9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 23‎ > ‎

16. Phật Thầy cắm thẻ có phải để trừ - Nguyễn Hoài Ân

PHẬT THẦY cắm Thẻ

có phải để Trừ Ếm không ?

                                                                                                      Nguyễn Hoài Ân

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 23

 
         Có nhiều vị học giả khi nghiên cứu về phái Bửu Sơn Kỳ Hương cho rằng Đức Phật Thầy Tây An sai Đức Cố Quản, tức là ông Trần Văn Thành đi cắm 5 cây thẻ, nhằm mục đích để hóa giải sự ếm đối của cha con Mạc Cửu ếm trừ các long mạch ở vùng Thất Sơn để nơi đây không thể phát sinh ra những hiền tài xuất chúng có hại cho chính giòng họ Mạc mà còn nguy biến cho cả đất Trung Hoa nữa. Điều nầy ta nên cần xét lại luận cứ trên có xác đáng không? Hay là một sự lập luận bình thường thiếu căn bản vững về khoa học, lịch sử và cũng trái lại chủ trương của môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương là không tin vào bùa chú dị đoan. Vậy ta thử đi vào sự xét luận tại sao Đức Phật Thầy sai Đức Cố Quản đi cắm 5 cây thẻ trên có ý nghĩa với mục đích gì.

         Sau khi đã hoàn thành xong trại ruộng ở Thới Sơn và Láng Linh. Phật Thầy sai một vị đại đệ tử của Ngài là ông Trần Văn Thành, tức Đức Cố Quản đi cắm 5 cây thẻ theo lời chỉ dạy của Ngài như sau:

I.  Tên Và Vị Trí Cắm Thẻ.

         Đức Phật Thầy trao cho Đức Cố Quản Năm Cây thẻ, bảo đi cắm vào năm vị trí, có tên sau đây:

         1.  Đông Phương Thanh Đế.

         Cây thẻ thứ nhất gọi là Đông Phương Thanh Đế đưọc cắm trong vàm rạch Hang Tra, làng Vĩnh Hanh, quận Châu Thành, Long Xuyên (tên gọi xưa là Đông xuyên).

         2. Bắc Phương Hắc Đế.

         Cây thẻ thứ nhì là Bắc Phương Hắc Đế được cắm tại ngọn Ngã Bát, cách chợ Cái Dầu vào khỏang 3 cây số, về hướng Tây, thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, quận Châu Phú, tỉnh Châu Đốc. Nơi đó hiện nay còn có đền thờ mà người ta thường gọi là Cốc Ông Đạo Cậy hay Dinh Ông Thẻ.

         3.  Tây Phương Bạch Đế.

         Cây thẻ thứ ba là Tây Phương Bạch Đế được cắm gần biên giới Việt Miên, vùng Quạ Kêu, Ba Ông Đá (Bà Bài), bên kia kinh Vĩnh Tế, giáp biên giới Việt Miên, thuộc xã Vĩnh Nguơn và Vĩnh Tế, quận Châu Phú, tỉnh Châu Đốc.

         4.  Nam Phương Xích Đế.

         Cây thẻ thứ tư là Nam Phương Xích Đế được cắm ở Giồng Cát thuộc rừng tràm, miệt Lình Quỳnh, Rạch Giá?

         5.  Trung Ương Huỳnh Đế.

         Cây thẻ thứ năm là Trung Ương Huỳnh Đế được cắm phía trước núi Ông Cấm (Thiên Cẩm Sơn), bên cạnh giếng nước của Đức Phật Thầy cho đào thuộc xã Tú Tề, Châu Đốc.

         Tất cả những cây thẻ nầy đều làm bằng gỗ Lào Táo, rất cứng, có sức chịu đựng với thời gian, nếu đem chôn dưới nước hay sình lầy cả trăm năm cũng không bị hư mục. Đầu thẻ được chạm một búp sen. Dân chúng vì cảm mến đức độ của Đức Phật Thầy và Cố Quản, nên lập dinh thờ các cây thẻ nầy tại Vĩnh Hanh và Thạnh Mỹ Tây như nói ở trên.

II.  Nguyên Nhân Cắm Thẻ.

         Trước khi nói đến nguyên nhân nào Đức Phật Thầy sai Đức Cố Quản đi cắm thẻ ở vùng Thất Sơn, Châu Đốc. Vì có nhiều luận cứ cho rằng Đức Phật Thầy sai Đức Cố Quản đi cắm thẻ để hoá giải các cây ếm của người Tàu (trong đó có cha con họ Mạc ở Hà Tiên) trên đất nước ta ở vùng Thất Sơn, bế quan long mạch để đất nước ta không phát sinh ra những hiền tài. Như một số các vị niên trưởng trong khối tín đồ PGHH chúng ta đã từng giải luận. Điều nầy có chính xác hay không? Hay lập luận theo kiểu đàn anh đi trước nói sao, đàn em nói theo như vậy? Không cần phải tra cứu thêm để tìm về càng gần sự thật thì càng tốt.

         Trước khi đi sâu vào chi tiết. Tôi xin nói qua một chút về lý do người Tàu có mặt trên đất nước ta dưới thời chúa Nguyễn và về họ Mạc.

    1.  Lý do người tàu có mặt trên nước ta vào thế kỷ XVII.

         Như chúng ta đã biết, người Tàu tràn qua nước ta nhiều nhất là cuối đời nhà Minh. Năm 1611, nhà Kim hùng mạnh chỉ có hơn triệu dân từ Trung Nguyên tràn xuống diệt nhà Minh có gần 100 triệu dân, thành lập nhà Mãn Thanh. Các quan quân nhà Minh không chịu thần phục Mãn Thanh. Nên họ kéo xuống vùng biên giới giữa nước ta và nước Tàu hùng cứ vùng nầy, mưu đồ “diệt Thanh Phục Minh” từ đời nầy qua đời khác. Nhưng việc phục Minh diệt Thanh không thành, họ phải cướp bóc, buôn bán nha phiến dọc theo biên giới cả hai nước để sinh tồn. Thời gian kéo dài gần 200 năm. Sau trở thành quân Cờ Đen, giặc Tàu Ô là hậu duệ của những người nầy.

         Còn số khác, họ dùng thuyền xuống phía Nam, vào đàng trong xin chúa Nguyễn cho họ tạm trú, chúa Nguyễn chấp thuận. Họ định cư rải rác từ Bình Thuận, Quảng Nam cho đến phía Nam thuộc đất Chiêm Thành, Chân Lạp ngoài vòng kiểm soát của chúa Nguyễn, họ sống chung với lưu dân người Việt và dân địa phương.

         Ở đây, có một điểm ta nên nhớ là trong công cuộc mở mang bờ cõi về đất Phương Nam, đôi khi người lưu dân Việt Nam đi trước, chánh quyền mới lục tục kéo theo sau, mang thêm dân, qui khu, lập ấp, tổ chức chánh quyền, tạo nên nền hành chánh xã ấp, bổ nhậm quan chức trông coi.

         Đến năm 1679, có hai người Hoa tên là Dương Ngạn Địch và Trần Thắng Tài con cháu cựu thần nhà Minh, nổi lên chống Thanh phục Minh thất bại tại hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Họ đem cả gia quyến và bộ hạ trên 3000 người cùng 50 chiến thuyền ngược dòng sông Soài Rạp và Cửu Long đến định cư ở Định Tường, Sài Côn, Gia Định, Thủ Dầu Một, Biên Hòa. Đông nhất là Biên Hòa. Họ cùng các lưu dân Việt khai hoang, lập nên làng, xã, buôn bán rất sầm uất. Họ cũng được chúa Nguyễn ban cho quan tước để tiếp chúa trị an ở địa phương.

          Sau nầy, người Hoa bỏ xứ ra đi vì kinh tế hay vì chánh trị từ các nơi kéo đến làm ăn rất đông, họ quần tụ lại với nhau lập nên làng Minh Hương ở Biên Hòa. Do đó, người Tàu được người Việt gọi là người Minh Hương là vậy.

         Sau đó có một người Hoa tên là Mạc Kính Cửu, còn gọi là Mạc Cửu nổi lên chống nhà Thanh bị thất bại. Nên đem theo 400 người và gia quyến đến vùng đất Mang Khảm, tức là Hà Tiên ngày nay. Vùng đất nầy hoang vu, dân cư thưa thớt. Phá rừng, khai hoang lập nên bảy xã và chiếm đảo Phú Quốc, mở nên thương điếm, sòng bài, giao dịch thương mại với các nưóc phía Nam như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và thương thuyền của Âu Châu đôi khi cũng cặp bến ở nơi đây. Họ Mạc lúc nầy lập nên một tiểu vương quốc tại đây. Hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc vào Chân Lập cũng như chúa Nguyễn mặc dù vùng đất nầy của Chân Lập.

         Lúc bây giờ lãnh thổ của chúa Nguyễn chưa vượt qua khỏi đất Phan Rang, Phan Rí.

         Đây, tôi cũng xin mở ngoặc nói thêm một người có công mở mang lảnh thổ nước ta về phía Nam là ông Nguyễn Hữu Cảnh. Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu (Minh Vương) sai người con thứ ba của ông Nguyễn Hữu Dật là Nguyễn Hữu Kính (Nguyễn Hữu Cảnh), cháu chín đời của đại công thần nhà Lê, Nguyễn Trãi, làm Tổng binh đánh chiếm phần còn lại của đất Chiêm Thành vì vua Chiêm là Bà Tranh bỏ lệ triều cống. Năm 1694, Chiêm Thành coi như bị diệt vong.

         Năm 1698, chiếm Biên Hòa, Gia Định và Sài Côn (Sài Gòn) của Chân Lạp, ông đưa thêm vào đây 40.000 dân để khẩn hoang lập nghiệp.

         Năm 1699, vua của Chân Lạp là Nặc Ông Thu nổi lên chống chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn lại sai ông Nguyễn Hữu Cảnh đem quân ngăn giặc, ông lập một chiến lũy ở Vĩnh Long. Thắng được giặc, ông xua quân tiến thẳng qua Nam Vang. Nặc Ông Thu bỏ thành trốn chạy. Sau lại dâng biểu xin hàng và chịu lệ triều cống. Ông được lịnh rút quân về dưỡng binh tại cù lao Ông Chưởng thuộc quận Chợ Mới, tỉnh An Giang ngày nay. Trong bữa tiệc khao quân ông ngã bịnh mà mất. Được chúa truy thăng là Chưởng Cơ, Lễ Tài Hầu và được tùng tự tại Thái Miếu. Ngày nay dân chúng địa phương nhớ ơn ông, lập đền thờ ông gọi là Dinh Ông Chưởng tại cù lao nơi ông mất, được gọi là cù lao Ông Chưởng.

         2.  Mạc Cửu Xin Thần Phục Chúa Nguyễn.

         Mạc Cửu tạo nên một tiểu vương quốc tại Mang Khảm (Hà Tiên), hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc Chân Lạp mà cũng không lệ thuộc vào chúa Nguyễn. Nên khi bị quân Xiêm tấn công Mang Khảm bị tàn phá dễ dàng, gia đình Mạc Cửu bị bắt đưa về Xiêm. Nhờ sự khôn khéo mà cả gia đình Mạc Cửu trốn thoát trở về Mang Khảm.

         Lúc nầy binh lực của chúa Nguyễn ảnh hưởng rất mạnh đến toàn vùng Thủy Chân Lạp, ngay triều đình Chân Lạp còn phải thần phục họ Nguyễn để nhờ sự che chở đối phó với quân Xiêm. Tô Quân, gốc người Minh Hương hiến kế cho Mạc Cửu nên thần phục chúa Nguyễn để tránh sự xâm phạm của quân Xiêm. Mạc Cửu y lời, đến Phú Xuân dâng biểu xin thần phục chúa Nguyễn, năm Mậu Tý (1708) được Chúa ban cho mũ mão, cân đai, ấn triện và phong cho chức Tổng Binh trấn giữ Mang Khảm, sau đổi lại là trấn Hà Tiên. Kể từ đó Hà Tiên thuộc về nước ta. Mạc Cửu mất năm 1735 thọ 80 tuổi (1655-1735).

         3.  Luận Giải Nguyên Nhân Cắm Thẻ.

         Từ trước đến nay người ta chỉ luận giải đến hai nguyên nhân chính đưa đến sự cắm thẻ. Nhưng còn một nguyên nhân thứ ba rất quan trọng mà ít người để ý đến. Vậy ta thử lược qua các luận giải sau đây:

                 a)  Luận Giải Thứ Nhất.

         Đức Phật Thầy thấy vùng Thất Sơn là đất địa linh sẽ kết tụ linh khí của vũ trụ tạo thành long mạch chỉ chờ ngày khai mở, phát sinh những bậc anh tài, dũng khí. Các thầy địa lý của Tàu thường hay tìm cách trấn ếm, ngăn chận sự kết tinh long huyệt. Nên Ngài sai Đức Cố Quản cắm thẻ để đề phòng, ngăn chận sự trấn yễm các địa huyệt hiển linh kia.

         Như vào đời nhà Đường, quan thái thú Cao Biền cũng đã từng trấn ếm nước ta. May nhờ có một danh nhân, hiền tài về địa lý của nước ta là Tả Ao phá ếm vô hiệu đi.

                 b)  Luận Giải Thứ Hai.

         Đức Phật Thầy nhận thấy con cháu của Mạc Cửu ở Hà Tiên quyết tâm muốn trấn ếm vùng Thất Sơn mà họ cho rằng sẽ kết phát rất mau chóng tinh hoa làm cho nước ta vô cùng hưng thịnh. Nên Đức Phật Thầy cho cắm thẻ để vô hiệu sự yễm đối ấy.

         Theo lời truyền thuyết, một vị cao đồ của Đức Phật Thầy Tây An là ông Đạo Lập, tục danh Phạm Thái Chung, hiệu là Bồng Lai La Hồng tiên sinh, người có công sáng lập chùa Bồng Lai ở xã Nhơn Hưng, quận Tịnh Biên. Một hôm đi qua Ton Hon, ông khám phá ra một cây ếm, cho đào lên. Trên mặt ếm có khắc nhiều chữ nhưng không đọc được. Chỉ còn thấy hàng chữ: “Càng Long ngũ thất niên trọng thu, cốc đán” còn đọc được. Tính ra là năm 1740, tức sau khi Mạc Cửu mất (1735) được năm năm.

                 c)  Luận Giải Thứ Ba.

         Theo tôi thì còn một nguyên nhân thứ ba thầm kín, sâu xa nữa là Đức Phật Thầy hàm ý bảo trước cho Đức Cố Quản sau nầy, lập căn cứ chống Pháp trong vòng chu vi của những cây thẻ nầy. Cũng như lần đầu tiên Đức Cố Quản ra mắt Đức Phật Thầy tại Xẻo Môn, được Đức Phật Thầy gọi hai lần “Chú Xã”, tức là Ngài đã giao cho Đức Cố hai nhiệm vụ: Truyền giáo và chống ngọai xâm, lúc nầy (1849) ở Nam Phần chưa ai biết gì về Pháp cả. Đó chỉ là một danh từ xa lạ và cũng không ai dám dự đoán nước ta sẽ bị giặc Pháp xâm lăng. Tỉnh An Giang sẽ lọt vào tay Pháp 18 năm sau (1867).

         Bằng chứng trong mặt trận Bảy Thưa, ta thấy cách bố phòng các đồn, bót cùng đặt Tổng Hanh Dinh của bộ chỉ huy tại Láng Linh đều nằm trong kế hoạch khu tứ giác tạo nên do 4 cây thẻ là: Đông Phương Thanh Đế, Bắc Phương Hắc Đế, Tây Phương Bạch Đế, Nam Phương Xích Đế định sẵn.

         Nếu ta lấy Láng Linh, nơi đặt Tổng Hành Dinh của binh Gia Nghị làm tâm điểm, tại đồn Hưng Trung.

         Nhìn về phía Đông, là Đông Phương Thanh Đế, có đồn Hang Tra.

         Nhìn về phía Bắc, là Bắc Phương Hắc Đế, có đồn Hờ ở Cái Dầu.

         Nhìn về Phía Tây, là Tây Phương Bạch Đế, có đồn Cái Mơn và Đồn Lương.

         Nhìn về Phía Nam , là Nam Phương Xích Đế, có đồn Giồng Nghệ.

         Như vậy, Đức Phật Thầy đã biết trước 18 năm sau, Pháp sẽ chiếm An Giang (1849-1867). Nên Ngài đã trù hoạch mọi việc cho Đức Cố Quản trả nợ Tứ Ân, đền ơn nước. Nhưng công việc bất thành âu cũng chẳng qua số trời đã định. Nên Đức Huỳnh Giáo Chủ diễn tả bằng một câu Sấm Giảng sau đây đầy ý nghĩa.

                          “Số trời đã định phận mình biết sao?”

         Còn như cho rằng Đức Phật Thầy sai Đức Cố Quản đi cắm 5 cây thẻ để vô hiệu hoá sự ếm đối các long mạch của ta ở vùng Thất Sơn do cha con Mạc Cửu ếm, đều nầy nên xét lại. Biết rằng người Tàu lúc nào cũng mang nặng đầu óc bá chủ, coi họ là Thiên triều, những nước nhỏ chung quanh là Chư hầu của họ. Họ cũng không bao giờ muốn nước ta thịnh vượng hay phát sinh ra những nhân tài hào kiệt làm hại đến uy quyền độc tôn, kẻ cả của quốc gia họ. Nhưng trong trường hợp họ Mạc ở Hà Tiên, ta cần phải xét lại coi họ có thật sự trấn ếm nước ta hay không?

         Trước tiên ta hãy xem qua cây ếm ông Phạm Thái Chung, tức ông Đạo Lập lấy được ở Ton Hon như nói ở trên. Trên cây ếm nầy mang niên hiệu: “ Càng Long ngũ thất niên.” Tính ra năm 1740, tức là sau khi ông Mạc Cửu mất 5 năm. Hơn nữa trên cây ếm nầy đã bị loang lỡ, chữ đọc không ra, chứng tỏ rằng nó có đã lâu. Như vậy, cây ếm nầy không phải do Mạc Cửu hay Mạc Thiên Tứ, tức là con Mạc Cửu ếm?  Nếu dòng họ Mạc ếm thì tại sao trên cây ếm phải khắc niên hiệu Càng Long để làm gì? Họ là những người “Phản Thanh phục Minh,” Càng Long với họ chẳng khác chi mặt trời và mặt trăng hay nước với lửa. Họ khắc như vậy để vu họa cho nhà Thanh chăng? Điều nầy chắc họ không cần phải làm. Vậy ta thử tìm hiểu qua con người Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ trong suốt thời gian trấn nhậm Hà Tiên như thế nào?

         Mạc Cửu là người sống trên mảnh đất Hà Tiên chẳng khác nào giang sơn riêng của họ, họ Mạc làm vua một cõi, không lệ thuộc vào Chân Lạp, mặc dầu vùng đất nầy lúc đó thuộc về vương triều Khờ Me, nhưng xứ Miên lúc bây giờ nền chánh trị nội an lộn xộn, lỏng lẻo, nội bộ nhiểu nhương, nên vua Miên cũng không màng để ý đến. Còn về phần chúa Nguyễn cũng không ảnh hưởng nhiều về vùng đất nầy. Nên họ Mạc làm vua một cõi. Tự do mở mang thương điếm, buôn bán với Thái lan, Mã Lai, Nam Dương; đồng thời, lập các sòng bài để lấy lợi, phát triển đất Hà Tiên để con cháu họ kế thừa thì làm gì có sự ếm đối để tắt nghẽn long mạch trên đất của họ. Cũng xin nhắc lại đất Mương Khảm ngày xưa dưới quyền cai trị của họ Mạc rất rộng lớn, gồm có vùng Thất Sơn, Hà Tiên, Rạch Giá, Bãi Bùn (Cà Mau).

         Về Mạc Thiên Tứ còn có tên là Mạc Thiên Tích, tự Sĩ Lâm. Ông được chúa Nguyễn Phước Trú phong chức Đô Đốc, kế nghiệp cha cai quản trấn Hà Tiên. Ông là người rất chăm lo việc nước, ra lịnh xây thành, đắp lũy, mở mang chợ búa, xây đắp cầu đường. Mở trường học, rước thầy về dạy, mở mang dân trí. Những khi nhàn rỗi, thường hay xướng họa thi ngâm với các văn sĩ trong trấn.

         Ông là tác giả của mười bài Hà Tiên Thập Cảnh, Hà Tiên Thập Vịnh Tập, Minh Bột Di Ngư Thi Thảo, Hà Tiên Vịnh Vật Thi Tuyển, Châu Thị Trinh Liệt Tặng Ngôn, Thi Truyện Tặng Lưu Tiết Phụ, Thi Thảo Cách Ngôn Vị Tập.

III.  Gia Đình Họ Mạc Bị Tận Diệt.

         Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân truy đuổi bại binh của chúa Nguyễn, bắt được chúa Định Vương đem về Gia Định hành hình. Trấn Hà Tiên cũng bị Tây Sơn đánh chiếm. Mạc Thiên Tứ không thể đương đầu với nhà Tây Sơn nên phải dẫn hai con là Mạc Tử Hoàng và Mạc Tử Thượng chạy trốn. Sau ông cùng hai con và Tôn Thất Xuân cùng 50 quân trốn qua Xiêm định tâm cầu viện. Vì không có mang theo đủ vàng bạc lo lót cho các quan viên Xiêm, nên ông bị dèm pha, xàm tấu tâu lên vua Xiêm là ông giả ngụy kế, mưu mô đánh chiếm đoạt ngôi vua, nên toàn bộ bị bắt giam. Đến năm Canh Tý (1780), Ông và hai con Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Thượng cùng ông Tôn Thất Xuân với 50 quân bị ép phải dùng độc dược để quyên sinh.

         Như vậy, sự thống trị trên đất Hà Tiên của giòng họ Mạc đến năm 1777 được coi như đã chấm dứt. Họ hùng cứ tại đây được hai đời: Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ thì họ Mạc bị tận diệt, không ai còn nữa để nối nghiệp. Hai con trai của Mạc Thiên Tứ là Mạc Tử Hoàng và Mạc Tử Thượng, cháu nội của Mạc Cửu đều bị vua Xiêm bắt bưộc phải dùng độc dược quyên sinh theo cha và cả gia đình đều chết tại đất Xiêm, năm 1780.

         Tôi xin nhắc lại trấn Hà Tiên ngày xưa rất rộng lớn, bao la như nói ở trên, cũng là giang sơn riêng của họ Mạc. Họ thần phục chúa Nguyễn chỉ trên danh nghĩa mà thôi, chẳng lẽ họ Mạc đi trù ếm trên chính giang sơn riêng của họ để cuối cùng Mạc Thiên Tứ phải dùng độc dược để quyên sinh cùng hai con và bộ hạ trên 50 người trên đất Xiêm. Điều nầy họ Mạc chắc phải biết hơn ai hết.

         Vậy cây ếm trên, ở Ton Hon chắc chắn không phải do giòng họ Mạc ếm. Chính là các thầy địa lý nhà Thanh len lỏi theo đám di dân người Tàu ếm. Họ ếm để cho giòng họ Mạc ở Hà Tiên không thể cất đầu lên được. Nhà Thanh sợ họ Mạc ở Hà Tiên gây dựng nên được giang san hùng mạnh, khởi quân về báo oán, trả thù, quấy phá trị an của họ, nên họ ra tay trước. Nên nhớ, Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ dù xưng thần với chúa Nguyễn, nhưng đất Hà Tiên vẫn là giang sơn riêng của họ Mạc. Họ coi như một quốc gia riêng hay một nước chư hầu không hơn, không kém.

         Vậy giả thuyết Đức Phật Thầy sai Đức Cố Quản đi cắm thẻ để trừ ếm, ta thấy không còn đứng vững. Đức Phật Thầy sai Đức Cố Quản đi cắm thẻ không phải để trừ ếm mà Đức Phật Thầy chỉ dấu cho Đức Cố Quản bày bố trận liệt để chống ngoạị xâm người Pháp sau nầy trong mặt trận Bảy Thưa mà Ngài không tiện nói ra, chỉ có Đức Cố biết mà thôi. Vì Ngài tiên tri biết trước Pháp sẽ xâm chiếm nước ta. Đức Cố Quản phải trở ra gánh vác việc nước một lần nữa. Để biểu hiện điều nầy, lần đầu tiên gặp Đức Cố Quản tại cốc ông Kiến ở Xẻo Môn, năm 1849. Đức Phật Thầy gọi Đức Cố Quản hai lần bằng “Chú Xả” (1). Về sau nầy, trước khi Đức Phật Thầy viên tịch còn giao cho Đức Cố một cái ấn bảo sau nầy thay ta truyền đạo, một cái áo màu dà, một cây cờ để bảo vệ núi sông.

         Còn chữ ”Chú Xả” theo thói quen người ta viết chữ xã dấu ngã là không đạt được ý của Đức Phật Thầy, mà chữ xả phải viết dấu hỏi mới đạt được ý của Đức Phật Thầy, xả ở đây là xả thân, chứ Đức Cố có làm xã hồi nào đâu mà viết dấu ngã. Vậy “Chú Xả” có nghĩa là khuyên Đức Cố Quản hãy xả thân giúp nước một lần nữa. Lần thứ nhất đầu quân dẹp giặc Miên nổi loạn. Lân nầy đầu quân chống Pháp, nên Đức Phật Thầy gọi Đức Cố Quản hai lần “Chú Xả”. Vậy “Chú Xả” nghĩa là gì? Chữ Chú ở đây không nằm gọn trong nghĩa chú cháu, chú em mà còn mang ý nghĩa sâu sắc, trọng đại hơn là: Chú tâm, chú ý đến, hết lòng hết dạ, tận tụy hy sinh. Còn chữ Xả có nghĩa là xả thân, quên mình, hy sinh vì đại nghĩa quốc gia dân tộc. Vậy hai chữ “Chú Xả” Đức Phật Thầy gọi Đức Cố Quản hai lần là khuyên Đức Cố Quản hãy xả thân ra gánh vác việc nước một lần nữa chắc là như vậy, như nói ở trên. 

         Ngoài ra, một điều đặc biệt là trong suốt thời gian 7 năm truyền giáo, Đức Phật Thầy khuyên bỏ dị đoan, cấm thờ cúng tà thần, ếm đối bùa chú. Ngài chỉ dùng huyền diệu Phật gia trị bịnh, độ đời mà thôi. Chẳng lẽ Ngài lại đi tin sự linh nghiệm của bùa chú, ếm đối, dị đoan hay sao? Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng đã dạy:

                          “Bỏ dị đoan mới thấy đạo mầu

                            Bớt giả dối gặp người thượng cổ.”    (Q.4)

         Hơn thế nữa, trong số đệ tử thuộc vào hàng cao đồ của Ngài không ít, tại sao Đức Phật Thầy không sai người khác đi cắm thẻ mà phải là Đức Cố Quản? Nên ngày 22 tháng 6 năm 1867, Trung Tá Galey ép Tổng Đốc An Giang là Phan Khắc Thân nộp thành. Đức Cố Quản không chịu hàng giặc, kéo cả quân cơ của Ngài về ngay Láng Linh thành lập mặt trận Bảy Thưa để chống Pháp. Tại sao Ngài không kéo đi nơi nào khác hơn để lập chiến khu, căn cứ chống Pháp mà phải là Láng Linh? Như vậy, Ngài không làm theo chỉ dấu của Đức Phật Thầy đã vạch sẵn cho Ngài là gì?

         Môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương mà Đức Phật Thầy khai sáng năm 1849, ngoài việc dạy người đời tu niệm, ngay cha, thảo chúa, trung quân, ái quốc, trọng kính cửu huyền, thất tổ, ông bà, cha mẹ, gìn giữ thuần phong mỹ tục nước nhà. Phát thuốc trị bịnh, độ đời, cứu rỗi chúng sanh. Tu Nhân Học Phật, lấy Tứ Ân làm trọng. Trong đó, Ân Đất Nước là Ân đầu tiên, bổn phận làm người phải hy sinh đền đáp. Có phải chăng Ngài đã tiên tri biết trước Pháp sẽ xâm chiếm nước ta, nên Ngài nêu ra Tứ Ân để gìn giữ thuần phong mỹ tục, văn hoá nước nhà và kêu gọi lòng yêu nước chống ngoại xâm đó chăng?

         Với những dẫn chứng trên, chúng ta có thể kết luận rằng: Đức Phật Thầy sai Cố Quản đi cắm 5 cây thẻ ở vùng tứ giác trên không phải để trừ ếm của giòng họ Mạc hay của người Tàu như một số tác giả niên trưởng chúng ta đã viết, mà là chỉ dấu cho Đức Cố Quản lập mặt trận tại đây để chống Pháp và được tồn tại hơn sáu năm, từ năm 1867 đến năm 1873.

                                                                                      Nguyễn Hoài Ân

Chú thích:

(1) Chú ở đây không phải chú em hay chú bác mà có nghĩa là: chăm chú, để hết lòng hết dạ, tận lực. Xả: xả thân, hy sinh, quên mình cho đại cuộc.

         Chú Xả: Ở đây có nghĩa phải hết lòng xả thân vì nước, bất chấp gian nan.


Comments