9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 23‎ > ‎

12. Lời Thệ Nguyện - Nguyễn Văn Hiệp

LỜI THỆ NGUYỆN

                                                                                                         Nguyễn Văn Hiệp

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 23

 
         Thông thường, những người thật thà, chơn chánh rất trọng lời nói hay lời hứa của mình nên không thích buông lời thề thốt với bất cứ ai và bất cứ chuyện gì nhất là những người có Đạo, như lời Đức Huỳnh Giáo Chủ ân cần dạy bảo:

                  “Người biết Đạo phải gìn ngôn ngữ,

                    Nói với ai chớ có sai lời.”

                                         (Q.4, Giác Mê Tâm Kệ)

         Thêm vào đó, Đức Thầy còn cho biết:

                   “Lũ giả dối thường hay thề thốt,

                     Nó chẳng kiêng Thần Thánh là gì.”

                                                            (Q.4, GMTK)

         Thật vậy, thề thốt là thói quen không tốt cho bất cứ ai, nhưng thường dành cho hạng người hay giả dối, không biết tự trọng.

         Tuy nhiên, đối với những bậc Anh hùng cái thế hay bậc Bồ Tát, siêu nhân vì để cứu đời, cứu nước mà phải lập những “Lời Thệ Nguyện” nhằm gây niềm tin mãnh liệt trong sanh chúng như là một phương tiện đạt đến cứu cánh. 

         Mùa Xuân năm 40, hai Bà Trưng tổ chức “Hội Thề” khởi nghĩa chống quân Nam Hán ở bên dòng sông Hát.

         Từ Hội Thề nầy đã vang lên lời Hịch thiêng do Bà Trưng Trắc tuyên đọc: “Đến nay, giặc Tô rất mực tham tàn. Rẻ dân đen mà quý voi tê. Khinh hiền sĩ mà trọng chó ngựa. Người tìm vàng rét buốt thấu xương, nứt da, đổi sắc. Kẻ mò ngọc va chạm thuồng luồng, đi trăm về một. Thuế má nặng nề, bồ lẫm sạch trơn. Hình phạt khốc liệt, xóm làng xơ xác. Dân chẳng được yên mà súc vật cũng đều mất chốn dung thân”… Và theo Việt Nam Quốc sử diễn ca, thì:

                         “Một xin rửa sạch nước thù.

                  Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng”.

         Đội nghĩa binh ấy, như từ trên trời dội xuống, từ dưới sông vụt lên “ầm ầm binh mã xuống vùng Long Biên .., Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên Biên thành”. Trong lich sử, cho đến năm 40 chưa có sự kiện nào long trời lở đất đến như vậy! Chắc chắn là do ảnh hưởng của “Hội Thề” bên dòng sông Hát.

         Lịch sử Việt Nam còn chép rằng trong trận đánh giặc Nguyên-Mông trên sông Bạch Đằng (1288), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1228-1300) cỡi voi vượt qua sông Hóa (một nhánh sông thuộc sông Thái Bình, giáp với tỉnh Kiến An và tỉnh Thái Bình - thuộc làng A Sào, nay là xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ), không may voi bị sa lầy. Ông đành phải xuống voi. Quân lính cùng nhau ra sức kéo lên nhưng con voi càng bị lún sâu dù họ cố hết sức đẩy con voi ra khỏi bãi lầy, cuối cùng đành bất lực. Vì việc quân cấp bách, Hưng Đạo Vương phải để voi lại và dùng ngựa đi tiếp. Chính tại nơi đây, Ông rút gươm chỉ xuống dòng sông Hóa mà thề rằng: “Trận này không phá xong giặc Nguyên, ta quyết không về qua sông này nữa”. Kết quả, Hưng Đạo Vương đã giữ trọn “Lời Thề Sông Hóa” đánh tan giặc nhà Nguyên, giữ an cõi bờ cho nước Việt.

         Lịch sử Phật giáo cũng có nhiều chuyện tích kể về những lời thệ nguyện và xác nhận: Các Chư Phật và Bồ Tát nhờ nguyện lực mà đắc đạo Vô thượng Bồ Đề.

         Chẳng hạn, Thái tử Sĩ Đạt Ta sau 6 năm tu khổ hạnh nơi núi Tuyết (trong dãi Hy-mã-lạp-sơn), nhận thấy khổ hạnh ép xác như thế không thể đạt được chơn lý, nên Ngài đi qua núi KODA, ngồi dưới gốc cây Bồ Đề (Tất-bát-la, dịch âm theo tiếng Ấn độ) và thề rằng: “Nếu ta không thành Đạo, thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này”. Với ý chí hùng dũng cương quyết ấy, sau 49 ngày tư duy, Ngài thấu rõ chân tướng của vũ trụ nhơn sanh và chứng quả Bồ Đề, hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau khi thành đạo, Ngài chu du khắp xứ, thuyết pháp độ sinh, để chúng sanh chuyển mê thành ngộ, lìa khổ được vui. Suốt thời gian 49 năm, như một vị lương y đại tài, xem bịnh cho thuốc, Ngài dắt dẫn chúng sanh vào đường hạnh phúc và vạch cho mọi người con đường giác ngộ giải thoát (theo quyển Phật Học Phổ Thông của HT. Thích Thiện Hoa).

         Kinh A Di Đà cho biết, một trong những tiền kiếp của Đức Phật A Di Đà là một nhà vua. Sau khi phát tâm mộ đạo, vị vua này từ bỏ ngôi báu và trở thành một Tỳ kheo với tên là Pháp Tạng. Ngài quyết tâm tu hành nên đắc quả thành Phật và lập 48 Đại nguyện nhằm giúp chúng sanh vãng sanh vào cõi Cực lạc của Ngài và ai cũng sẽ thành Phật. Trong đó, lời thề thứ 18 và 19 được xem như cứu cánh của Pháp môn Tịnh độ, đó là:

         18.- Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi Chánh giác.

         19.- Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát tâm Bồ đề, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi Chánh giác.

         Vì vậy, để noi theo gương đại nguyện của Đức Phật A Di Ðà, chúng ta nên phát tâm thệ nguyện rộng lớn, cầu khi lâm chung sinh về Cực lạc, hóa sinh từ hoa sen, tu chứng lên bậc Bất thối, rồi trở lại cõi Ta Bà hóa độ bà con quyến thuộc và tất cả chúng sinh tu hành, đồng thành Phật đạo.

         Ngoài ra, Đức A Nan, một trong những Đại đệ tử của Đức Phật cũng có thề rằng: “Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập. Như nhứt chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê hoàn”. (Nghĩa là: Trong đời tội ác năm trược, tôi thề xung phong vào trước, để độ chúng sanh. Nếu còn một chúng sanh nào chưa thành Phật, tôi thề không chứng quả Niết bàn).

         Bởi vì Chư Phật và Bồ Tát đã chứng đến chỗ đồng nhứt thể (Phật và chúng sanh đồng một bản thể) nên các Ngài tự thấy chúng sanh còn đau khổ, thì mình còn đau khổ; chúng sanh còn trầm luân, thì mình chưa giải thoát.

         Thế nên từ chỗ đồng thể ấy, các Ngài khởi Đại bi, Đại trí và phát Đại nguyện. Như Ngài Địa Tạng Bồ tát thề rằng: “Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ đề. Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật”. (Nghĩa là độ hết chúng sanh mới chứng Bồ đề; nếu địa ngục còn tội nhơn, thì tôi thề không thành Phật). Thêm vào đó, vì muốn dìu nhơn sanh ra khỏi luân hồi sanh tử để được an vui nơi Niết-Bàn Tịch Tịnh, và vì lòng Từ-Bi phổ chúng, giác tha, nên CHƯ PHẬT đã phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện như sau:

         1.- Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ - Tức là Nguyện giải thoát vô số chúng sinh.

         2.- Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn - Tức là Nguyện đoạn tuyệt với vô vàn phiền não

         3.- Pháp môn vô lượng thệ nguyện học - Tức là Nguyện tu học Phật pháp nhiều vô lượng

         4.- Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành - Tức là Nguyện đạt thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác

         Những lời thệ nguyện trên cho thấy tính tích cực của Đại thừa Phật giáo. Đây cũng là một phương pháp để những người tu học thăng tiến và chế ngự tâm.

         Đồng thời, do sự thúc dục của đồng thể Bi Trí này, nên các Ngài thường hằng tùy thuận tất cả chúng sanh, mà bình đẳng hóa độ. Như Ngài Phổ Hiền Bồ tát thường hiện thân cho người ta thấy; Đức Quán thế âm Bồ tát thì ứng hiện 32 thân, v..v…

         Kinh Phật còn dạy rằng: Nếu chúng sanh nào tâm thanh tịnh thì được thấy chư Phật và Bồ Tát (Chúng sanh tâm nhược tịnh, Bồ đề ảnh hiện trung). Sự ứng hiện ấy rất tự nhiên và bình đẳng; cũng như ao nước nào trong, thì tự nhiên có trăng bình đẳng hiện vào.

         Từ thời Thượng cổ, mỗi khi có tín đồ muốn xin vào một Tôn giáo nào thì thường được làm nghi lễ để chứng minh rằng người đó là người tín đồ tân tòng mà các Tôn giáo thường gọi là rửa tội, qui y, vào đạo... Tuy nhiên, chưa có Tôn giáo nào có lời thệ nguyện khắc khe và thật nặng nề như khi nhập môn Đạo Cao Đài vào những năm 1926, 1927 và cho đến nay là ... "Nếu tôi lòng một dạ hai thì bị Thiên tru Địa lục..." làm cho người nào muốn nhập môn cũng phải lo sợ hay do dự hoặc không dám quyết định ngay.

         Trong truyện Tam Quốc Chí, ai cũng biết Đức Quan Thánh Đế Quân khi kết nghĩa đệ huynh với Lưu Bị và Trương Phi bên vườn đào cũng phải trích máu nhau mà thề nguyện. Có những người bị hàm oan, muốn chứng minh mình không có làm điều gì đó cũng thề nặng để chứng minh rằng mình vô tội hay trong sạch. Xa hơn nữa thì người Nhựt có thói quen tự mổ bụng mình để chứng minh là mình trung cang nghĩa khí không làm điều gì khi bị kết tội oan, v.v...

         Khi thề là có một sự tin tưởng rằng lời thề được chư Thần hay chư vị khuất mặt chứng giám và cũng có những người đã thề mà làm sai lời thề rồi ngẫu nhiên xảy ra y như thật như nhiều người trông thấy. Có người đến Lăng Ông hay Lăng Đức Lê Văn Duyệt ở Gia Định thề và có kết quả y như thật nên người ta hay có thói quen đến đó làm lễ thề nhiều việc quan trọng...

         Những vị Tổng Thống trên thế giới khi nhậm chức cũng phải làm lễ Tuyên thệ thật long trọng. Trong đại lễ nầy có đọc quốc ca, làm lễ thượng kỳ và có các vị nắm quyền Lập pháp chứng kiến để vị Tân Tổng Thống giơ tay phải lên thề là phải làm tròn nhiệm vụ đất nước và nhân dân giao phó.

         Đặc biệt, những lời Tuyên thệ nhậm chức của các Tổng Thống Mỹ đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp. Để nhận trách nhiệm của mình, tân Tổng Thống Mỹ phải tuyên thệ: “Tôi xin thề thực hiện trung thực nhiệm vụ Tổng Thống Mỹ và sẽ làm hết sức mình để gìn giữ, che chở và bảo vệ Hiến pháp của nước Mỹ.” Phần lớn các Tổng Thống Mỹ đặt tay lên một quyển Kinh Thánh để tuyên thệ.

         Như vậy, lời thề rất quan trọng đối với người quyết định thề và suốt đời quyết định không thay đổi lời thề cho đến khi chết.

         Riêng về Đức Huỳnh Giáo Chủ, Ngài cũng vì “lòng từ ái chứa chan thương bách tính tới hồi tai họa” mà phải rời bỏ ngôi vị nơi Tây phương Cực Lạc, vưng lịnh Đức Thế Tôn lâm phàm độ thế hầu cứu vớt chúng sanh thoát khỏi vòng trầm luân khổ hải:

                          “Nếu chừng nào khai thông đại Đạo,

                            Đuốc từ bi rọi khắp cả nhơn gian.

                            Bể trầm luân khô cạn sáu đàng,

                            Tăng sĩ mới trở về nơi thanh tịnh.”

                                                                              (Trao lời cùng Ông Táo)

         Đồng thời, nhằm thể hiện tấm lòng Từ Bi Bác Ái cùng khắp chúng sanh vạn loại, quyết một lòng độ tận muôn loài thoát khỏi vòng luân hồi lục đạo, tìm phương Giải thoát, nên Đức Huỳnh Giáo Chủ đã không ngần ngại buông ra lời thệ nguyện:

                          “Thương trần Ta cũng rán thề,

                            Đặng cho bá tánh liệu bề tu thân.

                                Tu hành chẳng được đức ân,

                      Thì Ta chẳng phải xác thân người đời.”

                                                                                  (Quyển 3, Sám Giảng)

         Hoặc:

                          “Thương quá sức nên Ta bịn rịn,

                            Quyết độ đời cho đến chung thân.

                            Nếu thế gian còn chốn mê tân,

                            Thì Ta chẳng an vui Cực lạc”.

                                                                             (Quyển 4, GM Tâm Kệ)

         Hay là:

                          “Chí quyết một lời Ta độ tận,

                            Dắt chúng lánh xa cảnh mộng sầu”.

                                                                                                (Tối Mùng Một)

         Và:

                          “Xuân sang ảm đạm ánh dương mờ,

                            Thệ quyết một lòng chẳng bỏ ngơ.

                            Có sông có núi cùng cây cỏ,

                            Độ tận chúng sanh khỏi dại khờ.”

                                                                                                            (Đầu Năm)

         Do những lời thệ nguyện nầy mà Ngài đã ra sức “Rút trong các Luật các Kinh” những phần tinh túy của Giáo lý nhà Phật, sao cho phù hợp với căn cơ của người hạ căn, thiển trí nhằm giúp chúng sanh có những Pháp môn dễ tu dễ đắc để bắt kịp với đời cùng cuối của thời Hạ nguơn mạt pháp, thế Đạo suy đồi.

         Ngài không chỉ hứa hẹn:

                          Ta nguyện một lời hành Chánh Đạo

                                                                                                         (Thu đã cuối)

         Mà còn:

                          “Ra khuyên dân hẹn có sơn minh,

                            Dìu bá tánh hứa câu thệ hải.

                                                                                              (Nang thơ cẩm tú)

         Rõ ràng, vì quá thương lê dân bá tánh mà Ngài đã thệ hải, sơn minh hứa hẹn cùng non cao, biển rộng; thề quyết một đời hành Chánh Đạo để dìu dắt nhơn sanh thoát khỏi mê đồ bằng con đường tu hành chơn chánh, sớm đến được bên kia bờ Giác hay được vãng sanh về cõi Tây phương Cực lạc hưởng quả Bồ Đề trường thọ.

         Đặc biệt, người Tín đồ PGHH, mà hầu hết là hạng tại gia Cư sĩ nhưng cũng đã phát thệ hàng ngày vào hai thời cúng lạy sáng chiều trước ngôi Tam Bảo, hay trước bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ. Những lời thệ nguyện nầy do chính Đức Thầy chỉ dạy qua các bài Nguyện, mà mục đích không gì khác hơn là mong được yên ổn để tu hành theo Phật đạo.

         Chẳng hạn như trước bàn thờ Cửu huyền Thất tổ, sau khi tỏ lòng cung kính biết ơn Ông bà, Cha mẹ chúng ta đã kính dâng lời thệ nguyện:

                                  “Nguyện làm cho đẹp mặt mày,

                          Thoát nơi khổ hải Liên đài được lên.

                                  Mong nhờ Đức cả bề trên,

                          Độ con yên ổn vững bền cội tu.”

         Sau đó, khi hướng về ngôi Tam Bảo, ngoài việc van vái chư vị Phật, Thần, Tiên, Thánh; chúng ta còn thành tâm khấn nguyện:

         “- Nay con nguyện cãi hối ăn năn, làm lành lánh dữ, quy y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật đạo”. (Do ý nghĩa của lời Nguyện này, người tín đồ PGHH gọi đây là bài “Quy y”).

         Tiếp theo, chúng ta còn phát năm lời nguyện khác nhằm cầu mong đáp đền Tứ Đại Trọng Ân (thường được gọi là bài “Tây phương Ngũ nguyện” do Đức Thầy chỉ dạy, đó là:

         “ Nam mô Tây phương Cực lạc Thế giới Đại từ Đại bi phổ độ chúng sanh A Di Đà Phật.

         - Nam Mô nhứt nguyện cầu: Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhơn Hoàng, Liên hoa hải hội, thượng Phật từ bi, Phật vương độ chúng, thế giới bình an.

         - Nam Mô nhị nguyện cầu: Cửu Huyền Thất Tổ Tịnh độ siêu sanh.

         - Nam Mô tam nguyện cầu: Phụ mẫu tại đường tăng long phước thọ, phụ mẫu quá khứ trực vãng Tây phương.

         - Nam Mô tứ nguyện cầu: Bá tánh vạn dân từ tâm bác ái, giải thoát mê ly.

         - Nam Mô ngũ nguyện cầu: Phật Tổ, Phật Thầy từ bi xá tội đệ tử tiêu tai tịnh sự, trí huệ thông minh, giai đắc đạo quả.”

         Những lời thệ nguyện trên đây, nếu chúng ta không hành, thì việc tu sẽ không bao giờ có kết quả.

         Đặc biệt, năm lời thệ nguyện nầy (ngũ nguyện) có liên quan đến Tứ Đại Trọng Ân mà bất cứ người tín đồ PGHH nào cũng muốn hành xử cho trọn vẹn.

         Thật vậy, đại ý câu mở đề bài Tây phương Ngũ nguyện là chúng ta cầu nguyện Đức Phật A Di Đà, tức là vị Giáo chủ Thế giới Cực Lạc mở lòng từ bi tiếp độ tất cả chúng sanh trong cõi Ta bà được Vãng sanh về cảnh giới của Ngài. Dụng ý của Đức Thầy muốn dạy tín đồ noi gương Đức Phật thể hiện lòng bác ái vị tha cứu khổ vạn loại chúng sanh để đáp ơn Tam Bảo.

         1- Câu nguyện thứ nhứt: Chúng ta cầu ba vị Vua ba cõi (Tam Hoàng) và Đức Phật chủ tọa “Liên hoa hải hội” cùng vị Phật Vương hộ độ cho thế giới sớm hòa bình, nhân loại an cư vui sống.

         Ngụ ý là Ngài dạy đáp ân Đất nước và Đồng bào nhân loại.

         2- Câu nguyện thứ nhì: Chúng ta cầu nguyện cho Tổ tiên Ông bà từ vô thỉ đến nay đều được siêu sanh Tịnh Độ.

         Có dụng ý đền ơn Tổ tiên, tộc họ.

         3- Câu nguyện thứ ba: Chúng ta cầu nguyện cho cha mẹ còn hiện tiền được sống lâu, hạnh phúc và cha mẹ đã qua đời từ vô lượng kiếp đều được vãng sanh về Tây phương Cực lạc.

         Có dụng ý là đáp ơn Cha mẹ.

         4- Câu nguyện thứ tư: Chúng ta cầu nguyện cho toàn thể dân chúng đều phát tâm tu hành, rèn lòng từ bi bác ái, để giải thoát cảnh mê đồ thống khổ.

         Có dụng ý là đáp ơn Đồng bào nhân loại và ơn Đàn na thí chủ.

         5- Câu nguyện thứ năm: Chúng ta cầu nguyện Đức Phật Tổ, Phật Thầy từ bi xá tội cho hầu hết đệ tử, được tai qua nạn khổ, tật bịnh tiêu trừ, trí huệ sáng suốt và tất cả được chứng đắc Đạo quả.

         Câu nầy Đức Thầy cũng có dụng ý dạy tất cả môn đồ noi gương hạnh của Tổ Thầy mà nuôi chí tu tiến cho đến ngày thành đạo giải thoát hầu đáp ơn Tam Bảo.

         Tóm lại, bài Tây phương Ngũ nguyện, Đức Thầy có dụng ý dạy tín đồ thành tâm khẩn nguyện và noi gương Đức Phật A Di Đà cùng Phật Tổ, Phật Thầy thể hiện lòng từ bi cứu khổ vạn loại chúng sanh; lo đền đáp Tứ Đại Trọng Ân để xứng đáng với hạnh Bồ Tát, như trong Kinh “Tâm Địa Quán” Phật đã dạy: “Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ”. (theo ông Thiện Tâm, trong quyển Chú giải Sấm Giảng và Thi văn Toàn bộ).

         Vì vậy, đã là tín đồ PGHH, biết ăn chay niệm Phật, đã phát tâm quy y trước ngôi Tam Bảo, đã phát thệ vào hai thời cúng lạy mỗi ngày trước bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ… thì không lý do gì mà không thực hành đúng những lời thệ nguyện nầy hoặc làm trái ngược những gì mà chúng ta hứa hẹn với Phật Trời và Tổ tiên Cha mẹ.

         Chúng ta phải ý thức rằng mỗi gia đình người tín đồ đều là Phật cảnh. Bởi vì trong nghi thức thờ cúng, Đức Thầy dạy: nơi tư gia của mỗi tín đồ có 3 ngôi thờ cúng là tượng trưng cho tam giáo: Phật, Tiên, Thánh.

         Trong bài “Ý nghĩa ba chỗ thờ cúng” do Ban Phổ Thông Giáo lý Trung Ương PGHH soạn năm 1968 có giải thích như sau:

         1- BÀN THỜ PHẬT: Cũng gọi là “Ngôi Tam Bảo”. Nơi đây tôn thờ vị Giáo chủ Đạo Phật trong cõi Ta Bà và mười phương chư Phật, Pháp, Tăng, cùng Phật Tổ, Phật Thầy… Nên bàn thờ nầy có ý nghĩa tượng trưng cho Phật Đạo.

         2- BÀN THÔNG THIÊN: Có ý nghĩa: bàn thờ thông lên Trời. Vì trong câu nguyện thứ nhứt có 3 vị: Thiên hoàng (vua các cõi Trời), Địa hoàng (vua các cõi địa ngục), Nhơn hoàng (vua các cõi người). Cũng gọi là vị Chuyển Luân Thánh Vương của cõi đời Thượng ngươn Thánh Đức. Nói chung các vị ấy đều là bậc: Phật, Thánh, Tiên.

3- BÀN THỜ ÔNG BÀ hay CỬU HUYỀN THẤT TỔ, tượng trưng cho Thánh Đạo. Bàn thờ nầy do truyền thống của Tổ Tiên ta từ thời Hùng Vương lập quốc tới giờ. Trong đây là tôn thờ Tổ Quốc và Ông bà Cha mẹ từ vô lượng kiếp.

         Là một nền Đạo xuất phát từ trong lòng dân tộc, người tín đồ PGHH với tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân” không thể thiếu bàn thờ ông bà được. Cho nên bàn thờ “Cửu Huyền Thất Tổ” (Ông bà) có ý nghĩa tượng trưng cho “Thánh Đạo”.

         Rõ ràng, mặc dù nói người tín đồ PGHH tu tại gia nhưng qua cách trần thiết và ý nghĩa của các bàn thờ thì không khác gì chốn Thiền môn, nên chúng ta có thể mạnh dạn nói rằng mỗi tư gia của người tín đồ PGHH cũng là nơi Phật cảnh vậy. Chính vì vậy mà Đức Thầy hằng nhắc nhở (trong bài Thiên lý ca) và chúng ta cũng nên ghi nhớ:

                          “Chớ bỏ lời thề nơi Phật cảnh,

                            Chớ quên tiếng nguyện chốn non xanh”./.

         (Chú thích: Phật cảnh là cảnh Phật ngự, còn chỉ nơi thờ phượng của người tín đồ PGHH, tức tư gia của mỗi người trong đạo. Non xanh là chỉ nơi thanh tịnh, nơi các vị Tiên, Thánh tu hành. Nghĩa rộng: ám chỉ chư vị mà mình phát tâm van vái trong bài Quy y trước ngôi Tam Bảo).

NamMô A Di Đà Phật !

                                                            Nguyễn Văn Hiệp


Comments