9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 23‎ > ‎

13. Thiền định trong Giáo Lý PGHH - Huỳnh Chi

Thiền định trong

Giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo

                                                                                                                        Huỳnh Chi

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 23

 
         Theo lịch sử Phật Giáo, Thái tử Sĩ-Đạt-Ta (Tất-Đạt-Đa) sau khi xuất gia đã trải qua nhiều năm đi tầm đạo và tu khổ hạnh, nhưng vẫn chưa đạt được đạo quả như ý muốn. Ngài tự bảo, cái đạo ấy không phải đi tìm đâu xa mà chính là phải đi tìm trong trí huệ sáng suốt của mình. Và vì thế, Ngài đã ngồi tham thiền nhập định suốt 49 ngày đêm dưới cội Bồ đề cho đến khuya ngày mùng 8 tháng Chạp âm lịch , lúc sao mai vừa lố dạng thì Ngài “minh tâm kiến tánh”, hốt nhiên đại ngộ, thấy rõ được chơn lý của vũ trụ và nguồn gốc sanh tử của chúng sanh. Ngài đã thành Phật với danh hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật. Đây là một cuộc nhập định vô tiền khoáng hậu, mở đầu cho một pháp môn vô cùng hiệu nghiệm của đạo Phật sau nầy; đó là Thiền định.

         Trong kinh “Phạm Thiên Vấn Phật Quyết Nghi” và trong bộ “Thích Nghi Kê Cổ” quyển Nhứt, có chép đại khái như sau: “Khi Đức Phật ở hội Linh Sơn, có Vua trời Phạm Thiên đem hoa sen dâng cúng Phật cầu thuyết pháp. Đức Phật cầm cành hoa sen đưa lên để khai thị cho đại chúng. Toàn thể chúng hội đều yên lặng, không ai hiểu thâm ý của Phật như thế nào. Duy có Ngài Ma-ha Ca Diếp là tỏ ngộ được thiền cơ của Phật nên đổi sắc mặt vui vẻ, chúm chím mỉm cười. Đức Phật nhận thấy, liền ấn chứng cho Ngài Ca Diếp được đắc truyền làm Tổ thứ Nhứt, tức là Sơ tổ Thiền tông ở Ấn Độ. Sau đó, Phật truyền y bát và nói bài Kệ truyền pháp như sau:

                                  Các pháp vốn không pháp

                                  Không pháp cũng là pháp

                                  Nay truyền cái vô pháp

                                  Vô pháp nào có pháp

         Đây là nguồn gốc phát khởi của Thiền tông, lấy tâm truyền tâm (dĩ tâm ấn tâm) chớ không dùng Kinh giáo và phương tiện.”

         Kể từ đó, ở Ấn Độ có cả thảy là 28 vị Tổ tiếp nối hoằng khai chánh pháp đã làm rực rỡ cho Phật giáo và đặc biệt là phái Thiền tông cũng được lan truyền khắp nơi trên thế giới.

         Ngài Bồ Đề Đạt Ma được ấn chứng làm Tổ thứ 28, sau một thời gian hành đạo ở Ấn Độ đã vâng lời phú chúc của Sư phụ, sang Trung Hoa (năm 528 dl.) tiếp tục truyền đạo. Nơi đây, Ngài phát khai phái Thiền tông và trở thành Sơ tổ của Thiền Tông Trung Hoa.

         Kế thừa Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma là Nhị tổ Huệ Khả, Tam tổ Tăng Xán, Tứ tổ Đạo Tín, Ngũ tổ Hoàng Nhẫn và Lục tổ là Huệ Năng và Thần Tú. Lục tổ Huệ Năng truyền pháp ở phương Nam, chủ trương về đốn ngộ, còn Ngài Thần Tú thì truyền pháp ở phương Bắc, chủ trương về tiệm tu; nên gọi là “Nam đốn, Bắc tiệm” hay “Nam Năng, Bắc Tú”. Và kể từ đấy, phái Thiền Tông không còn lệ truyền Y Bát nữa và các Tổ cũng không còn ấn chứng riêng cho một vị nào. Do vậy, Thiền Tông Trung Hoa đã tách làm hai phái và năm dòng khác nhau là Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn.

         Đặc biệt, Phật Giáo Việt Nam do chịu ảnh hưởng sâu đậm Phật Giáo Trung Hoa, cho nên, nếu ở Trung Hoa, Thiền Tông được thịnh hành truyền bá thì ở Việt Nam, Thiền Tông cũng được coi là môn phái chánh của đạo Phật. Do đó, hầu hết các chùa ở Việt Nam, ngoài bàn thờ Phật Thích Ca ở chánh điện, đều có bàn thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma ở hậu điện và trong những bài vị của các Hòa thượng khi viên tịch đều  có đề câu “Từ Lâm Tế chánh tông đệ tam đệ tứ thập…thế…”. Ngay cả Đức Phật Thầy Tây An, vị Sơ tổ Tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương với “chủ trương đem pháp giáo Vô vi của đạo Phật truyền dạy trong dân gian, không cho trần thiết tượng cốt, tụng đọc ó la như trong nhà Thiền đã làm” vậy mà khi viên tịch, mộ bia của Ngài cũng bị khắc ghi những chữ “Tự Lâm Tế gia chư thiên phổ chánh phái tam thập bát thế, thượng pháp hạ tạng tánh Đoàn;…” mặc dù Ngài chỉ tạm thời tá túc ở chùa Tây An (núi Sam) trong thời gian ngắn vào cuối đời.

         Ngoài ra, những danh từ thông dụng như “cửa Thiền”, “nhà Thiền”, “am Thiền”, “Thiền môn”, “Thiền lâm”… mà dân gian thường dùng để chỉ các chùa chiền, tự viện hay nơi các nhà sư tu hành đã chứng minh điều đó. Đồng thời, Phật Giáo Hòa Hảo cũng là một tông phái đạo Phật do Đức Thầy khai sáng ngày 18/5 năm Kỷ Mão (1939) đã đề cập rất nhiều về Pháp môn Thiền định trong phần Giáo lý.

         Thật vậy, mặc dầu Pháp môn Học Phật Tu Nhân là chủ yếu và tín đồ PGHH hầu hết là Cư sĩ tại gia nhưng Đức Thầy vì “tùy trình độ cơ cảm của Tín nữ, Thiện nam”“Tùy phong hóa nhơn sanh phù hạp” cũng đã thuyết giảng về Pháp môn Thiền định qua những bài Sấm Thi của Ngài hầu cho những ai có ngộ tánh nương theo đó mà tu tập.

         Sau đây, chúng ta hãy xem qua các quyển Sấm giảng và một số Thi văn của Đức Thầy, để tìm hiểu Ngài giảng dạy về Thiền định cho người tín đồ PGHH như thế nào.

         Trước hết, theo Từ điển Phật học, Thiền (tiếng Phạn là Dhyàna) nói đủ là Thiền-na, nghĩa là Định Tuệ. Định là trạng thái an ổn, vững chãi, không diêu động tán loạn của tâm. Tuệ là sự hiểu biết sâu xa đúng đắn phát ra từ tâm. Thiền tức là Tâm, một cái tâm có đầy đủ Định Tuệ.

         Ở Trung Hoa, Thiền còn được dịch là Tịnh-lự. Có nghĩa là tư duy trong tịch lặng.

         Xét về chỗ cứu cánh, mục tiêu của việc tu Thiền là thành Đạo. Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là nhận ra (ngộ) chân lý và sống được với chân lý đó (thể nhập).

         Trên tiến trình tu tập, Thiền sẽ đưa người tu ngày càng đến gần chân lý, biểu hiện qua việc phát Tuệ. Tuệ là cái biết không mê lầm. Tuệ phát triển đồng nghĩa với việc các mê lầm chướng ngại trong tâm càng ít. Khi mê lầm hết, Tâm sẽ phát ra cái thấy biết như thật, gọi là “Tri kiến Phật”.

         Tuệ phát khởi khi Tâm an định. Vì thế, Định Tuệ là yếu tố chánh dùng đánh giá một loại Thiền, cũng như để thẩm định kết quả tu Thiền.

         Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Đức Lục Tổ có dạy: “Sao gọi là Tọa Thiền? Trong pháp môn nầy không chướng ngại, ngoài đối với tất cả thiện ác tâm niệm chẳng khởi gọi là Tọa”. (Thành ra Tọa nầy có nghĩa là tâm lắng xuống nên gọi là Tọa chớ không phải ngồi là tọa). Tổ còn dạy: “Trong thấy tự tánh chẳng động gọi là Thiền”. Tâm không khởi gọi là Tọa, nhận ra tự tánh bất động của mình là Thiền.

         Giả sử đang đi ngoài đường mà chúng ta sống được với tự tánh mình, tâm không khởi, đó là Tọa Thiền, còn ngồi một chỗ nghiêm chỉnh nhưng không thấy tự tánh, tâm cứ khởi thì chưa phải là Tọa Thiền.

         Định nghĩa về Thiền Định, Tổ giải thích: “Ngoài lìa tướng là Thiền, trong chẳng loạn là Định.”

         Trong bài Luận về Bát Chánh, khi giải về Chánh Định, Đức Thầy có viết:“Nếu lấy sự Thiền-định phá tan màn u minh che phủ, thì thấy rằng ở cảnh ấy con người sẽ hết buồn khổ, hết quả báo luân hồi. Và khi ta dùng sự Chánh-định dẹp bỏ hết các sự phiền não rầu buồn, phá tan các làn sóng thị dục lôi kéo vào những nẻo tà, tâm ta chẳng còn xao động, trí ta tỏ rạng như trăng rằm, một màu sáng suốt, không nhiễm ô cảnh ngoại, dứt tuyệt hết sự phàm trần, lần bước đi đến cõi Giải-Thoát”.

         Thêm vào đó, Đức Thầy còn khuyên người tu nên tìm học hiểu lẽ cao sâu trong Phật lý. Ngài cho biết ai cũng có tánh Phật, tánh Phật mình có mà bỏ quên vì mê tối và không biết đến vì cho là không có. Hãy tìm cái không đó mới thấy cái có Phật tánh của mình:

                          “Đạo Thích Ca nhiều nẻo cao sâu,

                            Hãy tìm kiếm cái không mới có.”

                                                                                                       (Q.2, Kệ Dân)

         Đồng thời, việc tu hành không nên chán nản, mỗi người đều có tánh Phật, vì mê muội mới bỏ quên cái mình đã có, nên hãy bền chí lắng lòng tìm lại Phật trong tâm của mình. Đừng tìm Phật ở Tây phương quá xa mà mất công vô ích:

                          “Đường đạo lý chớ nên chán nản,

                            Hãy bền lòng tầm Phật trong tâm.

                            Phật Tây Phương thiệt quá xa xăm,

                            Phải tìm kiếm ở trong não trí.”

                                                                                                       (Q.2, Kệ Dân)

         Hay là:

                          “Cho hồn linh yên lặng an cư,

                            Thì mới được huờn nguyên phản bổn.”

                                                                                           (Q.4, Giác Mê TK)

         Ngài còn dạy tu là sửa tánh, ngồi đâu cũng sửa, giữ gìn tâm hồn luôn trong sáng. Tu không phải cốt ở chỗ lạy quì. Tu có bền chí, lòng có thanh tịnh mới thấy được Đạo:

                                  “Tu không cần lạy cần quì,

                 Ngồi đâu cũng sửa vậy thì mới mau.

                                  Trí hiền tâm đức chùi lau,

                 Ra công lọc kỹ thì thau ra vàng.”

                                                                                               (Q.3, Sám Giảng)

         Và nhất là phải rán trau giồi rèn luyện tâm tánh, giữ lòng trong sáng như kiếng, lúc đó Ta mới thấy rõ được Ta để mà sửa mình:

                                           “Tu rèn tâm trí cho minh,

                          Tánh kia thành kiếng phỉ tình chùi lau.”

                                                                                                                  (Q.3, SG)

         Cuối cùng, khi đã thấy được “bổn lai diện mục” (còn gọi là Bổn lai tâm), biết rõ ai là “chủ nhơn ông” thì chúng ta sẽ được “huờn nguyên phản bổn” hay “huờn lai bổn tánh” tức “kiến tánh thành Phật”.

         Khi nghiên cứu về Thiền tông, Ông Thanh Sĩ và Vương Kim trong quyển “Để hiểu Phật Giáo Hòa Hảo” (từ trang 103-106) có nhận xét:

         “Tông phái nầy chủ yếu về pháp Vô vi, chỉ thẳng vào chỗ kiến tánh thành Phật, nghĩa là phải tự tu, tự ngộ lấy bổn tâm sẵn có thanh tịnh quang minh bất di bất dịch vĩnh viễn trường tồn của mình mà chứng đến quả chánh đẳng chánh giác, không thiên chấp vào âm thinh sắc tướng. Song người tu pháp môn nầy, muốn đạt đến cứu cánh của đạo Bồ đề, cần phải Thiền định, nhưng trước phải giữ Giới, rồi nhân Giới sanh Định, do Định mà phát Huệ. Như lời Đức Thầy chỉ dạy:

                                  “Nếu ai mà biết chữ tu trì,

                                    Tâm bình tịnh được thì phát huệ.”

                                                                                                        (Q.4, GMTK)

         Khi đã phát Huệ thì tâm tánh trở lại Viên minh thấy được "Bổn lai diện mục":

                                  “Lòng ngộ rồi chẳng đợi nhiều kinh,

                                    Thì cũng thấy bổn lai diện mục”.

                                                                                                                   (Sa Đéc)

         Chừng ấy thoát khỏi màn Vô minh che mờ căn trí, tự thấy biết không lầm, hành động đúng theo chơn lý, tức nhiên là không còn mắc trong nẻo luân hồi đọa lạc nữa. Nhờ pháp môn này mà chúng sanh từ chánh pháp trở lại đây, tỏ ngộ rất nhiều.

         Mặc dầu vào đời mạt pháp, Thiền tông đại cương vẫn còn được thích ứng. Và đáng được thích ứng hơn nữa là vào thời mạt pháp này, phái Thần Tú thạnh hành làm cho chánh pháp suy vi vì mãi nghiêng theo lối huyễn hoặc của âm thinh sắc tướng.

         Đặc biệt, Đức Thầy đã được Đức Phật Tổ ban cho Sắc lịnh lâm phàm đem chánh pháp Vô vi của Ngài mà phá tan màn hắc ám của số người mê tín theo tà thuyết, có cơ thức tỉnh quay về con đường chánh giác, trước là thoát khỏi tai hại của Ma vương, sau là dọn sạch thân tâm hầu đến khi Đức Di Lặc ra đời, nhờ phước duyên được tồn tại mà có mặt trong ngày Long Hoa Đại hội.

         Ngài đã kêu gọi sư vãi hãy mau trở lại Chánh pháp tu hành mới thấy rõ chỗ diệu huyền của đạo Phật và sẽ cứu mình khỏi lạc bước chỗ mê si mờ mịt:

                          “Khuyên sư vãi mau mau cải hối,

                            Làm Vô vi chánh Đạo mới mầu.”

         Hay là:

                          “Điên dẹp gác âm thinh sắc tướng,

                            Tầm vô vi kiếm cảnh Niết Bàn.”

                                                                              (Diệu pháp Quang Minh)

         Vả lại, muôn việc gì cũng do nơi Tâm mà sanh ra cả, nhưng vì Mê si mà giữa Phật và chúng sanh có chỗ sai biệt. Nếu sớm về với bản giác của tự tâm thì chúng sanh với Phật đâu có chỗ khác biệt, như câu “Mê là chúng sanh, giác là Phật”. Chưa ngộ, Phật còn trong chúng sanh. Tỏ ngộ, chúng sanh thành Phật. Nên biết, vạn pháp do tâm, tại sao không dùng Tâm ta để thấy chơn như bổn tánh, tức Phật tánh? Kinh Bồ Tát giới chép: “Bổn nguyên tự tánh vốn trong sạch”. Nếu ngộ được tâm, thấy được tánh liền thành Phật đạo. Kinh Tịnh Danh chép: “Tức thời tâm trí thông suốt, liền phục hồi được bổn tâm”:

                                  “Định thần dẹp hết tà tâm,

                 Huờn lai bổn tánh Thần khâm quỉ nhường”.

                                                                                                         (Thu đã cuối)

         Như vậy thì bất tất phải tìm kiếm ở ngoại cảnh mà bỏ trống tâm Phật của mình, rốt lại không khác như bắt bóng trong gương, mò trăng đáy nước. Do đó, Đức Thầy mới đánh thức những người tu hãy nhìn vào tự tâm mà tầm Phật:

                                  “Phật tại tâm chớ có đâu xa,

                                    Mà tìm kiếm ở trên non núi.”

                                                                                                       (Q.2, Kệ Dân)

         Cứ theo câu: “Phật tức tâm, tâm tức Phật” thì tâm vốn sẵn có Phật, song vì vọng tưởng vô minh gây thành nghiệp hoặc mà thành ra tăm tối. Bởi vậy, Đức Thầy có dạy:

                                  “Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,

                                    Nếu lặng Tâm tỏ ngộ Đạo mầu.”

                                                                                                        (Q.4, GMTK)

         Bây giờ ta cứ nhắm cái Tâm mà đánh dẹp tất cả hôn trầm si hoặc cho đến khi không còn một niệm ác sanh diệt nữa, tức nhiên bao nhiêu khung cảnh sáng mầu đều hiện rõ nơi Tâm ta. Chừng ấy những điều lỗi lầm tà khúc nơi ta đã hết. Thế là giữa ta cùng Phật đâu còn phải cách xa nhau nữa.

         Trong khi tu hành tinh tấn, lòng ta vẫn trơ cứng như đinh sắt, bể ái không xao, lửa phàm đã tắt, nghĩa là Tâm ta được lặng lẽ, trong sạch, tức nhiên mảnh gương trí huệ từ từ soi tỏ.

                                  “Định tâm thần như nước mặt hồ,

                                    Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối.”

                                                                                                        (Q.4, GMTK)

         Như vậy, việc tu học phải biết lắng lòng, tâm chưa thanh tịnh thì không thể tìm ra chơn lý. Giữ được tâm trong suốt như gương, sáng tỏ như trăng rằm, phẳng lặng như mặt nước hồ mùa xuân, bấy giờ người tu đã vượt qua mọi vướng mắc chốn hồng trần, nhẹ bước thênh thang vào ngưỡng cửa không sanh không diệt, tức nhập Niết Bàn.

                                  “Đem về giác tánh chơn như,

                          Kim thân thị hiện dứt trừ tử sanh.”

                                                                                  (Cho Ông Cò tàu Hảo)

         Lúc này không một hình ảnh tối đen nào đến ta được nữa, tức là trí huệ của ta đã phát. Vì thế ĐHGC có chỉ phương pháp:

                          “Nếu ai mà biết chữ tu trì,

                            Tâm bình tịnh được thì phát huệ.”

                                                                                                        (Q.4, GMTK)

         Khi trí huệ của ta đã phát, mọi kiến hoặc, tư hoặc và các tướng nhơn ngã đều diệt hết, tức thì ta sẽ trực kiến được bản tâm vốn rổng không vắng lặng mà ở Thánh cũng không thêm, đến phàm cũng không bớt, lại qua trên dưới không còn vướng mắc một mảy chướng ngại nào. Vì thế mà gọi chơn tâm là chơn không bất biến, như lời Đức Thầy chỉ bảo:

                          “Tìm tõi đạo mầu trong Phật pháp,

                            Cho đời hiểu rõ lý chơn không.”

         Cái tâm đã là “chơn không” thì người tu hành càng không nên thiên chấp vào các pháp tướng, vì tất cả cái có đều không có tự tánh thường tồn mà vẫn theo định luật sanh diệt mãi mãi. Khi không còn bị các pháp tướng câu thúc, tức nhiên cái thiệt tướng thường tại của chơn tâm mới hiện ra sừng sững. Chỗ này Đức Thầy có chỉ giáo: “Vô pháp tướng mới là thiệt tướng.” (Q.4, GMTK)

         Kết luận, pháp môn Thiền tông được Đức Thầy xiển dương một cách vi diệu xác đáng đúng theo chơn ngôn của chư Tổ. Tuy nhiên, nó càng vi diệu bao nhiêu lại càng khó thực hành bấy nhiêu nhứt là đối với chúng sanh vào thời mạt pháp phần nhiều là bực hạ căn thiển trí, sự nhận xét thiển cận, thì không thể nào lãnh hội nổi cái giáo lý hoàn toàn cứu cánh ở tự lực, nhưng tuyệt nhiên chẳng phải là  không dùng đến. Nên chi Đức Thầy, đồng thời với pháp môn Thiền tông, Ngài còn khai thị pháp môn Tịnh độ là một pháp môn hoàn toàn nương cậy ở tha lực trợ trưởng bằng cách chúng sanh tự tâm niệm sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật một cách thiết tha ai khẩn. Tức nhiên với cái lực cảm này sẽ được Đức Phật thù ứng lại một cách vi diệu vừa được thân tâm thanh tịnh vừa được đạo huệ phát khai và khi lâm chung được Phật hiện thân đến rước về cõi Cực lạc, tùy theo công phu hạnh đức mà ban cho ngôi phẩm trong chín cấp sen vàng để hưởng thọ của bực bất thối."

         Tóm lại, pháp môn Thiền định dạy chúng ta trau giồi tâm ý, giữ lòng vắng lặng sáng trong, dụng trí tuệ vững chắc như cội bá tòng để đoạn lìa tham dục, tâm kiên cường không vướng bận lợi danh thì tự nhiên phiền não chẳng còn. Người tu đến mức độ đó là đạt thành Đạo quả.  

         Đồng thời, Thiền định còn dạy giữ lòng yên tịnh ngăn vọng tưởng phát sanh, bụi trần không gợn. Khiến cho người tu dẹp bỏ ý nghĩ xấu, nuôi dưỡng ý nghĩ tốt để mở mang trí huệ. Khi trí huệ phát sanh, Si liền tan biến. Si tan thì ThamSân cũng không còn. Tam độc bị diệt, nguyên nhân của mọi đau khổ chấm dứt, đời sống con người hoàn toàn hạnh phúc, đó là Niết Bàn hay Cực Lạc, đâu phải tìm kiếm xa xăm mà ở ngay trong Tâm của mỗi con người./.

                                                                                                       Huỳnh Chi


Comments