9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 23‎ > ‎

17. Tìm hiểu về Tết cổ truyền - Huỳnh Long Giang

Tìm hiểu về TẾT cổ truyền

của dân tộc Việt Nam

                                                                                                 Huỳnh Long Giang sưu tầm.

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 23

 
         Nhân dịp đầu năm mới, chúng tôi xin kính chúc Quý đồng đạo và quý độc giả cùng gia quyến: Phước Lộc tràn đầy, sức khỏe An khang và vạn sự Như Ý. Sau đây là bài viết về "Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam" mà chúng tôi sưu tầm được từ các trang trên Internet, xem như món quà đầu Xuân gởi đến chư Quý vị.

         Trước hết, ai cũng phải công nhận Tết Nguyên Đán là lễ hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, phổ biến rộng rãi nhất, tưng bừng và nhộn nhịp nhất của dân tộc.

         Từ những thế kỷ xa xưa và dưới các thời Đinh, Lê, Lý, Trần ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách trang trọng mà phần "Lễ" cũng như phần "Hội" đều rất phong phú cả nội dung cũng như hình thức. Việc tổ tiên chúng ta xác định Tết đúng vào thời điểm kết thúc một năm cũ, mở đầu một năm mới theo âm lịch, là một chu kỳ vận hành vũ trụ, đã phản ánh tinh thần hòa điệu giữa con người với thiên nhiên vạn vật.

         - Hai chữ "Nguyên Đán" ( ) có gốc từ chữ Hán; "Nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "Đán" có nghĩa là buổi sáng sớm.

- Chữ "Tết" do chữ "Tiết" () đọc trại mà thành cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán". Theo lịch nông nghiệp Á Đông, người ta đã phân chia thời gian trong một năm ra thành 24 tiết khác nhau theo nhu cầu của các mùa vụ để phát triển nghề trồng trọt. Từ đó, Tết được xem là sự khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, thuận theo sự vận hành của vũ trụ, theo sự luân chuyển các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; cho nên nó có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính. Đồng thời, Tết cũng là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần sum họp, đoàn tụ, thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ công ơn Tổ tiên, ông bà, cha mẹ.

         Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm "Ơn trời mưa nắng phải thì", người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời... Người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày nầy.

         Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên Đán, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trước hết đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả những người xa xứ cách hàng ngàn cây số, vẫn mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ Tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà, nơi mà gót chân một thời bé dại đã tung tăng và được sống lại với bao kỷ niệm đầy ắp yêu thương ở nơi mình cất tiếng chào đời.

"Về quê ăn Tết"

         Tết là dịp để con người trở về cội nguồn. Ai dù có đi đâu xa vào ngày này, cũng cố trở về quê hương để được sum họp với người thân dưới mái ấm gia đình, thăm phần mộ Tổ tiên, gặp lại họ hàng, làng xóm. Ngày Tết cũng làm cho con người trở nên vui vẻ hơn, độ lượng hơn. Nếu ai có gì đó không vừa lòng nhau thì dịp này cũng bỏ qua hết để mong năm mới sẽ ăn ở với nhau tốt đẹp hơn, hòa thuận hơn. Có lẽ đó là ý nghĩa nhân bản của Tết Việt Nam.

         Tết cũng là dịp "tính sổ" mọi hoạt động của một năm qua, liên hoan vui mừng chào đón một năm với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng, đoàn thể. Nhưng rõ nét nhất là không khí chuẩn bị Tết của từng gia đình. Bước vào bất cứ nhà nào trong thời điểm này, ai cũng có thể nhận thấy ngay không khí chuẩn bị Tết vô cùng nhộn nhịp, từ việc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân ở xa về... Đối với các gia đình lớn, họ hàng đông, có quan hệ xã hội rộng, đông con cháu, nhiều dâu rể, thì công việc chuẩn bị lại càng phức tạp hơn.

         Theo tập tục, đến ngày 23 tháng Chạp là ngày đưa tiễn ông Táo về Trời để tâu việc trần gian, thì không khí Tết đã bắt đầu rõ nét.

         Ngày xưa dưới thời phong kiến, từ triều đình đến quan chức hàng Tỉnh, hàng Huyện đều nghỉ việc sau lễ "Phất thức" (tức lễ rửa ấn, rửa triện). Ở cấp Triều đình, trong lễ nầy có sự hiện diện của nhà vua, các quan đều mặc phẩm phục uy nghiêm. Xem thế đủ biết rằng ngày Tết được coi trọng như thế nào. Sau đó, các quan cất ấn triện vào tủ, niêm phong cẩn thận. Không một văn bản nào được kiềm ấn, mọi pháp đình đều đóng cửa. Con nợ không thể bị sai áp, các tội tiểu hình không bị trừng phạt, tội nặng thì giam lại chờ đến ngày mồng 7 tháng Giêng (lễ Khai hạ) mới tiến hành giải quyết. Như vậy, ngày Tết kéo dài từ ngày 23 tháng Chạp (một tuần trước giao thừa) đến mồng 7 tháng Giêng (một tuần sau giao thừa).

         Không biết Tết cổ truyền của dân tộc xuất hiện từ bao giờ, nhưng đã trở nên thiêng liêng, gắn bó trong tâm hồn, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam. Những tục lệ trò vui trong dịp Tết, chiếc bánh chưng xanh, mâm ngũ quả trên bàn thờ gia tiên, cành đào, chậu quất khoe sắc trong mỗi gia đình đã trở thành một phần hình ảnh của quê hương để mỗi người Việt Nam dù sống ở nơi đâu mỗi độ Xuân về lại bồi hồi nhớ về đất nước với bao tình cảm nhớ nhung tha thiết. Làm sao quên được thuở ấu thơ cùng đám trẻ con ngồi vây quanh nồi bánh chưng sôi sùng sục chờ giờ vớt bánh! Làm sao có thể quên được những phiên chợ Tết rợp trời hoa, chan hòa màu sắc! V.v...và v.v...

"Ba ngày Tết"

         - Ngày mùng Một tháng Giêng: là ngày Tân niên đầu tiên và được coi là ngày quan trọng nhất trong dịp Tết. Không kể những người tốt số, hợp tuổi được mời đi xông đất, vào sáng sớm ngày nầy, người Việt ngày xưa thường không ra khỏi nhà, chỉ bày cỗ cúng Tân niên, ăn tiệc và chúc tụng nhau trong nội bộ gia đình. Đối với những gia đình đã tách khỏi cha mẹ và cha mẹ vẫn còn sống, họ đến chúc tết các ông cha theo tục:"Mùng Một Tết cha".

         - Ngày mùng Hai tháng Giêng: ngày này cũng có những hoạt động cúng lễ tại nhà vào sáng sớm. Sau đó, nguời ta chúc tết các bà mẹ theo tục "Mùng Hai Tết mẹ". Riêng đàn ông chuẩn bị lập gia đình còn phải đến nhà cha mẹ vợ tương lai (Nhạc gia) để chúc Tết theo tục Đi sêu.

         - Ngày mùng Ba tháng Giêng: Sau khi cúng cơm tại nhà theo lệ cúng ít nhất đủ ba ngày Tết, các học trò thường đến chúc Tết thầy dạy học theo tục "Mùng Ba Tết thầy". Cho nên Ca dao Việt Nam có câu:

                                           Mùng Một ăn Tết ở nhà,

                          Mùng Hai tết vợ, mùng Ba tết Thầy.

Hay là:

                                           Mùng Một thì ở nhà cha,

                          Mùng Hai nhà vợ, Mùng Ba nhà thầy.

Hoặc là:

                                           Mùng Một tết cha,

                          Mùng Hai tết mẹ, Mùng Ba tết thầy.

         Đồng thời, trong những ngày này người ta thường đi thăm viếng, hỏi thăm nhau, chia sẻ những điều đã làm trong năm cũ và những điều sẽ làm trong năm mới.

Tết Nguyên Đán có từ bao giờ?

         Thật ra, Tết Nguyên Đán hay nói ngắn hơn là Tết có từ đời Ngũ Đế, Tam Vương bên Trung Quốc. Đời Tam Vương, nhà Hạ, chuộng màu đen, nên chọn tháng đầu năm, tức tháng Giêng, nhằm tháng Dần (con cọp). Nhà Thương, thích màu trắng, lấy tháng Sửu (con trâu), tháng Chạp làm tháng đầu năm. Qua nhà Chu (1050-256 trước Công nguyên), ưa sắc đỏ, chọn tháng Tý (con chuột), tháng Mười một làm tháng Tết.

         Đến đời Đông Chu, Khổng Phu Tử ra đời, đổi ngày Tết vào tháng Giêng, đó là tháng Dần. Mãi đến đời Tần (thế kỷ III trước Công nguyên), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi (con heo), tức tháng Mười. Cho đến khi nhà Hán trị vì, Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng) như đời nhà Hạ; và từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

         Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Heo, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loài Người và ngày thứ tám mới sinh ra Ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mùng Một cho đến hết ngày mùng Bảy.

Cúng Giao thừa (hay lễ Trừ tịch):

         Theo từ điển Hán-Việt của Ðào Duy Anh, GIAO THỪA nghĩa là cũ giao lại, mới đón lấy. Do đó, lễ cúng Giao thừa là để đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ Trừ tịch còn là lễ để "khu trừ ma quỷ", thường cử hành vào lúc giao thừa nên còn mang tên là lễ Giao thừa.

         Có thể nói, ngày Tết chính thức bắt đầu từ giao thừa. Đây là thời điểm thiêng liêng nhất trong năm, thời điểm giao tiếp giữa năm cũ và năm mới, thời điểm con người giao hòa với thiên nhiên, Tổ tiên trở về sum họp với con cháu. Cúng giao thừa xong cả nhà quây quần quanh mâm cỗ đã chuẩn bị sẵn, uống chén rượu đầu tiên của năm mới, con cái chúc thọ ông bà cha mẹ, người lớn cho trẻ em tiền quà mừng tuổi đựng trong những bao giấy đỏ, còn gọi là bao "Lì Xì" xinh xắn và hấp dẫn. Có nhà còn tổ chức cờ bạc, rượu chè hay ca hát cho đến sáng.

Cúng ai trong Lễ Giao thừa ?

         Người xưa quan niệm rằng: Mỗi năm Thiên đình lại thay toàn bộ quan quân trông nom công việc dưới hạ giới, đứng đầu là một vị Hành Khiển có quyền hạn như quan Toàn quyền. Năm nào quan Hành Khiển giỏi giang anh minh, liêm khiết thì hạ giới được nhờ như: được mùa, ít thiên tai, không có chiến tranh, bệnh tật... Trái lại, gặp phải ông Hành Khiển nào lười biếng kém cỏi, tham lam... thì hạ giới chịu mọi thứ khổ. Ngoài ra, cũng theo quan niệm cũ, phút Giao thừa là lúc bàn giao, các quan quân cai quản hạ giới hết hạn kéo về trời và quan quân mới được cử đến thì ào ạt kéo xuống hạ giới tiếp tục cai quản thiên hạ.

         Trong thời điểm nầy quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vã (nhưng mắt trần ta không nhìn thấy được), thậm chí có quan quân còn chưa kịp ăn uống gì. Những phút ấy, các gia đình đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả, toàn đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với lòng thành tiễn đưa người nhà Trời đã cai quản mình năm cũ và đón người nhà Trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn cấp nên các vị không thể vào trong nhà khề khà mâm rượu thịt mà chỉ có thể dừng lại vài giây bên ngoài ăn vội ăn vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà.

         Vì cứ tưởng tượng thêm thắt các hình ảnh nhà Trời như vậy nên nhiều nhà có của đua nhau cúng Giao thừa rất to và nghĩ cách làm mâm cúng giao thừa thật là thịnh soạn bằng những món ngon vật lạ, để các quan chú ý, quan tâm đến gia chủ hảo tâm mà phù hộ cho họ với những ưu ái đặc biệt.

 

Những tục lệ trong đêm trừ tịch

         Sau khi làm lễ giao thừa, người Việt Nam có những tục lệ riêng mà cho đến nay, từ thôn quê đến thành thị, vẫn còn nhiều người tôn trọng thực hiện.

         - Đi Lễ chùa:

         Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa để cầu phúc, cầu may, để xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và gia đình được an cư lạc nghiệp.

         - Kén hướng xuất hành: Khi đi lễ, người ta thường kén giờ và hướng xuất hành, phải đi đúng hướng đúng giờ để gặp may mắn quanh năm.

         - Hái lộc đầu năm: Ði lễ đình, chùa xong người ta có tục hái trước cửa đình, cửa chùa một cành cây gọi là cành Lộc mang về ngụ ý là "lấy Lộc" của Trời đất, Thần Phật ban cho. Cành lộc này được mang về cắm trước bàn thờ Tổ tiên cho đến khi tàn khô.

         - Hương lộc: Có nhiều người thay vì hái cành lộc lại xin lộc tại các đình, chùa, bằng cách đốt một nắm hương, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó về cắm vào bình hương bàn thờ nhà mình. Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt được lấy từ nơi thờ tự về tức là xin Phật, Thánh phù hộ cho được phát đạt quanh năm.

         - Xông đất (hay đạp đất, mở hàng): Thông thường người ta kén một người "dễ vía" trong gia đình ra đi từ trước giờ trừ tịch, rồi sau lễ trừ tịch thì xin hương lộc hoặc hái cành lộc ở đình chùa mang về. Lúc trở về đã sang năm mới và ngưòi này sẽ tự "xông nhà" cho gia đình mình, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đình. Nếu không có người nhà "dễ vía" người ta phải nhờ người khác "tốt vía" để sớm ngày mùng Một đến xông nhà trước khi có khách tới chúc tết, để người này đem lại sự may mắn dễ dãi.

 

         - Vì sao có tục kiêng hốt rác đổ đi trong ba ngày Tết?

         Trong "Sưu thần ký" có chuyện người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy thần cho một con hầu tên là Như Nguyệt, đem về nhà được vài năm thì giàu to. Một hôm, nhân ngày mùng một Tết, Âu Minh đánh nó, nó chui vào đống rác mà biến mất, từ đó nhà Âu Minh lại nghèo đi. Kể từ đó có tục kiêng không dám ht rác ngày Tết.

         Vì kiêng ht rác ba ngày Tết nên ngày 30, dầu bận rộn đến đâu cũng phải dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và những ngày Tết thì mọi người phải hết sức giữ gìn nhà cửa không vứt rác bừa bãi.

         - Quà Tết, lễ Tết: việc biếu quà Tết, lễ Tết để bày tỏ ân nghĩa hay tình cảm với người ân là điều đáng quý. Học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết cha mẹ vợ... Nhưng cũng đừng nên gò bó, câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: Không có quà, ngại không dám đến. Tuy nhiên, "Lời chào cao hơn mâm cỗ" như Tục ngữ Việt Nam có dạy.

         - Lễ mừng thọ: Ngày xưa, ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ Lục tuần, Thất tuần, Cửu tuần... tính theo tuổi Mụ (hay theo Âm lịch). Ngày tết ngày Xuân cũng là dịp mọi người được rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui nên tổ chức Lễ chúc thọ Ông Bà, Cha Mẹ để đáp đền công ơn dưỡng dục.

         - Khai bút đầu năm: Cũng vào dịp đầu Xuân, người có chức tước Khai ấn, học trò sĩ phu Khai bút, nhà nông Khai canh, thợ thủ công Khai công, người buôn bán mở hàng lấy ngày. Sĩ, Nông, Công, Thương "Tứ dân bách nghệ" của dân tộc Việt Nam vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hanh thông làm ăn suôn sẻ, đầu xuân chọn ngày tốt đẹp, bắt tay lao động sớm, tránh tình trạng cờ bạc, rượu chè, hội hè đình đám, vui chơi quá đà.

         Sau ngày mùng Một, dù có mải mê vui tết, hoặc còn kế hoạch du xuân, đón khách, ai cũng chọn ngày "Khai nghề", "Làm lấy ngày". Nếu như mùng Một là ngày tốt thì chiều mùng Một đã bắt đầu. Riêng "Khai bút" thì khi giao thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo bắt đầu không kể mùng Một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình mình một sản phẩm hay dụng cụ gì đó (nguyên vật liệu đã chuẩn bị sẵn). Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, và người đi chợ phần lớn là đi chơi Xuân.

         Tóm lại, khi bàn về Tết cổ truyền của Dân tộc, chúng ta nên lưu ý đến những sự việc cần và phải có liên quan đến ngày Tết như sau:

         - Lịch sử, Nguồn gốc ra đời của ngày Tết,

         - Quan niệm về ngày Tết tùy theo địa dư và nếp sống văn minh khác nhau của loài người,

         - Sắm tết gồm mua quần áo mới, mua thức ăn gồm rượu thịt, gà vịt và hoa quả...

         - Dọn dẹp, trang trí nhà cửa. Chuẩn bị Mâm ngũ quả, Cây nêu, Tranh tết, Câu đối Tết, Hoa tết (Hoa đào, Hoa mai, Cây quất...)

         - Ghi nhớ, thực hành nhịp nhàng các giai đoạn chính trong ngày Tết, Những ngày cuối năm, Ngày cúng Ông Công, Ông Táo, Ngày dựng Cây nêu, Ngày gói bánh chưng, bánh dày, Ngày Tất niên,

         - Sắp dọn bàn thờ cúng Tổ tiên Ông Bà, Cúng Giao thừa ngoài trời, Cúng Giao thừa trong nhà,

         - Bảy ngày đầu năm, Ẩm thực ngày Tết, Cờ bạc, Khai hạ

- Ba ngày Tân niên gồm có: Xông đất, Xuất hành và hái lộc, Chúc Tết, Thăm viếng họ hàng, hàng xóm, bạn bè và đồng nghiệp, Mừng tuổi Lì xì, Múa lân, Hóa vàng...

         Một số ít phong tục chỉ còn tồn tại phảng phất là Sêu Tết nhà vợ, Trồng và hạ cây nêu, Gánh nước đêm Giao thừa, Chúc Tết theo thứ tự, Lạy sống ông bà...

         Và một vài phong tục vẫn đang tồn tại rộng rãi là Mua và xin câu đối trước Tết, Sắm Mâm ngũ quả và bàn thờ Gia tiên, Xông nhà, Chọn hướng xuất hành, Lễ chùa cúng Phật và xin xăm, Khai ấn và Khai bút,...

         Trên đây là Những phong tục tập quán và sinh hoạt trong các ngày Tết cổ truyền của Dân tộc. Tuy nhiên, theo trào lưu tiến hóa và văn minh của nhân loại, những nghi thức xét ra thấy phiền phức rườm rà và lạc hậu đã được người Việt chúng ta loại bỏ dần dần, nhất là những tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thì những hủ tục như cờ bạc, rượu chè, đốt giấy tiền vàng mã hay giết thú vật để cúng tế trong ba ngày Tết thì hầu như không còn nữa.

         Bởi vì, trong khi mọi người nô nức vui xuân trong sòng bạc, bên chén rượu với sự sát sanh vô cớ vì mê tín dị đoan thì Đức Huỳnh Giáo Chủ lại dạy tín đồ: "Hằng năm đến ba ngày xuân nhựt phải ăn chay ngày 29, 30, và mồng một, trong mấy ngày ăn chay phải cúng chay". Vấn đề rượu trà, cờ bạc chẳng những ngày thường Ngài cũng cấm hẳn. Trong điều răn cấm thứ nhứt Ngài dạy tín đồ "chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm..." Và nơi khác khi bàn về tứ đổ tường Ngài đã quyết định: "Về sự nầy, chẳng có cuộc vui nào có thể châm chế đặng ". (trích từ Quyển Sáu - Tôn chỉ Hành đạo).

         Còn việc dựng nêu, treo bùa đêm trừ tịch và giết gà cúng ra mắt bữa mùng ba đều là dị đoan mê tín, Ngài bảo nên thôi: "đến ngày mùng ba ra mắt không nên sát sanh loài vật mà cúng tế Trời Phật, chỉ dùng bông hoa mà cúng thôi". Chúng ta hãy lắng nghe lời chúc xuân của Ngài:

                          Chúc mừng năm mới, mới buổi qua,

                          Bỏ bớt dị đoan chẳng cúng gà.

                          Tre nêu phơ phất không còn thấy,

                          Ra mắt tiêu mòn bữa thứ ba.

         Qua sự tìm hiểu về ý nghĩa, nguồn gốc của ba ngày Xuân với những điều chỉ dạy của Đức Thầy, chúng ta thấy rằng Ngài chính là vị cổ Phật lâm phàm - sinh nhi tri - không học mà quán thông kim cổ, Ngài tỏ ý chẳng bằng lòng những việc mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu trà, xa hoa phung phí trong ba ngày Tết, bởi những thứ ấy không đem lại phúc lợi gì cho chúng sanh mà còn gây tai hại cho xã hội nhân quần. Thế nên, Ngài mới nêu lên mấy câu hỏi trong bài "Cám cảnh dân nghèo":

                          Nhắn nhủ khắp nơi hỏi một bài,

                          Bao ngày Xuân nhựt bởi nơi ai ?

                          Rượu trà cờ bạc ôi phung phí,

                          Chẳng biết lệ xưa của ai bày ?

để vừa xác nhận rằng thời xưa không bao giờ chấp nhận những thứ đó, và vừa gợi ý cho tín đồ phăng tìm nguồn gốc xuất phát và ý nghĩa tốt lành của ba ngày Xuân, hầu trở về nền xưa nếp cũ./.

                                                                    Huỳnh Long Giang


Comments