn lục-tặc là sáu con giặc trong người như; mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý, sở-dĩ gọi nó là con giặc là bởi nó thúc-giục con người đắm nhiễm: sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, thân sướng, ý dục.

H. – Tại đâu cái tâm lại ví như đài nguyệt-kiếng. Đài Nguyệt-kiếng là đài gì? Công-dụng của nó ra sao? Như trong mấy câu:

                        Tâm sáng suốt như đài nguyệt-kiếng,

                        Tánh trong như nước bích mùa xuân.

Hay là:

                        Ta chí dốc tầm đài nguyệt-kiếng,

                        Cho dương-trần soi chuyện sai lầm.

Đ. – Nơi cõi u-minh, tại điện thứ nhứt của Tần-quảng-vương có một cái đài treo một tấm kiếng hình mặt-nguyệt, gọi là Đài nguyệt-kiếng để dành soi ứng việc làm tội lỗi của các linh-hồn không chịu cung khai. Nó có cái công-năng diễn lại mọi hành-động tội ác của người như một cuốn phim chớp bóng chiếu trên màn ảnh,

H. – Nên hiểu hai câu này thế nào? Và ý-nghĩa Phật-tánh ra làm sao?

                        Lời thuyết-pháp chẳng vì nhơn ngã,

                        Người nào đâu có Phật-tánh là!

Đ. – Ý nói lời thuyết-pháp của Đức Thầy chẳng hề có lòng phân-biệt người và ta trong chỗ cao thấp trí ngu mà chỉ vì lòng từ-mẫn, lấy tư-cách của một người đã giác-ngộ có bổn-phận đánh thức kẻ còn mê-muội để sớm được tỉnh giác. Vì rằng sau khi Phật Thích-Ca thành đạo, Ngài tự quán xét cả thảy chúng-sanh đều có tánh Phật như Ngài, như kinh Hoa-Nghiêm đã nói: "Nhứt thiết chúng-sanh giai hữu Phật-tánh." Nghĩa là tất cả chúng-sanh đều có tánh Phật như nhau cả. Song vì kẻ mê người giác sớm muộn chẳng đồng nên có sự sai-biệt. Nhược bằng ai cũng dứt mê về giác thì Phật- tánh rổng sáng như một.

H. – Trong Sấm-giảng, Đức Thầy có bảo:

                        Nhìn Phật-giáo mà tìm cái lý,

                        Coi tại sao ta phải tu hành?

Nên hiểu nghĩa hai câu này thế nào?

Đ. – Ý Đức Thầy bảo ta mỗi người hãy nhìn sâu vào Phật-pháp để tìm hiểu lý-do tại đâu ta phải tu và phải hiểu một cách rõ-ràng chắc-chắn rồi nhân đó tu-tiến. Vì như ta nhận thấy: sanh trong đời, ta nặng mang bốn điều trọng ân và tám điều thống-khổ lúc nào cũng bao bọc lấy ta, nên ta phải tu, trước để thoát khổ sau hầu đền đáp những ân mà ta đã mang nặng .

H. – Trong kinh Phật cũng như trong Sám-giảng thường nói đến Niết-bàn và cho Niết-bàn là nơi cứu-cách, như:

                        Cảnh Niết-bàn là nơi cứu-cánh,

                        Về chốn ni xa lánh hồng-trần.

Hay là:

                        Điên dẹp gát âm thinh sắc tướng,

                        Tìm vô-vi kiếm cảnh Niết-bàn.

Vậy Niết-bàn là cảnh gì?

Đ. – Niết-bàn là phiên-âm tiếng Phạm Nirvana, Tàu dịch là Diệt-độ, là một cõi hoàn-toàn tịch-tịnh an-nhiên không còn hoặc-nghiệp phiền-não sanh-tử luân-hồi; lại có nghĩa viên-tịch công-đức viên-mãn trùm khắp sa-trần gọi là viên trí-huệ cụ-túc dứt sạch nghiệp-chướng khổ lụy là tịch.

Cũng chỉ sự trở lại bản-tâm viên-tịch để thoát trầm-nịch khổ-hải.

H. – Linh-Thứu nghĩa là gì mà tôi thường thấy Đức Thầy hay nói đến, như câu:

                        Ta vì vưng sắc-lịnh Ngọc-tòa,

                        Đền Linh-Thứu sơn-trung chịu mạng.

Hay là:

                        Quyết đưa chúng về nơi non Nứu.

Sao chỗ viết là Thứu, có chỗ viết là Khứu hay Nứu. Như thế có khác nhau hay đồng một chữ?

Đ. – Linh-Thứu, tiếng Phạm là Gridhrakouta, Tàu phiên-âm là Kỳ-xà-quật, dịch là Thứu-lĩnh, một cái núi ở nước Ma-kiệt-đà thuộc về Trung-bộ xứ Ấn-độ, hình nó như con kên-kên (thứu điểu). Đức Phật Thích-Ca thường ngự tại đó cu-hội đại-chúng thuyết-pháp.

Có nơi đọc Khứu hay Nứu cũng một nghĩa, nhưng được thông-dụng là Thứu.

H. – Đoạn giảng này nên hiểu thế nào?

                        Thấy đạo-lý chớ nào thấy tánh,

                        Còn ở trong tim óc xác phàm.

Sao lại không thấy tánh mà chỉ thấy đạo-lý?

Đ. – Ý nói phần nhiều người tu học chỉ thấy giáo-lý của đạo chớ ít kẻ được thấy tự-tánh của mình, bởi nó tiềm-ẩn trong tim óc của con người; ít ra phải cần soi chiếu trở lại nơi tâm một cách rõ ràng vi-tế, không để bị một nhân-duyên tập-khí nào ám-ảnh và cứ được luôn lòng như thế mới hoát-nhiên trực-kiến bản-tánh. Chừng đó ta sẽ tự thấy viên-minh tự-tại vô-ngại, không còn bị trói-trăng câu-thúc trong lẽ hư-vọng vô-minh.

H. – Hai chữ sám-hối có nghĩa như thế nào, như Đức Thầy đã nói trong câu:

                        Cuộc sám-hối vô chùa thường thấy,

                        Làm gian lừa biết mấy nhiêu lần.

Thế nào là sám-hối không gian lừa, còn thế nào là sám-hối gian lừa?

Đ. – Sám có nghĩa là ăn-năn những lỗi-lầm vừa qua, hối là nguyện chừa những lỗi-lầm sắp tới, nói rõ hơn, sám-hối là ăn-năn tự-hối việc làm tội-lỗi vừa qua và sẽ tới của mình không dám tái-phạm đến nữa.

Nhưng trái lại có nhiều người sau khi lỗi-lầm cũng đến trước bàn Phật để âm-thầm tỏ bày việc quấy của mình rồi đọc một vài thời Kinh và lạy lục. Sau khi đó họ vẫn tự cho rằng lỗi trước đã hết và vẫn tiếp-tục gây những tội khác nữa. Như thế là sám-hối gian lừa.

Cũng có hạng người đã biết mình làm việc sai phạm tội ác liền đến chùa am mướn người tụng Kinh sám-hối thế cho mình. Như vậy, cũng gọi là sám-hối gian lừa.

Ngoài ra có hạng người đã phạm lỗi mà không chịu ăn-năn thú tội thì cái lỗi ấy dầu muôn kiếp cũng không do đâu mà tiêu rỗi. Liên-Trì đại-sư có làm bài kệ chê hạng người không sám-hối như vầy:

                Hữu quá như bịnh nhơn,

                Cử quá như y vương.

                Úy bịnh nhi ố y.

                Thị danh đại ngu-si.

Nghĩa là:

                Có lỗi như người đau,

                Tỏ lỗi như gặp thuốc.

                Sợ bịnh mà kỵ thầy,

                Thiệt là đức ngu-ngốc.

Thể theo nhà Phật thì có ba phép sám-hối như sau:

1o Tác pháp sám là đến trước ngôi Tam-bảo tố-trần tội lỗi của mình rồi từ đó về sau những việc làm của thân, khẩu đều y theo qui-luật chơn-chánh mà thi-hành. Sám như thế là diệt-trừ những hành tướng tội phạm.

2o Thủ tướng sám là từ chỗ định tâm mà khởi ra cái tư-tưởng sám-hối những tội lỗi của vô-lượng kiếp quá khứ, hiện-tại và vị-lai của mình một cách chí thành, cứ tự-quyết cho đến khi nào cảm được cái thoại-tướng là Phật đến xoa đầu mình chẳng hạn. Sám-hối như thế là diệt-trừ được cái tánh tội phiền-não.

3o Vô danh sám là cứ ngồi ngay thẳng nhứt-tâm chánh-niệm để quan-sát cái nguyên-lý vô-sanh bất-diệt của tự-tánh. Sám như vậy là diệt-trừ cái vô-minh chướng-ngại.

H. – Trong Sám-giảng Đức Thầy có đoạn viết;

                        Nhớ thuở trước vua Lương Võ-Đế,

                        Lập chùa chiền khắp nước tu hành;

                        Đến chừng sau ngạ tử đài-thành,

                        Phật bất cứu vì tâm còn ác.

Theo sử sách thì vua Lương Võ-Đế là người sùng ngưỡng đạo Phật, lập trong nước có đến 72 cảnh chùa, cổ-võ việc tu-hành. Như thế thì vua Lương Võ-Đế có công với Phật-pháp, người dường ấy sao lại chết đói trên đài-thành?

Đ. – Sở-dĩ Vua Lương Võ-Đế thọ báo đói khát trên đài-thành là vì tiền-kiếp ông đã phạm một tội hãm-cơ cố-sát.

Xưa kia có một vị tiều-phu thường ngày lên non hái củi đổi gạo, trong lúc ấy có đem theo một gói cơm để sau khi đốn củi xong đặng lấy ra mà ăn. Nhưng đã luôn hai lần rồi, khi đốn củi xong trở lại vồ đá để gói cơm thì gói cơm đã mất. Ông phải chịu đói trở về. Đến ngày thứ ba, ông cũng gói cơm theo để tại vồ đá rồi giả vờ xách búa lên rừng, nhưng kỳ thật lần này ông quyết tâm rình núp gần đó để tìm cho biết nguyên nhân tại đâu gói cơm hai lần bị mất. Tiếp theo đó, ông thấy một con khỉ đột men đến ôm gói cơm của ông đi. Ông mới đứng phắt dậy rược theo tới hang đá thì con khỉ chun vào mà trốn. Ông liền lấy đá lấp miệng hang lại. Vì thế con khỉ chết đói trong hang ấy.

Bởi cái nghiệp đó mà kiếp sau khi ông làm vua Lương Võ-Đế thì con khỉ ấy cũng đầu thai làm quân-sư cho ông tên là Hầu-Kiển. Chừng khi Hầu-Kiển muốn tiếm vị, gạt ông lên đài-thành, cho quân vây bọc, bỏ ông cho đến chết đói.

Như thế sự chết đói của ông hẵn bị nghiệp ác của ông đã gây trong kiếp trước mà ra.

H. – Cứ theo sự-tích đã kể, ông LươngVõ-Đế đã gây một nghiệp ác, đáng lẽ ông phải chịu khổ sở, chớ sao ông lại được làm vua là do phước nào mà ra?

Đ. – Cũng trong kiếp tiều-phu ấy, nhân lúc ông đi đốn củi gặp một cốt Phật trơ-trọi ngoài trời nắng dãi mưa chan. Ông bèn động lòng ái-truất lột cái nón lá của ông đội lên cho cốt Phật. Nhờ cái công-đức cúng dường ấy mà kiếp sau ông được phước báo làm vua.

H. – Trong hai câu:

                        Tu biết cách như đươn biết đát,

                        Đươn đát rành thì dựa xe loan.

Thế nào gọi là đươn, thế nào gọi là đát? Và thế nào là tu biết cách cũng như đươn biết đát?

Đ. – Muốn làm nên cái thúng trước hết phải đươn. Khi đươn xong thì phải đát rồi mới lận thành cái thúng. Nếu chỉ học đươn mà không biết đát thì không thành cái thúng mà trở thành cái mê.

Đó là nói tuy qui-ngưỡng theo Phật nhưng còn tu tại gia thì trách-nhiệm đối với đồng-bào quốc-thủy nhứt là trong lúc nguy-biến ta cần phải gánh-vác công việc cứu giúp, vì đó là hai cái ân trong bốn điều ân của Phật của Thầy Tổ đã dạy mà ta phải toan lo đền trả. Như vậy gọi là đươn.

Trong lúc ấy ta tự thành-tâm tín-phụng giáo-điều của Phật bằng cách trau sửa tâm-thần, giồi mài đức-hạnh bên trong, cho đến khi nước nhà hoàn-toàn phục-hưng, chừng ấy ta sẽ tự tiện tiến đến mục-đích từ-bi đại-đông của Phật để thi-thiết đạo-đức trên khắp nhơn-loại chúng-sanh. Như thế gọi là đát.

Do đó việc làm của ta mới tuân tự theo từ nấc một của đạo nhân lần đến đạo Phật một cách chặt-chẽ, cũng như đươn mà biết đát, sẽ không bỏ dở công-trình thành một cái mê.

H. – Trong Sám-giảng có đoạn viết:

Sau Quỉ-vương đi đứng nửa lừng,

Thêm tên tuổi chúng-sanh nó biết;

Làm đủ cách xuống lên tha-thiết,

Ở ngoài đường nó biết tên mình.

Tin cùng không thì cũng mặc tình,

Chớ Ta lắm công-trình dạy-dỗ.

Hồi thuở trước Thích-Ca Phật-Tổ,

Ngồi tham-thiền bị nó phá hoài.

Mà cũng không rúng-động lòng Ngài,

Nên cố oán phá đời mãi mãi.

Vì đâu Quỉ-vương cứ theo phá đời mãi mãi. Nó có thệ-nguyện gì không?

Đ. – Thuở ấy Phật Thích-Ca ngồi tham-thiền dưới cội Bồ-đề có Ma-vương tên là Ba-Tuần ở trong rừng thấy chỗ Phật ngồi chói ánh hào-quang thì nó nghĩ thầm rằng: một khi Ngài chứng quả Như-lai đem chánh-pháp mầu-nhiệm truyền-bá trong dân-gian thì đạo của nó không còn ai theo nữa, nên chi đem cả quân-binh khí-giới, sắc đẹp đến khủng-bố và cám-dỗ Ngài, nhưng lòng Ngài vẫn thản-nhiên không hề lay chuyển. Vì sự căm-tức không phá được Phật nên Ma-vương mới đứng trước mặt Phật má thệ rằng: "Nếu kiếp này tôi không hại được Ngài thì đến đời mạt-pháp tôi sẽ hiện vào làm môn-nhơn đệ-tử của Ngài mà phá hoại đạo-pháp của Ngài cho được mới thôi." Do đó mà ngày nay bọn nó cứ theo phá đời mãi mãi.

H. – Trong Sám-giảng có câu:

                        Thú vật biết tu-hành náo-nức,

                        Còn người sao chẳng rứt hồng-trần.

Có kinh nào minh-chứng rằng thú-vật biết tu-hành không?

Đ. – Về sự tích của loài vật biết tu-hành từ trước đến nay mà trong các kinh thường nói đến , không sao kể cho hết.

Đây chúng tôi xin lược kể một vài chuyện.

Trong Tây qui trực chỉ có kể lại rằng;

Đời Trinh-Nguơn nhà Đường có Bùi-thị ở đất Hà-đông nuôi một con két thường học theo người mà niệm Phật. Một bữa nọ quá ngọ mà nó chẳng ăn, lúc gần chết, nó niệm lên mười tiếng Phật thì dứt hơi. Người chủ đem xác nó ra thiêu thì được hơn mười hột ngọc xá-lợi chiếu lòa cả mắt. Ông tăng Huệ-Quan thấy vậy mới dựng tháp mà thờ.

Lại ở đất Đàm-châu có người nuôi một con cưởng thường niệm Phật. Khi nó chết, bỗng có một đóa sen từ trong miệng nó mọc ra.

Nhơn mấy câu chuyện thú-vật biết tu-hành. Ngài Liên-Trì Đại-sư có lời rằng: giống chim két chim cưởng người dạy nó còn biết niệm Phật, huống chi người lại không biết niệm Phật, há chẳng thẹn lắm ru!

Gần đây, trong chuyện Đức Phật-Thầy Tây- An, cũng thấy nói đến các môn-đệ của Ngài thường hay giáo-phục loài thú thứt là cọp mà người ta hằng gặp nó ẩn nơi hang vắng tu-hành, đổi lại tánh hiền lành không còn hại người lên non núi nữa.(1)
______________________________________
 
 
(1) xem Đức Phật-Thầy Tây-An
 
H. – Bồ-tát có nghĩa là gì? Như trong câu:

                        Say đạo huyền-vi nước tịnh-dương,

                        Say câu Bồ-tát rưới cho thường.

Đ. – Bồ-tát là do tiếng Bồ-đề tát-đỏa, phiên âm của tiếng Phạm Bodhisattva mà ra. Trong Đại-Luận giải rằng: Bồ-đề giác, tát-đỏa là hữu-hình, là nói trên thì dùng "trí" cầu đạo Bồ-đề dưới thì dùng "bi" cứu độ chúng hữu-tình nên gọi là Bồ-đề tát-đỏa.

Cũng có nghĩa Bồ-tát là phổ-tế, như câu: "Bồ giả phổ dã, tát giả tế dã. Cứu nhơn chi cấp, tế nhơn chi nguy nãi thị Bồ-tát."

Bồ-tát có ba bực như sau đây:

1. Bực Bồ-tát phát-âm là hạng người mới phát-tâm tu theo hạnh Bồ-tát mong cầu thành Phật, quyết chí độ sanh khi chưa chứng quả như bực Bồ-tát song cũng đủ hạnh tự-lợi lợi-tha ở trên;

2. Bực Bồ-tát đã tu là hạng người đã chứng quả vị, từng hóa-độ vô-lượng chúng sanh, giới-hạnh cụ-túc, sẽ chứng thành chánh-giác;

3. Bực Bồ-tát ứng-hiện là do các Phật hóa-hiện hoặc các Đại-sĩ diệu-dụng ứng-hóa trong hàng chánh-sĩ để trợ-đương Phật-pháp tế-độ chúng-sanh.

H. – Cội thung nên hiểu như thế nào? Như câu;

                        Rước xuân năm mới tiếng đì-đùng,

                        Cờ phất trẻ mừng chúc cội thung…

cành huyên nên hiểu như thế nào? Như câu:

                        Tổ-đường còn một cành huyên,

                        Từ đường hôm sớm võ-vàng chờ trông.

Đ. – Tích xưa có người nhìn về phương Nam chỉ cây thung cho rằng cha mình ở đó, nhìn về phương Bắc chỉ cành huyên cho rằng mẹ mình ở đó. Như thế cây thung là ám-chỉ người cha, còn cành huyên là ám-chỉ người mẹ.

Cứ theo sách Trang-Tử thì cây thung là một thừ cây sống lâu 8.000 năm. Cho nên khi nói đến cội thung là mong cho cha được sống lâu.

Về cành huyên, trong Kinh-Thi có câu: Yêu đắc huyên thảo ngôn thụ chi bối, nghĩa là: ước gì có cành huyên mà trồng ở thềm phía Bắc. Cành huyên có tánh làm giải-khuây lòng người, cho nên dùng chữ huyên để nói mẹ.

H. – Tại đâu cha làm mà con chịu, như câu:

                        Bây giờ tai ách còn vương,

                        Cha làm con chịu nhiều đường gai chông.

Đ. – Đức Thầy có nói: "Vì một cái chánh-sách sai-lầm của tiền-nhân" mà di-hại đến con cháu ngày nay. Nhưng cái tai-ách ấy hầu như đã mãn, như trong một bài thơ tứ-tuyệt của Đức Thầy đã cho biết:

                        Nợ nần tiên-tổ tạo gây nên,

                        Con cháu ngày nay phải báo đền.

                        Đành thế, nhưng vừa lời với vốn,

                        Lẽ gì chịu dại trả ngông-nghênh.

H. – Trong hai câu:

                        Làng gần chí những tỉnh xa,

                        Lúc xưa thì cũng ruột-rà với nhau.

Sao lại lúc xưa thì cũng ruột-rà?

Đ. – Cứ truy-nguyên thì các Việt-sử đều nhận rằng dân-tộc Việt-Nam sản-sanh do một bào-thai của bà Âu-Cơ, vợ của Lạc-long-quân. Thai-bào ấy nở ra một trăm người con. Chính vì cùng sanh trong một bọc mà người dân Việt-Nam gọi nhau là đồng-bào. Như thế, nếu trở lại nguồn-gốc xưa kia của dân-tộc thì người Việt-Nam là dòng-dõi ruột-rà như nhau cả.

H. – Nên hiểu thế nào hai câu này:

                        Muôn năm Thiên-định khắc kỳ.

                        Ngặt ông thất-thủ Hạ-bì khó toan.

Đ. – Hai câu này có nghĩa là việc muôn năm mà Trời giúp cho một khắc thì nên, song ngặt vì vận hạn chưa đến nên gặp phải lắm truân-chuyên, cũng như Quan-Công thất-thủ tại Hạ-bì-thành, dầu phải nỗ-lực cách mấy cũng không toan sớm được.

Đây là hai câu tự-thán của Đức Thầy.

H. – Trong hai câu:

                        Thì rõ việc Phong-Thần trở lại,

                        Thuyền Đông-Pha lèo lái cánh trương.

Nên hiểu thế nào thuyền Đông-Pha lèo-lái cánh trương?

Đ. – Tô Đông-Pha tên thiệt là Tô-Thức, người ở đất Mi-sơn nhà Tống là một nhà văn-học uyên-thâm, có tài hùng-biện. Một hôm cùng Vương An-Thạch nghị-luân, vì bất-đồng y kiến nên bị truất đi ra xứ Huỳnh-châu, cất nhà ở đất Đông-Pha; vì thế mà người đời ông là Tô Đông-Pha.

Cứ theo đây thì câu "thuyền Đông-Pha lèo lái cánh trương" có nghĩa là đem tài hùng-biện mà huy-trương thuyết-phục.

H. – Nên hiểu nghĩa thế nào hai câu này:

                        Từ ngàn xưa Phật-pháp gày then,

                        Nên ít kẻ tu-hành đắc-đạo.

Đ. – Sau ngày Phật Thích-Ca nhập Niết-bàn, ngôi Tổ-giáo truyền lại từ ngài Ca-Diếp đến Lục-tổ Huệ-Năng thì từ đó về sau sự truyền y bát không còn nữa, vì đã lọt vào thời mạt-pháp, chúng-sanh căn-trí thiển-bạc, nếu truyền nữa sẽ làm cho giữa môn-nhơn có sự tranh- giành mà gây hại lẫn nhau, mất hết tánh-cách từ-bi cộng-thọ của đạo Phật.

Bắt đầu từ đó về sau các Đạo-sư tăng-sĩ chỉ khẩu thọ tâm truyền để làm sở-chứng. Như thế kể như chánh-pháp đã bị gày bế then cổng nên rất ít người tu-hành đắc đạo.

H. – Đức Thầy dẫn sự-tích:

                        Xưa Châu-Xáng thanh-long phải tá,

                           Ngăn Sư-Đồ đặng cứu Ngũ-Viên.

Có ý nghĩa gì chăng?

Đ. – Đoạn giảng này nhắc tích Châu-Xáng mượn thanh-long đao của Quan-Công mà ngăn Thượng Sư-Đồ để cứu Ngũ Viên-Thiệu.

Trong truyện có kể rằng một hôm Châu-Xáng nằm mộng thấy một vị thần đến báo rằng: sáng mai có người nào bị nạn chạy ngang qua đây thì hãy ra tay cứu-hộ. Quả thật sáng hôm sau, trong lúc Châu-Xáng đang lui-cui làm củi dựa mé rừng thì có một người chạy ngang qua, còn phía sau thì có quân lính rượt mà theo. Châu-Xáng hốt-nhiên chạy vào đền thờ Quan-thánh gần đó mượn cây thanh-long đao của Châu-Xương rồi la hét lên ngăn Thượng Sư-Đồ lại. Thượng Sư-Đồ lúc ấy trực ngó lại thấy giống Châu-Xương nên hoảng sợ quày ngựa lui binh.

Nhắc đến sự-tích tá thanh-long là Đức Thầy có ý cho anh em tín-đồ biết rằng dầu không có tài-ba thao lược nhưng được Thần Thánh mượn tay thì cũng làm nên việc phi-thường.

Sau này những người tu-hành chơn-chánh cũng sẽ được hưởng trường-hợp tá thanh-long đao như Châu-Xáng vậy.

H. – Xin quí ông giải rõ ẩn nghĩa mấy câu này của Đức Thầy:

                        Trời quá buổi chinh-chinh về xế,

                        Chờ ít lâu cũng lặn về Tây;

                        Lúc huỳnh-hôn đèn trí soi đầy,

                        Tìm nẻo thẳng đi về Cực-lạc.

Đ. – Đoạn văn này có ý nói thời-kỳ này như mặt trời đã xế chiều sắp đến huỳnh-hôn (chạng-vạng). Đến lúc ấy rất có nhiều đèn trí soi rọi. Dầu vậy cũng chớ vội thấy sáng mà nương theo, phải tự chọn lấy ngọn đèn soi thẳng về đường Cực-lạc mà theo thì mới không lầm-lạc.

H. – Nên hiểu thế nào cả đoạn văn này:

                        Lời văn thô ý kiến chẳng cao,

                        Nội quan cảnh tâm vô kỳ vật.

                        Đường đạo-đức bước đi từ nấc,

                        Ngoại quan hình bất chấp kỳ hình;

                        Phải bền lòng chặt nẻo sắt đinh,

                        Rán kiếm chữ bất sanh bất diệt.

Đ. – Đọan văn này có nghĩa: Trong thì quán xét cái bổn-tâm vốn không chứa đựng một vật nào cả, còn ngoài thì quán xét hình sắc nhưng không chấp trước một hình sắc nào. Có như thế thì vọng-tâm chẳng sanh, mà vọng-tâm không sanh thì đương-nhiên cũng chẳng cần diệt, vì vọng-tưởng vốn ở tâm mà có.

Đức Điều-Ngự Giác-hoàng tức đạo-hiệu của vua Trần Nhân-Tôn có bài kệ rằng:

            Nhứt thiết pháp bất sanh,

            Nhứt thiết pháp bất-diệt.

            Nhược năng như thị giải,

            Chư Phật thường hiện tiền.

Nghĩa là:

            Tất cả pháp chẳng sanh,

            Tất cả pháp chẳng diệt.

            Bằng rõ được như thế,

            Các Phật hiện trước mắt.

H. – Nên hiểu thế nào câu:

                        Chúng-sanh mê nên đem pháp thuyết,

                        Giải-thoát rồi pháp bất khả dùng.

Quí ông có thể dẫn ra một đoạn kinh Phật cùng một ý-nghĩa như câu này không?

Đ. – Bởi lẽ còn mê-muội cho nên phương-tiện dùng đến giáo-pháp để khải-ngộ, nhưng một khi đã giác-ngộ rồi thì pháp ấy không còn dùng nữa; cũng như người có bịnh phải dùng thuốc mà trị, khi bịnh lành thì thuốc ấy cùng theo bịnh mà dứt.

Cùng một ý-ngĩa, trong kinh Kim-Cang, Phật có nói rằng: "Tri ngã thuyết-pháp, như phiệt dụ giả. Pháp thượng ưng xá, hà huống phi pháp". Nghĩa là: Nên biết phép ta ví như chiếc bè. Pháp còn nên bỏ, huống là chẳng phải pháp.

Ông Phó Đại-sĩ có làm bài kệ rằng:

            Độ hải tu dụng phiệt,

            Đáo ngạn bất tu thuyền.

            Nhân pháp tri vô ngã,

            Ngộ lý cự lao thuyên.

            Trung lưu nhưng bị nịch,

            Thùy luận tại nhị biên.

            Hữu vô như thủ nhứt,

            Tức bị ô tâm-điền.

Nghĩa là:

            Qua biển phải dùng bè,

            Đến bến chẳng cần ghe.

            Nhơn, pháp biết vô ngã,

            Tỏ lý, nôm không nề.

            Giữa dòng vẫn bị đắm,

            Đâu luận hai bên lề.

            Có, không bằng chấp một,

            Tâm-điền bị ô nê.

H. – Bể ái-hà là thế nào? như câu dưới đây:

                        Biết chừng nào chúng-sanh vượt khỏi,

                        Bể ái-hà rứt bỏ gian lao.

Đ. – Ái-hà có nghĩa là con sông chứa đầy sự yêu-đương ham muốn. Sở-dĩ đem sự yêu-đương ham muốn sánh với sông bể là vì ái-dục của chúng-sanh không ngằn mé giới-hạn và hễ ai mà lọt vào trong đó thì bị đắm-đuối khó mà vùng-vẫy vượt qua.

Trong Kinh Phật có nói: Ái dục là cội gốc sanh tử. Hễ trừ được ái dục thì được tự-tại giải-thoát.

Ông Duy-ma-cật có nói: cái huyễn thân này như ánh nắng dợn giữ đồng, nó do lòng khát ái của chúng-sanh mà ra; cũng đồng một ý đó.

H. – Nên  hiểu thế nào hai câu:

                        Đức Khổng-thánh người sanh nước Lỗ,

                        Ngài còn xưng cuồng quyến dã hồ.

Cuồng quyến là nghĩa làm sao?

Đ. – Hai câu này Đức Thầy lấy trong Luận-ngữ: "Bất đắc trung hành nhi dữ chi, tất đã cuồng quyến hồ? Cuồng giả tiến thủ, quyến giả hữu sở bất vi dã." Có nghĩa: không được người theo đúng cái đạo trung mà truyền dạy ra thì chắc phải truyền dạy cho kẻ cuồng kẻ quyến chăng? Kẻ cuồng thì tiến thủ, kẻ quyến thì không thèm làm.

Đây có ý nói người đời không bình-hành được một nhịp theo đạo của Ngài thì Ngài buộc phải dạy cho kẻ cuồng quyến.

Đối lại trường-hợp của Đức Khổng-Tử, Đức Thầy ngày nay trong khi ra mở đạo cũng gặp nhiều trường-hợp éo le: Như những tín-đồ có kiến-thức hơi rộng thì muốn vượt trên hơn phương-pháp của Ngài khai-thị, còn kẻ kém kiến-thức thì không làm y theo hoặc chỉ bo-bo câu chấp hình-thức. Hạng trên tức là hạng thuộc về kẻ cuồng, còn hạng dưới thì thuộc về hạng kẻ quyến.

Dầu vậy, ngài cũng không nản-chí hay than-van như Ngài đã thốt:

                        Bực Thánh-nhơn công-lao chẳng chán,

                        Huống chi ta nào dám than-van.

H. – Đức Thầy dẫn tich dưới đây có ẩn ý gì?

                        Quan Công-Hầu gìn chặt nghĩa ân,

                        Vượt năm ải về thăm huynh trưởng.

Đ. – Đoạn văn này Đức Thầy nhắc lại việc Quan-Công quá ngũ quan trảm lục tướng về để thăm Lưu-Bị. Nhờ cái lòng quá nhớ tưởng huynh-trưởng mà Quan-Công vượt qua năm ải và chém sáu tướng một cách dễ-dàng.

Về phương-diện đạo-đức thì câu chuyện này như Đức Thầy đã trả lời cho một ông Phán nọ đến hỏi Ngài, nó hàm ý nếu người tu-hành có lòng cương-quyết phá ngũ-uẩn, sát lục-tặc thì sẽ thấy được chơn-nhơn mà đắc đạo-quả.

Về phương-diện trì danh niệm Phật, nếu mình tha thiệt như Quan-Công nhớ Lưu-Bị thì không ma-lực nào ngăn cản được con đường về Cực-lạc của mình.

H. – Xin quí ông giải-thích cho tôi hiểu về sự-tích ông Cấp-cô-độc, như trong câu:

                        Cấp-cô-độc là nhà phú-hộ,

                        Còn đành lòng bố-thí xả-thân.

Đ. – Ông Cấp-cô-độc thiệt danh là Tu-dạt nã (Su-datta) là một trưởng-giả ở xứ Xá-vệ, có lòng bố-thí cung cấp tiền của cho những người cô-độc bần nhơn. Do tấm lòng từ-thiện đó mà người gọi ông là trưởng-giả Cấp-cô-độc. (Anathapindika).

Ngoài việc này, ông còn vì Phật-pháp, đem hết kho vàng ra lót đầy vườn của thái-tử Kỳ-Đà con cùa vua Ba-tư-nặc để mua khu vườn ấy làm Tịnh-xá cho Phật.

H. – Nên hiểu thế nào mấy chữ: Đại-hùng, đại-lực, đại từ-bi trong câu:

                        Phải chờ dậy nương dây hùng-tráng,

                        Chữ đại-hùng, đại-lực, từ-bi.

Đ. – Mấy chữ: đại-hùng, đại-lực, đại từ-bi thường để tán-tụng công-đức của Đức Phật Thích-Ca.

Dám lìa bỏ quách thành thê tử đi tu, đó là cái chí đại-hùng.

Hàng-phục được Ma-vương dưới cội Bồ-đề, đó là cái chí đại-lực.

Khi đắc đạo không đành nhập Niết-bàn vẫn trụ thế trong 49 năm thuyết-pháp độ-sanh, đó là lòng đại từ-bi.

H. – Nên hiểu thế nào là siêu-sanh, trong câu:

                        Non tuyết san rú-rừng thăm-thẳm,

                        Đem thân phàm tầm đạo siêu-sanh.

Đ. – Siêu-sanh nghĩa là vượt khỏi con đường luân-hồi sống thác.

Trong tam-giới chúng hữu-tình thảy đều ở trong vòng sanh sanh hóa hóa. Đức Phật nhận thấy sự thống-khổ của tam-giới như là nhà lửa nên Ngài động lòng từ-bi tìm ra chánh-đạo để cứu chúng-sanh khỏi cảnh đồ-lao mà hưởng kiếp trường-tồn tịnh-lạc. Có thể mới được siêu-sanh.

H. – Nên giải-thích cách nào hai câu dưới đây:

                        Chuyện cao siêu Phật-pháp còn dài.

                        Khó gặp chữ không không mà có.

Đ. – Vì tạng-tánh như-lai vốn không hình tướng sắc màu để chỉ được nên gọi là không. Song nó có năng-lực hàm-dung diệu-biến vũ-trụ vạn-hữu, cho nên gọi là có.

Vũ-trụ vạn-hữu gốc ở tạng-tánh như-lai nên gọi là không. Tạng-tánh như-lai là nguyên-lý của vũ-trụ vạn-hữu nên gọi là có.

Trong tạng-tánh như-lai có vũ-trụ vạn-hữu và trong vũ-trụ vạn-hữu có tạng-tánh như-lai, cho nên gọi không mà có, gọi có mà không.

Ông Huệ-Trung thượng-sĩ có làm bài kệ "vạn sự như qui" rằng:

            Tùy vô hiện hữu, hữu vô thông,

            Hữu hữu vô vô tất cánh đồng,

            Phiền não, Bồ-đề nguyên bất nhị,

            Chơn-như vọng-niệm tổng giai không,

            Thân như ảo cảnh, nghiệp như cảnh,

            Tâm nhược thanh phong, tánh nhược bồng,

            Hưu vấn tử sanh ma dữ Phật,

            Chúng tinh cũng bắc, thủy triều Đông,

Nghĩa là:

            Từ không bày có, có, không không,

            Có có không không rốt vẫn đồng.

            Phiền-não, Bồ-đề nguyên chẳng khác,

            Chơn-như vọng-niệm thảy đều không.

            Thân như cảnh mộng, nghiệp như bóng,

            Tâm tợ thanh phong, tánh tợ bồng. (cỏ bồng)

            Chớ hỏi tử sanh, ma với Phật,

            Các sao chầu Bắc, nước về Đông.

Như thế đủ tỏ Phật-pháp rất cao siêu không thể bày tỏ cùng tột, vì nó cũng không mà cũng có, không có chẳng lìa nhau, nên khó mà gặp được.

H. – Đức Thầy dẫn ở sách nào hai câu chữ Hán dưới đây? Và nghĩa lý của nó ra làm sao?

                Sách có câu: Minh-đức tân-dân,

                Được thủ trụ huyền khai nhứt khiếu.

Đ. – Câu minh-đức tân-dân dẫn trong sách Đại-học ở câu: "Đại-học chi đạo, tại minh minh-đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện" Có nghĩa là: Đạo của bậc Đại-học, cốt làm sáng cái đức-minh, làm cho dân mới, cho đạt đến chỗ trọn lành.

Còn thủ trụ huyền khai nhứt khiếu, có nghĩa là giữ an một khiếu huyền-quan của mình cho được khai mở.

Đại ý Đức Thầy khuyên mỗi người trước phải làm cho an-trụ cái khiếu huyền-quan của mình cho khai mở và làm cho đức mình được sáng, dân được mới và đạt đến chỗ chí thiện.

H. – Bổn-lai diện-mục là gì? Như câu:

                Lòng ngộ rồi chẳng đợi nhiều Kinh,

                Thì cũng thấy bổn-lai diện mục.

Đ. – Bổn-lai diện-mục là thấy được bổn-lai tâm.

Muốn thấy được tâm bổn-lai, chỉ cốt phải trầm-mặc phản-chiếu tánh mình không đợi phải học biết nhiều Kinh mới tỏ ngộ chân-lý. Như trường-hợp của Lục-tổ khi nghe Ngài Hoằng-Nhẫn thuyết kinh Kim-Cang đến câu: Ứng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, có nghĩa là: nên trụ cái tâm ở chỗ không sanh, thì Ngài hoát-nhiên tỏ ngộ mà tự nói rằng:

            Hà kỳ tự tánh bổn tự thanh-tịnh,

            Hà kỳ tự tánh bổn bất sanh diệt;

            Hà kỳ tự tành bổn tự cụ-túc,

            Hà kỳ tự tánh bổn vô đông diêu,

            Hà kỳ tự tánh năng sanh vạn pháp.

Có nghĩa:

            Chẳng dè tánh mình vốn sẵn thanh-tịnh,

            Chẳng dè tánh mình vốn chẳng sanh diệt,

            Chẳng dẻ tánh minh vốn sẵn đầy đủ,

            Chẳng dè tánh mình vốn chẳng động lay,

            Chẳng dè tánh mình hay sanh muôn pháp.

H. – Lục-thông là những gì, như tôi thường đọc:

                        Chừng ơn trên ban được lục thông,

                        Thầy mới được Tây Đông du thuyết.

Đ. – Lục thông là sáu phép thần thông:

Thiên-nhãn thông là mắt thấy khắp nơi dầu muôn ngàn cái núi ngăn che cũng soi được phủng, dầu những mảy bụi nhỏ trong hư-không cũng thấy được rõ, cho đến mười phương cảnh giới cũng thấy không bị ngăn ngại.

Thiên-nhĩ thông là tai nghe suốt tam-giới ngang dọc mười phương rất tỏ rõ, cho đến tiếng của loài vật vi-tế cũng không sót một tiếng nào.

Túc mạng thông là biết các kiếp quá khứ của mình và của cả chúng-sanh rõ như việc trước mắt.

Tha tâm thông là biết rõ ý-niệm của cả thảy chúng-sanh để tùy cơ cảm-ứng.

Thần túc thông là có phép đi lại mười phương mau lẹ không cùng.

Lậu tận thông là sạch cả phiên-não, không còn một mảy trược lậu.

Thường lệ những người trừ lục-căn, diệt lục-trần một cách viên-dung thì sẽ được lục-thông. Như có câu: "Nhân căn trần thanh-tịnh nhi lục-thông chi hiện giả dã." Nghĩa là: Nhân sáu căn trần được thanh-tịnh thì phát hiện lục-thông.

H. – Tu đến bực nào mới có lục-thông?

Đ. – Muốn có lục-thông phải tu đến bực vô-sanh của A-la-hán trở lên.

H. – Xin quí ông giải cho tôi rõ nghĩa câu này:

                        Mãi say-sưa theo cuộc vui chơi,

                        Nên kiếp kiếp đời đời lên xuống.

Đ. – Bởi người cứ chấp rằng thân của mình và mọi vật trên đời là bền-bỉ, vì thế mà cứ say-sưa đeo-đắm chẳng màng đến hậu hoạn, không nghĩ đến kiếp vô-thường, cứ mải làm tôi mọi cho lòng ái-dục, nên do nghiệp-duyên ấy mà xuống lên vay trả mãi.

Thí dụ như người qua cầu làm rớt tiền xuống nước nếu còn tiếc nuối thì phải lặn xuống mà mò kiếm. Nhược bằng không tiếc đến thì khỏi trầm mình lặn hụp.

Như thế đủ chứng rằng; hễ người diệt được lòng ái-dục thì không còn phải đời đời kiếp kiếp xuống lên cõi uế-trược này nữa.

H. – Nên hiểu thế nào ý-nghĩa hai câu này:

                        Giấc mộng vàng đặng truyền Đại-đạo,

                        Cảnh vô sanh lòng bạo mà mê.

Đ. – Theo hai câu nầy, Đức Thầy cho biết những người tu-hành chơn-chánh đạo-hạnh trong sạch thường chừa lỗi và tác phước, nhứt là vẫn được một niềm tin-tưởng nơi Đức Phật, do cái thông-cảm đó mà được ơn trên đến truyền pháp trong những giấc mộng vàng, hoặc dùng cách vi-diệu để đưa đến thấy được cảnh vô-sanh của chư Phật.

Trường-hợp này trong số tín-đồ của Đức Thầy đã có nhiều người hân-hạnh được hưởng. Sau khi ấy, kẻ đó hoàn-toàn đổi lại nhân-cách cũng như sự hiểu biết rất thuần-lương và sáng suốt, và chính đó cũng là cái triệu-tường của kết-quả tu-tập.

H. – Câu "thiên-lý vị nhiên" nghĩa lý ra làm sao? Đức thầy dẫn ở sách nào?

                        Giờ mắc câu thiên-lý vị-nhiên,

                        Nên còn đãi thiên-oai nấy lịnh.

Đ. – Câu này do Khổng-Minh thốt ra. Nguyên Khổng-Minh lập trận ở Thượng-phương cốc dụ binh của cha con Tư-Mã Ý vào mà đốt. Khi quân của cha con Tư-Mã Ý lọt vào vòng vây thì Khổng-Minh cho phòng hỏa chận hai đầu hang. Thế là hai cha con Tư-Mã Ý chỉ còn chờ chết, thì bỗng nhiên có đám mưa to đổ xuống làm cho lửa tắt hết. Nhờ đó mà cha con Tư-Mã Ý thoát nạn.

Khi ấy, Khổng-Minh ở trên núi thấy vậy mới than rằng: "Mưu sự tại nhơn, thành sự tại thiên, nhơn nguyện như thử như thử, thiên-lý vị-nhiên vị-nhiên". Nghĩa là mưu việc tại người, còn thành sự tại Trời. Người muốn đường ấy đường ấy, lẽ Trời chưa vậy chưa vậy.

Cứ theo đây thì dầu ý mình có muốn mà lẽ Trời chưa đến thì cũng phải nén lòng mà chờ đợi thiên-oai nấy lịnh.

H. – Nên hiểu thế nào câu: huờn lai bổn tánh trong câu:

                        Cỏ cây cùng điểu thú chim muông,

                        Nhơn với vật huờn lai bổn tánh.

Đ. – Thể theo ý Đức Thầy đã cho biết trong Sám-giảng thì câu này có nghĩa: đến cái phút rốt của thời mạt-hạ, cỏ cây chim-chóc thú cầm người vật trở lại cái tánh nết cũ của mình. Dù kẻ tu-hành cũng vậy, nếu chưa trừ dứt tập-khí thì khi ngộ cảnh khêu gợi thử-thách cái tánh cũ ấy nó xuất-hiện như xưa.

Đến lúc đó thì mọi đồng-tánh tự kết-tụ với nhau cũng như đá nam-châm hút sắt.

H. – Thế nào là hạnh bố-thí và trì chay, như câu:

                        Đồ lao muốn lánh sớm nghe Ta,

                        Bố-thí trì-chay giữ giới mà.

                        Phật đạo trau giồi tâm-tánh lại,

                        Giác thuyền chuyên chở lúc can-qua.

Đ. – Bố là vải ra, thí là cấp cho. Do đó bố-thí có nghĩa là đem cái sở-hữu của mình mà cứu giúp kẻ khác.

Bố-thí có ba cách:

        1o Tài thí là đem của-cải của mình mà ban cấp cho người;

        2o Pháp thí là đem lời đạo-lý trí-huệ giảng ra cho người nghe để tỉnh-ngộ tu-hành;

        3o Vô-úy-thí là phương-tiện giúp cho người khỏi sợ hãi bằng cách là đem tính-mạng đỡ-gạc hay bảo-vệ cho người được yên-ổn.

Nó tóm lại bố-thí có hai phần:

1o Sự tướng bố-thí là chỉ đem tài-vật thí ra cho người mà lòng còn phân-biệt người là kẻ thọ thí còn ta là kẻ bố-thí, khởi tâm mong cầu được tiếng khen và hậu lợi của phước báo. Nhơn đó làm cho bản-ngã càng tăng-trưởng, sự tôn-ti thêm nảy sanh, khiến cho sự bất bình-đẳng một ngày một chất-ngất để ngày kia phải chịu lấy cái quả sai-biệt.

2o Lý-tánh bố-thí là ngoài cảnh không chấp mắc, trong tâm không nhiễm ô, tham-lam, vị-ngã, sân-nộ, mê-si đều trống không dứt bặt.

Trì-chay có nghĩa là không ăn những thức thuộc về loài động-vật.

Đại-khái trì chay có hai cách:

        1o Tố thực nghĩa là ăn những thức không phạm giới sát-sanh.

        2o Tâm trai là giữ lòng trong sạch không chấp món ăn, lúc nào cũng tránh việc sát hại vô cớ. Vì sức khỏe mà phải dùng những thức vừa với nhu-cầu để làm những điều huệ-ích cho đời, nhưng không nên vịn vào cớ ấy mà giả dối, tìm cách làm thỏa-thích khẩu dục.

H. – Thế nào là pháp-thân như tôi thường thấy trong Sám-giảng:

                            Tính xong món nợ lần-khân,

                        Thoát vòng cương-tỏa pháp-thân nhẹ-nhàng.

Đ. – Pháp-thân là chơn-thân của vạn pháp, thể lượng rất rộng lớn như hư-không, chẳng có sắc tướng gì chỉ được, lúc nào cũng thường-nhiên thanh-tịnh. Hết thảy muôn loài đều có pháp-thân, nhưng vì mê-muội mà thành ra cách-biệt.

Trong kinh Phật có câu: Phật chơn pháp-thân do như hư-không, ứng vật hiện hình như thủy trung nguyệt. Nghĩa là chơn pháp-thân của Phật ví như hư-không, tùy vật mà hiện hình như trăng dưới nước.

H. – Nên hiểu thế nào hai chữ bác-lãm, như trong đoạn văn dưới đây:

                        Nào ai biết tâm ta đời bác-lãm,

                        Kiếp người đời chùm gởi bám vào cây;

                        Ở thế-gian ai rõ kẻ chơn Thầy,

                        Dắt sanh-chúng lìa nơi sông mê khổ.

Đ. – Theo câu này, bác-lãm có nghĩa là hiểu biết khắp mọi vật. Đức Thầy cho biết rằng tâm Ngài vẫn thấu triệt mọi sự chơn giả, căn-cơ của người mà mấy ai được hiểu, nhứt là Ngài hiểu rõ kiếp tạm giả của con người không được bền chắc, chẳng khác chùm gởi bám vào cây. Thế cho nên Ngài phương-tiện dùng kế mầu mà đem người ra khỏi sông mê bể khổ.

Xét theo đó thì còn có hành-động khuất-lấp nào mà qua được đời bác-lãm của Ngài.

H. – Trong câu:

                        Nỡ đâu lại vày bừa đồng-loại,

                        Cũng gốc người Thượng-đế xuống trần.

Nên hiểu thế nào câu: cũng gốc người Thượng-đế xuống trần?

Đ. – Cứ theo nguyên-lý của vạn vật thì Đức Ngọc-đế với nhơn-gian cùng đồng một khối linh-quan như nhau. Từ khi khởi ra vọng-niệm sai-lầm mới có sự thăng trầm khác biệt mà kẻ tạo phước thì được siêu rỗi lên cõi Trời, còn người tạo tội thì đọa xuống cõi thế. Nếu người biết quày đầu hướng thiện, gieo rải phước duyên thì đến lúc mạng chung sẽ được trở về cội cũ như Đức Ngọc-đế.

H. – Sáu đường là những đường nào, như câu:

                            Bể trầm-luân khô cạn sáu đường,

                            Tăng-sĩ mới trở về nơi thanh-tịnh.

Đ. – Cõi phàm có sáu đường luân-hồi. Con đường luân-hồi không nhứt-định, chỉ tùy ở nghiệp nhơn của mỗi người vào:

        1o Cõi Trời,

        2o Cõi người

        3o Cõi Thần,

        4o Ngạ quỉ,

        5o Súc sanh,

        6o Địa-ngục.

H. – Trong câu:

                        Tâm linh mắt thánh xem ba cõi,

                       Tánh hiển tai thần lóng bốn phang.

Hai tiếng "ba cõi" có đồng nghĩa với hai tiếng "tam cõi" trong câu dưới đây không?

Trung-ương tam cõi đều hòa mặt,

Ta mới thảnh-thơi trở gót hài.

Đ. – Danh-từ  "ba cõi" ở câu trên là chỉ:

        1o Dục giới,

        2o Sắc giới,

        3o Vô sắc giới.

Còn danh-từ "tam cõi" ở dưới thì chỉ:

        1o Thiên hoàng,

        2o Địa hoàng,

        3o Nhơn hoàng.

H. – Xin quí ông giải-thích hai Phạn-ngữ  "Nam-mô" và "Tu-rị" trong câu:

                        Cứu khổ Nam-mô vô-lượng kiếp,

                        Diệt nàn Tu-rị hữu thiên kinh.

Đ. – Nam-mô là phiên-âm của tiếng Phạn Namab, Tàu dịch có nhiều nghĩa: hoặc qui-mạng, hoặc kính lễ, hoặc cứu ngã…

Cứ theo đó thì Nam-mô có nghĩa là chúng-sanh hết lòng cung kính, nương theo Đức Phật mà yêu cầu Ngài cứu cho khỏi sự khổ não, đặng mọi sự an vui.

Tu-rị vốn là một câu chú: tu-tu-rị hoặc tu-đa-rị của nhà Phật, có cái hiệu-lực làm tiêu-tan mọi tai nàn.

H. – Tại đâu chỉ niệm Di-Đà mà tan nghiệp-chướng, như câu dưới đây:

                        Niệm chữ Di-Đà tan chướng-nghiệp,

                        Thuyền từ Thầy rước lại non Bồng.

Đ. – Trong kinh Đại-Tập có nói người chí-thành niệm một tiếng Phật sẽ tiêu-diệt tội nặng sanh tử tám muôn ức kiếp. Như vậy đủ minh-chứng rằng niệm một tiếng Di-Đà có thể làm tan mọi nghiệp chướng.

Bằng chứng là sách "cận-đại vãng sanh truyện" có kể lại việc ông Liên-Hàng phạm tội sát, nhưng nhờ chí-tâm niệm Phật và nhờ người hộ-niệm mà được vãng sanh.

H. – Sao không đem trí-tuệ sánh với vật gì khác, lại sánh với cây kiếm là một vũ-khí có tánh-cách sát-sanh, như tôi thường thấy trong Sám-giảng, chẳng han:

                        Kiếm huệ dứt xong rồi quả báo,

                        Lo gì cửa Phật chẳng chen vào.

Hay là:

                        Mài gươm trí cho tinh cho khiết,

                        Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không.

Đ. – Vẫn biết loại gươm kiếm là một thứ vũ-khí thường dùng vào việc sát hại; chính vì cái tánh bén của nó mà người tu-hành đem ví với trí-huệ sắc bén của mình trong việc sát thủ sáu giặc trong bản thân cũng như trường-hợp của một vị tướng dùng gươm kiếm để mà sát địch.

Bởi thế mà danh-từ A-la-hán có nghĩa là sát-tặc.

H. – Ngũ hương là những gì, như câu:

                        Cầu tu cho đạt ngũ hương,

                    Huơi gươm trí-huệ Ma-vương hãi-hùng.

Đ. – Trong kinh Pháp-bảo-đàn, Đức Lục-tổ có giải nghĩa ngũ-hương như vầy:

Một là Giới-hương, tức là trong tâm mình không quấy, không dữ, không ganh ghét, không tham, không gian, không cướp hại; vậy gọi là Giới-hương.

Hai là Định-hương, tức là trông thấy các cảnh-tượng lành dữ mà tâm mình chẳng loạn động; vậy gọi là Định-hương.

Ba là Huệ-hương tự tâm mình không ngăn ngại, hằng lấy trí-tuệ xem soi tự-tánh, chẳng tạo các điều ác, tuy tu các nghiệp lành mà tâm chẳng chấp trước, kính người trên, nghĩ kẻ dưới, thương xót những hạn cơ-bần; vậy gọi là: Huệ-hương.

Bốn là Giải-thoát hương, tự tâm mình không chỗ vịn-níu, chẳng nghĩ lành, chẳng nghĩ dữ, tự-tại không ngăn-ngại; vậy gọi là Giải-thoát hương.

Năm là Giải-thoát tri-kiến hương là tự tâm mình đã không vịn-níu theo đường thiện, đường ác, mà cũng chẳng nên đắm theo cái "không" và giữ lấy cái "vắng", cần phải học rộng nghe nhiều, biết bổn tâm minh, suốt cả lý Phật, hòa sáng tiếp người, không tướng nhơn ngã, thẳng đến khi thành đạo Bồ-đề, chơn-tánh vẫn chẳng dời đổi; vậy gọi là Giải-thoát tri kiến hương

H. – Thế nào là giác-tánh chơn-như và thế nào là kim-thân, như câu:

                            Đem về giác-tánh chơn-như,

                        Kim-thân thị-hiện dứt trừ tử sanh.

Đ. – Chơn có nghĩa là thường-trụ, như có nghĩa là bất-biến. cho nên chơn-như có nghĩa là thường-trụ bất-biến. Tánh của nó không nhơ không sạch, không diệt không sanh, không động lay, không thêm bớt, nhưng một mực bình-đẳng, không riêng khác.

Còn kim-thân có nghĩa là thân kim-cang, tánh nó có ba đặc-thắng:

1o Không hư hoại,

2o Hơn hết trong các món báu,

3o Hơn hết các chiến cụ.

Nói tóm lại kim-thân tức là cái thân chơn-thật công đức trang-nghiêm, không hư hoại, lìa các tội lỗi của đấng Như-Lai.

H. – Nên hiểu thế nào là hồi-hướng, như câu;

                        Đem thân hồi-hướng gốc lành,

                        Làm tôi Phật-tổ chí thành chí chơn.

Đ. – Hồi là chuyển lại, hướng là ngó về. Đem tâm hồi-hướng có nghĩa là khởi lòng đại-bi cứu độ chúng-sanh, xoay chuyển công-đức căn-lành hường về ba chỗ

1o Chỗ sở chứng chơn-như thật-tướng,

2o Chỗ sở cầu vô thượng Bồ-đề,

3o Chỗ sở độ tất cả chúng-sanh.

Ngoài ra còn được hồi-hướng công-đức cho Cửu-huyền Thất-tổ được siêu-thăng Tịnh-độ.

H.- Sa-môn nghĩa ra làm sao, như câu:

                            Sa-môn chí những tín-đồ,

                        Mai-dong cản mối tựa hồ gớm-ghê.

Đ. – Sa-môn, Tàu dịch là cần-tức, nghĩa là cầu tu giới, định, huệ, tức-diệt tham, sân, si; ấy là tên chung của người xuất-gia.

H. – Nên hiểu thế nào là bờ giác ngạn, trong câu:

                            Chúc ông thoàn nhã vững chèo,

                        Qua bờ giác-ngạn sớm treo gương mầu.

Đ. – Giác-ngạn là bờ giác, đối-đãi lại mê-tân là bến mê. Lìa khỏi bờ mê vô-thường qua bến giác bất sanh-diệt gọi là đáo bỉ-ngạn, tức là thành Phật.

H. – Trong mấy câu này:

                        Nhớ lời Phật khi xưa dạy sửa,

                        Của thế trần như mật dính dao;

                        Kẻ ham ăn kê miệng liếm vào,

                        Chừng đứt lưỡi mới là hối-hận.

                        Chừng đứt lưỡi mới là hối-hận.

Đức Thầy dẫn ở Kinh nào?

Đ. – Mấy câu này Đức Thầy dẫn theo kinh Tứ-thập-nhị chương ở đoạn thứ bảy như vầy:

"Đức Thế-tôn dạy rằng: Sắc đẹp với sang giàu, hai thứ giống như miếng mật dính trên lưỡi dao. Những người ham muốn kê miệng liếm liền bị đứt lưỡi. Người tham danh-lợi chết vì lợi vì danh bởi sự tham, lại cũng như vậy."

H. – Trong câu:

                        Tội tiêu phước hưởng trường tồn,

                        Không còn mắc nẻo dạy khôn luân-hồi.

Thế nào gọi là luân-hồi?

Đ. – Luân là bánh xe, hồi là xoay tròn. Chúng-sanh trong sáu đường cứ bỏ thân này lại mang thân khác, lên lên xuống xuống tiếp nối nhau luôn như sự xoay tròn của bánh xe không biết đâu là khởi đầu, chẳng qua vì cái nghiệp tội không ngằn mé của chúng-sanh mà ra. Cho nên muốn ra khỏi luân-hồi, con người cần phải diệt trừ các tội ác, tạo-tác phước-điền, mở khai trí-tuệ, lòng không còn bận mảy trần-ai, tức-nhiên quả khổ đã đoạn trừ, nhân lành đã sung-mãn thì dầu muốn luân-hồi cũng không sao có được.
 
Comments