9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 23‎ > ‎

10. Xuân nầy nhớ đến Xuân xưa - Nguyễn Hoài Ân

Xuân nầy nhớ đến những Xuân xưa

                                                                                                                Nguyễn Hoài Ân

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 23

 
                       Năm cũ Rắn đi sắp hết rồi,

                        Dê về ngoài ngõ, Ngựa lên ngôi.

                        Dăm ba bánh mứt cùng mai liễn,

                        Xuân mới phú, trường chúc vẹn đôi.

         Hôm nay, tôi ngồi viết bài nầy đây vì nể tình của một đồng đạo. Đề tài có liên quan đến ba ngày Tết và liên hệ đến đạo pháp cũng khó tìm, khó viết. Chẳng lẽ đi nói một mùa xuân nào đó vô thưởng, vô phạt. Nội dung, đề tài như vậy. Có nhiều cây bút đã viết. Đây tôi muốn nói đến những mùa xuân đặc biệt của Đức Huỳnh Giáo Chủ trên đường hành đạo và tranh đấu độc lập dân tộc đã xảy ra trong suốt thời gian từ năm 1940 cho đến ngày Ngài vắng mặt 16 tháng 4 năm 1947. Và lời tiên đoán của cụ Trạng Trình về Ngài mà ít người biết và để ý đến. Nên chưa bao giờ nghe các vị trưởng lão trong đạo luận bàn hay nói tới. Còn riêng tôi, tôi đề cập đến vấn đề nầy có quá khả năng chăng? Dù gì đi nữa tôi cũng phải viết ra để các bậc cao minh suy xét, nhận định như thế nào? Cứ để mãi trong lòng chết sẽ mang theo. Đoàn hậu duệ, con em trong gia đình Phật Giáo Hòa Hảo sau nầy có để ý và nghiên cứu tới không?

         Vì có liên quan đến cụ Trạng Trình, nên tôi xin kể những mùa xuân đặc biệt theo dòng lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta và những mùa xuân Đức Huỳnh Giáo Chủ đã trải qua kể từ ngày khai đạo cho đến khi Ngài vắng mặt với bao nổi thăng trầm của nhà tu, truyền bá giáo lý và cách mạng cứu quốc.

 I.  Trước tiên, tôi xin nói qua mùa xuân Kỷ Dậu 1789. Vua Quang Trung đại phá quân Thanh.

         Ông Ba Thới viết trong Kim Cổ Kỳ Quan:

“Khó xét nỗi nhị niên Kỷ Dậu, khó tri ra có hậu có tiền”.

         Mặc dầu nhị niên Kỷ Dậu, ông Ba viết ở đây ám chỉ hai năm Kỷ Dậu. Một Kỷ Dậu là năm 1849 Đức Phật Thầy Tây An ra đời thành lập phái Bửu Sơn Kỳ Hương, tiền thân Phật Giáo Hòa Hảo. Kỷ Dậu năm 1909, cậu Hai Nhu xây dựng lại Chùa Bửu Hương Tự tại Láng Linh và chấn hưng lại Tinh Minh Hiếu Nghĩa cũng là hậu thân của Bửu Sơn Kỳ Hương. Vậy Bửu Sơn Kỳ Hương là gì? Căn cứ vào Sám Giảng và Thi Văn Giáo Lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ giải thích như sau:

                      Bửu Ngọc vãng lai rõ đạo mầu,

                      Sơn tìm hạnh Thích nẻo cao sâu.

                      Kỳ giả thức tâm tìm đạo lý,

                      Hương tuyệt, đăng lui bãi phục cầu.

         Nhưng khi đề cập đến Kỷ Dậu, làm cho ta không khỏi liên tưởng đến mùa xuân Kỷ Dậu năm 1789. Vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Sở dĩ tôi nhắc lại mùa xuân Kỷ Dậu năm 1789 là tôi muốn nhắc đến những lời tiên đoán của cụ Trạng Trình báo trưóc vận mệnh của nhà Tây Sơn đúng như thế nào? Vua Lê chúa Trịnh ở ngoài Bắc, chúa Nguyễn ở phương Nam ra sao? Rồi Ngài cũng đoán đúng việc làm của Đức Huỳnh Giáo Chủ sau nầy. Mặc dầu thời gian kể từ khi Ngài mất (28/11/1585 âl.) cho đến năm 1946 là năm xảy ra cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nổi lên tại Hốc Môn của các lực lượng quốc gia mà Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng có mặt tại đó. Bị Pháp thẳng tay đàn áp bằng máy bay, tàu thủy, súng đồng. Nên Đức Huỳnh Giáo Chủ tức cảnh sanh tình làm bài “Văn tế Chiến Sĩ Trận Vong tại vườn Thơm”, thuộc quận Hốc Môn, tỉnh Gia Định ngày nay. Thời gian cách xa nhau trên 361 năm.

         Xin sơ lược qua tiểu sử của cụ Trạng Trình: Tên thật là Nguyễn Bỉnh Khiêm, hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ. Sinh năm 1491, Tân Hợi. Mất ngày 28 tháng 11 Ất Dậu, 1585. Thời Mạc Mậu Hợp, niên hiệu Duyên Thành năm thứ V. Người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Cụ có tài tiên đoán thần kỳ, nói đâu đúng đó. Như đoán về tương lai của vua Lê chúa Trịnh ở ngoài Bắc, vận mệnh chúa Nguyễn ở phương Nam như sau:

         - Hà thời biện lại vi vương (Nghĩa là: Vào thời người thơ ký lên làm vua)

         - Thứ thời Bắc tận Nam trường xuất bôn (Nghĩa là: Lúc ấy Bắc bị diệt, Nam cũng phải chạy trốn).

         Còn đoán về nhà Tây Sơn thì:

         - Bao giờ trúc mọc qua sông (Tiên đoán: Tôn Sĩ Nghị cho quân bắc cầu qua sông Hồng).

         - Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây (Tiên đoán: Nguyễn Huệ xưng đế. An Nam Quốc Vương do nhà Thanh phong. (câu 1&2)

         - Đoài cung một sớm đổi thay (Tiên đoán: Sau 4 năm làm vua Nguyễn Huệ mất. (câu 3)

         - Chấn cung sau cũng sa ngay chẳng còn (Tiên đoán: Nguyễn Nhạc giận Quang Toản, hộc máu chết).

         - Đầu cha lộn xuống chân con (Theo phép chiết tự, Quang Trung có chữ tiểu ở trên. Còn Cảnh Thịnh có chữ tiểu ở dưới. Nên đầu cha lộn xuống chân con là vậy. (câu 4&5)

         - Mười bốn năm tròn hết số thì thôi. (Tiên đoán: Nhà Tây sơn làm vua 14 năm thì hết (1788-1802).

         Còn nhiều chuyện ly kỳ, lạ đời mà cụ Trạng đoán đâu trúng đấy. Vào thời cụ đang còn sanh tiền (1491-1585) chắc chắn dân Việt Nam của mình chẳng ai biết đến máy bay là gì? Nhưng riêng cụ, cụ đã biết trước sau nầy sẽ có máy bay và biết luôn số phận chết cháy của tên toàn quyền Pháp tại Đông Dương là Pasquier qua hai câu “Sấm” sau đây:

                                  Giữa năm hai bảy mười ba,

                                  Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.

“Tám Gà” là tên của Toàn quyền Pháp tại Đông Dương. Tên tiếng Pháp của y là Pasquier. Nhưng người Việt Nam mình đọc trại lại là Bát Kê. Theo nghĩa tiếng Hán Việt của mình: Bát là tám, Kê là gà. Nên bát kê là “Tám Gà”. Vì là năm nhuần hai tháng Bảy, nên năm ấy có 13 tháng. Pasquier hưu trí trên đường về Pháp, máy bay bị lâm nạn, cháy trên không, làm cho Pasquier và phi hành đoàn bị thiệt mạng. Đúng theo lời cụ đã đoán trước ở trên.

         Còn đoán về cuộc nổi dậy chống Pháp của Việt Nam Quốc Dân Đảng qua bốn câu thơ như sau:

                          Tan tác Kiến kiều An đất nước            (1)

                          Xác xơ Cổ thụ sạch Am mây                (2)

                          Lâm giang nổi sóng mù Thao cát        (3)

                          Hưng địa tràn dâng Hóa nước đầy.     (4)

         Câu (1) chỉ Kiến An, câu (2) chỉ Cổ Am, câu (3) chỉ Lâm Thao, câu (4) chỉ Hưng Hóa. Bốn địa danh nầy là nơi khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng dưới quyền chỉ huy của lãnh tụ Nguyễn Thái Học. Sở dĩ tôi trình bày dài dòng như vậy là để biết được tài tiên tri của cụ Trạng Trình như thế nào? Có liên quan đến cuộc khởi binh tại Hốc Môn mà Đức Huỳnh Giáo Chủ có tham gia, đóng một vai trò quan trọng. Lúc đó Ngài đang hoạt động ở miền Đông, địa bàn hoạt động chính là quận Hốc Môn.

         Trước khi đi vào chi tiết các mùa xuân của Đức Huỳnh Giáo Chủ, tôi xin tuần tự được trình bày sơ qua những mùa xuân đáng chú ý còn ghi lại trong Thi Văn Giáo Lý của Ngài.

II.  Mùa xuân Canh Thìn, năm 1940.

         Ngày 1 tháng giêng, năm Canh Thìn, 1940. Đức Thầy sáng tác bài “Đầu Xuân” thì 3 tháng 12 ngày sau Ngài bị nhà cầm quyền của thực dân Pháp ở Châu Đốc đến tận làng Hòa Hảo, khẩn cấp bắt Ngài vào lúc 7 giờ sáng, ngày 12 tháng 4 cùng năm nói trên. Như vậy, ta nhận thấy kể từ ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão. Ngày mà Đức Thầy khai đạo cho đến khi Ngài bị bắt chưa đầy một năm. Đây cũng là ngày xuân đầu tiên kể từ ngày Ngài khai đạo. Vậy ta thử tìm hiểu tâm tư, tình cảm cùng lòng yêu nước của Ngài đã bắt đầu hé lộ như thế nào? Qua bài thơ xuân đầu tiên của Ngài:

                          “Xóm trên, xóm dưới cùng nhau đốt,

                            Khúc giữa phần ta mãi nghe hùn”.

         Đức Thầy rất khéo léo dùng tiếng pháo người ta đốt trong ba ngày tết để ám chỉ tiếng súng của Đệ Nhị thế chiến đang nổ rộ bên trời Âu. Ngài sử dụng những từ ngữ rất thông dụng như “xóm trên, xóm dưới”. Ta mới chợt nghe qua mà không để ý thì nghĩ chỉ có xóm trên, xóm dưới đốt pháo để mừng xuân. Còn xóm giữa là nhà của Ngài không có ai đốt pháo, hay chưa đốt. Ngài chỉ nghe hùn mà thôi. Vậy xóm giữa và nhà của Ngài ở đâu? Ấy chính là đất nước Việt Nam đó. Súng đã nổ khắp nơi trên thế giới rồi. Trước sau gì rồi cũng sẽ nổ trên đất nước Việt Nam, tức là nhà của Ngài. Vì Việt Nam là cõi trung ương mà, tức là khúc giữa, trước sau gì rồi đây chiến tranh cũng kéo đến không chóng thì chầy:

                          “Đất Việt Nam nhằm cõi trung ương”.

         Khúc giữa là nhà Ngài, tức Việt Nam bây giờ chỉ nghe hùn thôi mà còn lùng tung cả lỗ tai rồi. Huống hồ chi khi chiến tranh kéo đến. Phần nầy, Ngài còn hàm ý nói chiến tranh qua năm mới tức năm Rồng (1940) còn dữ tợn hơn nữa và sẽ đến xóm nhà của Ngài, không xa.

                          Nghe hùn lỗ nhĩ cũng lùng tung.

         Hay:

                          Mèo lui Rồng tới bay vơ vẩn,

                          Thế giới chiến tranh nổ khắp bùng.

         Mà khi chiến tranh xảy ra càng lúc càng dữ tợn, dân ta lại càng thêm đói khát lầm than khổ sở. Thông thường thì xuân về ai ai cũng vui mừng đón xuân trong niềm hy vọng, hân hoan coi năm mới có mang lại cho mình điều gì vui vầy, sum hợp, may mắn, khác lạ tốt tươi thêm lên không? Nhưng trái lại, Ngài đã biết trước ngày xuân mới nầy, tiếng súng chiến tranh sẽ nổ rộ lên lẹt đẹt khắp nơi như là pháo tết vậy. Chớ không có gì giảm bớt, mang đại hoạ đến cho nhân loại. Còn làm cho dân ta nghèo túng, đói khổ thêm lên. Ngài nhìn thấy trước mà không biết làm sao vì là số trời đã định thì biết làm sao hơn. Dù ai có tài ba lỗi lạc đi chăng nữa cũng đành chịu vâng theo số mạng mà thôi.

         Cũng như trong bài Sứ mạng của Ngài có nói: “Ta đây tuy không thể đem phép huệ linh mà cứu an tai họa chiến tranh tàn khốc do loài người tàn bạo gây nên.” Nên tâm não của Ngài cũng bắt khùng, chớ có phút nào vui đâu. Đó là tấm lòng bác ái vị tha của một vị Bồ Tát đối với nhân loại chúng sinh.

                          Lẹt đẹt rồi đây lẹt đẹt bùng,

                          Đùng đùng lẹt đẹt nổ lùng tung.

                          Lùng tung lúng túng dân ta túng,

                          Ngao ngán cho xuân lão bắt khùng.

                                                                               (Đốt Pháo Xuân, tr. 231)

         Dù chiến tranh nổ ra trên khắp thế giới, nhưng Ngài cũng hy vọng đây là cơ hội cho đất nước Việt Nam thoát khỏi sự thống trị của ngoại nhân, tự do, dân chủ, độc lập, chánh quyền sẽ về với dân tộc Việt Nam. Ngài đinh ninh như vậy:

                          Mồng một năm nay rõ thiệt Thìn,

                          Hẹn cùng non nước vẫn đinh ninh.

         Ngài thầm đinh ninh hy vọng, cầu xin, Phật Trời cùng đức Quan Thế Âm Bồ Tát ở Nam Hải phù hộ cho dân mình sớm thoát qua cảnh khổ vì tai ách chiến tranh. Vì lòng từ ái chứa chan, thương sanh chúng mắc vào vòng thảm họa. Ngài chẳng những độ cho người tu hành hiền lương mà còn độ luôn cả người không ưa, không thích việc tu hành và Ngài nữa:

                          Nam Hải Quan Âm lấy tịnh bình,

                          Cầm nhành dương liễu rảy tà tinh.

                          Quyết lòng độ tận trong sanh chúng,

                          Ai ghét, ai ưa cũng mặc tình.

         Trong mùa xuân Canh Thìn, Đức Thầy cũng viết ra bài “Xuân Hạ Tác Cuồng Thơ”. Trong bài nầy Thầy cho biết chủ nghĩa vô thần bắt đầu xuất hiện

                          Chúng lấy thuyết vô thần bài bác,

                          Quyết một ngày thông đạt địa tiên.

         Còn riêng Ngài thì bạo lực không bao giờ mang lại hạnh phúc cho dân. Trước sau gì cũng bị tận diệt. Thuận lòng dân sẽ được lòng trời, nghịch lòng dân sẽ trái lòng trời, trước sau gì cũng bị diệt. (Thuận thiên dã tồn, nghịch thiên tắc vong). Mà lòng dân tức lòng trời. Dù ai có nắm được quyền cao, chức trọng hay nắm cả vận mệnh quốc gia dân tộc rồi cũng tiêu tan như Trụ Vương mà thôi.

                                           Trụ kia bạc ác phải nhường,

                          Võ vương hữu đức đường đường trị dân.

         Ngài khuyên trong tín đồ của Ngài và khắp bá tánh vạn dân hãy bình tỉnh lo tu niệm rèn chí làm lành, gìn thuần phong mỹ tục, trung hiếu vẹn toàn cho đến khi “Phương Nam rạng ngọc chói lòa.” Hay cho đến khi “vua Kiệt hồi qui.”

                          Chứ nóng nảy sân si hư việc,

                          Phải đợi thời vua Kiệt hồi qui.

         Hay:

                                           Phương Nam rạng ngọc chói lòa,

                          Lưu ly hổ phách mấy tòa đài cung.

                                  Dành cho kẻ lòng trung chánh trực,

                                  Quân cùng thần náo nức vui tươi.

                                           Liên hoa đua nở nụ cười,

                          Rước tôi lương đống chào người chân tu.

         Ngày 3 tháng Chạp năm Canh Thìn, Đức Thầy viết bài “Trao Lời Cùng Ông Táo” tại nhà thương Chợ Quán ở Sài Gòn để gởi gắm tâm sự của Ngài qua lời ôngTáo đến Thiên đình, Ngọc Hoàng, Thượng Đế để bày tường nổi khổ của dân chúng ở cõi Ta bà, thế gian nầy. Nỗi truân chuyên, uất khúc kể từ khi Ngài bị xa nhà cho đến giờ:

                                  Luôn từ ngày Tăng sĩ xa nhà,

                          Đều uất kết tâu lên cùng Thượng đế.

         Con người đua nhau chạy theo vật chất văn minh mà quên đi nề nếp của ông cha bao nhiêu đời truyền lại cho cháu con. Mạnh ai nấy sống, mạnh được yếu thua. Giang san bị đày đọa dưới gót giầy xâm lăng của ngoại bang, người Pháp. Còn trong nước có những kẻ luồn lách qua kẻ hở của luật pháp để làm những điều vô nghĩa bất nhân. Gia đình kỷ cương nề nếp ông cha bị bại hoại. Luân lý suy đồi, lễ nghĩa không có.

                          Đời văn minh vật chất bỏ gương xưa.

                          Nghiệp tổ tiên con cháu vầy bừa,

                          Học thói mới lăng loàn theo sở dục.

         Hay:

                          Ở thị thiềng đua chen xướng khởi,

                          Những tuồng hư, cho bọn gái lẫn trai.

                          Nào hút thuốc phiện, hội ve chai,

                          Nào trùm đĩ, ma cô, nghề hút máu.

         Còn về phần Ngài thì cố gắng kêu gào giữ gương xưa cho khỏi hổ thẹn với tổ tiên nòi giống. Hết sức để chấn hưng lại nền Phật giáo. Truyền bá đại đạo của Ngài trong cõi chúng sanh mê mụi, lầm than, ham đua đòi theo văn minh vật chất. Dù khó khăn đến mấy, Ngài cũng nhất quyết truyền bá nền đạo mầu cho khắp cả chúng sanh, độ họ vượt qua ba cõi, sáu đường rồi thì Ngài mới toại nguyện nghỉ ngơi. Nếu chúng sanh còn đau khổ là Ngài cứ tiếp tục.

                          Phần sĩ tăng tay trống miệng kèn,

                          Giác thiện tánh chấn hưng nền Phật giáo.

                          Nếu chừng nào khai thông đại đạo,

                          Đuốc từ bi rọi khắp cả nhân gian.

                          Bể trầm luân khô cạn sáu đàng,

                          Tăng sĩ mới trở về nơi thanh tịnh.

         Cũng trong tết năm Canh Thìn, Đức Thầy làm hai bài thơ gởi về để chúc tuổi thúc ông trong ba ngày xuân (Ông Mười là chú ruột của Đức Ông thân sinh của Đức Thầy). Vì hoàn cảnh xa xôi nên không tiện về thăm được. Thôi thì để tỏ lòng hiếu đạo với gia tiên, tổ tông, ông bà, cha mẹ bằng “Câu thơ thay cho bầu rượu, Bài phú thay cho chậu bông.” Và cũng xin chớ đau lòng, vì thân trai vai mang nợ đạo, gánh vác nợ non sông cho thỏa chí nam nhi, tang bồng hồ thủy.

                          Câu thơ cao hứng thay bầu rượu,

                          Bài phú vui mừng thế chậu bông.

         Hay:

                          Ơn nhà tạm gác sau nầy trả,

                          Xin bớt đau lòng bớt ngóng trông.

III.  Mùa Xuân Tân Tỵ 1941.

         Mùa xuân năm Tân Tỵ chánh quyền thực dân Pháp còn giam lỏng Đức Thầy tại nhà thương Chợ Quán cho rằng để chữa bịnh điên. Nhưng đó là một hình thức ngụy tạo chứ đúng ra trong thâm tâm của bọn giặc Pháp, là muốn nhốt và cô lập Ngài với quảng đại quần chúng và tín đồ của Ngài, dưới danh nghĩa chữa bịnh điên coi có vẻ vừa nhân đạo, vừa tránh được dư luận của báo chí. Bắt nhốt giam cầm người vô tội. Thực ra Ngài có tội gì đâu? Chẳng qua là tội cứu khổ nhân sinh và lòng yêu nước Việt Nam của Ngài. Ngài cũng hy vọng xuân nầy là ngày xuân khỏi thảm lệ đau thương cho cả dân tộc Việt Nam. Nên Ngài khuyên hãy rán chờ.

                          Nầy hỡi chúa xuân ta rán chờ,

                          Khỏi ngày thảm lệ buổi nguy cơ.

                          Pháo tan xác pháo rền vang nhỉ,

                          Khói bốc đường mây áng mịt mờ.

         Nhưng mà rồi Ngài đã thất vọng, xuân mà chẳng thấy xuân. Chỉ là một mùa xuân gượng gạo mà thôi. Mong cho đất nước thay đổi mà chẳng thấy đổi thay gì? Dân chúng vẫn bị lầm than khốn khổ. Đất nước vẫn còn chìm đắm dưới gót giầy bạo ngược của kẻ bạo tàn, thực dân, thống trị Pháp.

                          Nào dè xuân ấy là xuân gượng,

                          Của buổi loạn ly gợi thảm sầu.

         Sau tết Tân Tỵ 1941, Pháp lại lưu đày Ngài đến tỉnh Bạc Liêu cho đến ngày 11 tháng 10 năm 1942 Nhựt rước Ngài về Sài Gòn ngày 9 tháng 9 năm 1945. Trần Văn Giàu ám hại Ngài nhưng không được. Ngài phải lánh mặt lên Long Thành rồi qua Bà Rịa đi sâu vào rừng chà là. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh ngày 14 tháng 8 năm 1945. Pháp nhờ quân đội Anh yểm trợ đưa trở lại Việt Nam đặt ách thống tri lên dân ta lần nữa. Ngài thành lập Mặt trận Quốc gia gồm các tôn giáo và thành phần quốc gia yêu nước chống Pháp. Mặt trận nầy chạm tráng võ trang với quân đội Pháp nhiều lần, khiến cho chúng gánh chịu tổn thất không nhỏ.

IV.  Lời Tiên đoán của cụ Trạng Trình.

         Ngày 20 tháng 4 năm 1946, Ngài cùng các đảng phái quốc gia, tôn giáo, lực lượng võ trang hội nghị ba ngày đêm tại Bà Quẹo, thuộc quận Hốc Môn, tỉnh Gia Định. Thành lập Mặt  trận Quốc Gia Liên Hiệp Việt Nam. Đức Thầy giữ chức Chủ tịch, Phó chủ tịch Vũ Tam Anh, Thơ ký Mai Thọ Trân, Tuyên truyền Lê Trung Nghĩa, Quân sự Huỳnh Văn Trí. Cố vấn Phạm Thiều, Phạm Đức Hữu, Trần văn Lâm,… Ngoài ra còn có Ủy Ban Quân Sự Tối Cao. Võ phòng đóng tại làng Vĩnh Lạc, Bà Quẹo thuộc 18 thôn vườn trầu và vườn thơm. Bao gồm có các lực lượng võ trang Hòa Hảo, Cao Đài, Bình Xuyên và lực lượng của bộ đội Mười Trí.

         Lực luợng rất đông, võ khí thô sơ nhưng tinh thần tác chiến rất cao. Nên nhiều lần gây cho lực lượng của Pháp phải chịu thiệt hại nặng mỗi khi giao chiến với lực lượng của ta. Đúng theo lời tiên đoán của cụ Trạng Trình trước đó, đã trên 361 kể vào thời điểm năm 1946.

                          Đồ, Môn, An, Thái dẫy đầy can qua.

         Đồ là Đồ Lương, Môn là Hốc Môn, An là Nghệ An, Thái là Thái Nguyên. Vào năm 1946 cả bốn nơi nầy đều có sự nổi dậy của các nhà yêu nuớc cách mạng đứng lên chống Pháp.

         Nhưng chẳng may cho cuộc kháng chiến chống Pháp tại Hốc Môn bị Pháp tập trung lực lượng máy bay, tàu thủy, súng đồng cùng đủ loại vũ khí hạng nặng đè bẹp, bại trận, dẹp tan. Có lẽ là tại gần Sài Gòn quá chăng? Nên binh lực của Pháp tập trung mau lẹ, tiếp tế dễ dàng, tiện cả đường xe và đường thủy chăng? Nên Đức Thầy thương tiếc những đấng anh hùng, liệt sĩ riêng xui mệnh bạc, phải đền nợ nước sớm. Do đó Ngài viết bài “Tế Chiến Sĩ Vườn Thơm” lời lẽ xúc tích rất cảm động. Mỗi khi ta đọc và hình dung lại muốn sa nước mắt:

                          Trên linh tọa hương trầm nghi ngút,

                          Tấc lòng thành cầu chúc vong linh.

                                  Sa trường hỡi các sĩ binh,

                 Vườn thơm tuyệt mạng hiến mình non sông.

                                  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .

                                  Lòng thành thắp một nén hương,

                 Vái hồn liệt sĩ bốn phương tựu về.

                          Nơi làng vắng cam bề đơn giản,

                          Lễ mọn nầy trước án bày ra.

                                  Hiển linh xin chứng gọi là ...

         Bài Văn tế nầy, Đức Thầy làm tại Quéo Ba, ngày 1 tháng 10 năm 1946. Tức là làm ngay trong mặt trân mới vừa xảy ra, trận chiến khủng khiếp giữa các liệt sĩ yêu nước với Pháp, tại quận Hốc Môn. Năm 1946. Đúng theo lời cụ Trạng Trình tiên đoán. Tôi trình bày ở trên.

         Sau đó Đức Thầy còn làm bài thơ xuân cuối cùng là “Tết Ở Chiến Khu” tại xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định chớ không phải ở Chợ Lớn (TVGL ghi ở Chợ Lớn là lộn. Vì ở ngã tư Bình Hòa, đường Nguyễn văn Học đi đến là Cầu Băng Ky, đường lên Thủ Đức, Biên Hòa, là đường đi cũ trước khi có Xa Lộ Biên Hòa) vào ngày 2 tháng 1 năm Đinh Hợi, 1947.

         Trong bài nầy Ngài tả lại cuộc sống ở chiến khu trong ba ngày tết. Vui xuân nhưng không quên bổn phận của người trai thời loạn. Hun đúc lòng yêu nước của dân binh, chiến sĩ nước Nam. Dầu không có súng, dùng tầm vông vạt nhọn cũng chống giặc ngoại xâm cho đến cùng, dù phải hy sinh, đền ơn đất nước không quản thân trai.

                          Tặng bạn ngày xuân chén rượu nồng,

                          Uống rồi vùng vẫy khắp tây đông.

                          Đem nguồn sống mới cho nhân loại,

                          Để tiến, tiến lên cõi đại đồng.

         Hay:

                                  Rượu xuân càng nhắp càng say,

                 Gió xuân càng thổi thì tài càng tăng.

                                  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .   .  .  .  .  .

                          Thỏa tình được sống dưới trời đông,

                          Tổ phụ ngày xưa rất đẹp lòng.

                          Nhìn thấy cháu con không thẹn mặt,

                          Từ đây non nước thoát nguy vong.

         Nhưng rất tiếc đến đêm 16 tháng 4 năm 1947. Ngài đi họp với Bửu Vinh tại Đốc Vàng thì Ngài vắng mặt cho đến hôm nay. Ngài vắng mặt trong lúc đất nước lâm nguy, nhân dân đồ thán. Đất nước mất đi một nhà cách mạng yêu nước chân chính, tài ba. Đạo pháp mất đi một vị Bồ Tát hết lòng yêu mến chúng sinh, nhân loại, quyết độ đời cho đến chung thân. Đưa bá tánh thoát vòng khổ hải trầm luân:

                          Chí quyết một ngày ta độ tận.

         Khối tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo mất đi một đấng Minh sư. Trong làng văn chương thi phú mất đi một thi sĩ trẻ tuổi tài ba và còn mất, mất nữa, mất nhiều lắm... 

         Viết đến đây xin một phút dừng tay, thành tâm tưởng niệm đến đấng Tôn Sư. Xin Ngài ban ơn lành gia hộ cho tất cả chúng sinh được sống trong cảnh thanh bình vô sự, nhà nhà hạnh phúc, ấm no, không có cảnh người bốc lột người, dân tộc Việt Nam sớm vượt qua khỏi kiếp nạn. Tớ thầy trùng phùng hội ngộ. Như lời Ngài đã dạy:

                                  Chừng nào Thầy lại gia trung,

                          Thì trong bổn đạo bóng tùng phủ che.

         Cùng thành tâm: Nguyện cầu chư Phật mười phương, đồng tiếp dẫn chúng sanh giải thoát.

                                                            San Jose, mùa Thu năm 2013.

                                                            Nguyễn Hoài Ân


Comments