9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 23‎ > ‎

09. « Xuân Hạ Tác Cuồng Thơ » - Trần Phú Hữu

« XUÂN HẠ TÁC CUỒNG THƠ »

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 23

 
         Bài thơ nầy, Đức Thầy sáng tác tại làng Hòa Hảo tháng Tư năm Canh Thìn (1940).

         Tựa bài thơ nằm trong hai ngoặc kép, tức do chính tay Ngài đề tựa, có ẩn ý thâm sâu, trọng đại, nói về sự biến chuyển thời cuộc, lịch sử dân tộc Việt Nam, về mùa Xuân qua mùa Hạ, làm thần trí Ngài dao động, bắt cuồng loạn cả tâm can.

              “Sĩ điềm tịnh tiểu nhơn lấn lướt,

                Thời vận hèn dụng nhược thắng cang.”

         Ngài thừa vưng lịnh đức Phật Thích Ca, Phật Di Đà, đức Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng lâm trần cứu thế, chấn hưng Phật pháp, trở về Chánh pháp vô vi và báo cho nhân loại biết sự biến chuyển thiên cơ thời cuộc gấp rút do luật trời thưởng phạt công bằng.

         Ngài an nhiên trầm tĩnh lo việc cứu đời, bị đám tiểu nhân, lợi dụng thời mạt pháp hỗn độn lấn lướt, mưu hại, phá hoại sứ mạng cứu thế của Ngài.

         Nay vì thời vận hèn yếu, chưa gặp lúc hanh thông nên phải ẩn nhẫn, chờ thời đại tốt dụng phép nhu nhuyễn, mềm dẽo để thắng kẻ ác, cường bạo.

                   “Cầu cho bốn biển bằng an,

          Chúc câu lai thới xóm làng vĩnh miên.”

         Ngài cầu nguyện Phật Trời phò hộ cho năm châu bốn biển sớm được thái bình thạnh trị, để nhân loại sống an cư lạc nghiệp, hạnh phúc, xóm làng yên vui, trường cửu.

               “Xưng danh hiệu nửa Tiên nửa tục,

                 Đứng trung thần gạn đục tầm trong.”

         Trung tuần tháng Tám năm Kỷ Mão (1939), Thầy trò Ngài mượn bút mực viết ra Kinh, Giảng, Kệ giảng dạy đạo lý, tỏ lộ thiên cơ cho mọi người biết. Xưng danh hiệu Thầy Tớ là Khùng Điên, với lời nói nửa hư, nửa thực; nửa Tiên, nửa tục. Có nghĩa là:

                   Điên nầy Điên của Thần Tiên,

            Ở trên non núi xuống miền Lục Châu.

               (Điêntục; Thần TiênTiên).

                   Bởi chữ Khùng của Phật của Thầy,

                   Chớ chẳng phải của người lãng trí.

         (Chữ Khùng là tục; của Phật, của ThầyTiên).

         Các bậc hiền nhân, trung thần, nghĩa sĩ, trí thức, khi đọc qua Sấm kinh của Ngài, để trí suy gẫm, gạt bỏ lời tục phàm, nhận lấy lời thanh cao Tiên Phật, mới biết rõ hiện thời có đấng cứu thế Phật Tiên lâm phàm cứu đời.

                  “Gìn câu thủ cựu gia phong,

            Gom nhành lá rụng vun trồng giống xưa.”

         Ngài khuyên mọi người nên quí trọng tinh thần đạo đức có từ ngàn xưa, giữ gìn những cái hay đẹp, quí báu, những phong tục tập quán của Tổ Tiên Ông Bà. Đó là nền xưa, nếp cũ rất trang nghiêm, tốt đẹp, quí báu.

         Ngài ra đời, gom nhành lá rụng, gom những hạt giống quí báu đạo đức còn lưu truyền lại, đem gieo trồng để phục hưng nền đạo đức xưa của Ông Bà Tổ Tiên, đã dày công gầy dựng, nhứt là thời cực thịnh Lý-Trần.

                   “Tơ lòng nhiều đoạn đẩy đưa,

             Mong ơn Phật Thánh phước thừa cho dân.”

         Xuống trần chưa gặp thời hanh thông, lòng Ngài xót xa, rối rắm. Mong ước chư Phật, Thánh, Tiên giúp sức ban phước lành cho dân chúng sớm thoát khỏi họa đao binh.

                    “Chúng lấy thuyết vô thần bài bác,

                      Quyết một ngày thông đạt địa tiên.”

         Ngài cho biết đám vô thần đã xuất hiện vào thế kỷ 20, chủ trương sức mạnh vật chất, đấu tranh sắt máu, không tin nhân quả, chẳng kính nể Phật Tiên Thần Thánh, bài bác cho Tôn giáo là mùi thuốc phiện, chỉ có chúng nó mới có đủ tài phép chế ngự Trời Đất.

                      “Chúng sanh nghe thửa lời truyền,

              Cùng nhau thảo thuận danh hiền mới thơm.”

         Ngài khuyên tất cả mọi người nghe theo Kinh giảng, hãy cùng nhau lo tu hành, giữ vững tinh thần đạo đức, lánh xa đám vô thần tam vô (vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo).

                          “Dốc chờ ngày sen đơm ngụy trổ.

                            Khỏi bùn lầy tông tổ hiển vang.”

         Các thiện tín hãy ẩn nhẫn chờ thời đại tương lai huy hoàng của đất nước mai sau. Gắng sức tu hành, chờ ngày thành công đắc quả vị, cao thượng do mình chí công hành đạo.

         Lúc lập Hội, như sen vượt khỏi bùn lầy trổ bông rực rỡ, hương bay ngào ngạt, màu sắc chói lòa, thành công đắc quả. Lại cứu vớt được tổ tiên vinh hiển.

                                  “Bá Nha hiệp mặt tao đàn,

                 Tử Kỳ trổi giọng khải hoàn bốn phương.”

         Bá Nha làm quan thượng Đại Phu đời Tống, thời Chiến quốc. Ông vốn thiện nghệ chơi đàn. Trong chuyến đi Sứ nước Sở về, nhằm đêm trăng sáng, đánh đàn tại bến Hàm Dương, âm thanh du dương, réo rắt.

         Bỗng nhiên đàn bị đứt dây. Ông nghi có người lén nghe. Truyền quân lên bờ tìm, gặp Tử Kỳ đang rình nghe.

         - Bá Nha hỏi: Vừa rồi ta đàn bản gì ?

         - Tử Kỳ thưa: Đại phu đàn bản “Khổng Tử thương tiếc Nhan Hồi chết trẻ.”

         Bá Nha vui mừng gặp được tri âm. Mời Tử Kỳ lên thuyền uống rượu, thưởng trăng.

         - Bá Nha lên phím đờn thêm một bản, nghĩ mình đang ở chốn non cao.

         - Tử Kỳ khen hay, ngâm lên: “Nga nga hồ chí tại cao sơn.”

         - Bá Nha đàn tiếp, nghĩ mình đang ở nơi nước chảy xuôi dòng.

         - Tử Kỳ gật đầu bảo: Ý Ngài cuồn cuộn như nước chảy thuận chiều. “Dương dương hồ chí tại lưu thủy.”

         Bá Nha nhận Tử Kỳ làm bạn tri âm. Sau đó, hai bên chia tay hẹn gặp lại năm sau tại Hàm Dương.

         Đúng hẹn, Bá Nha đến Hàm Dương đem đàn ra khảy khúc “Tương phùng” nhưng không thấy Tử Kỳ ra đón.

         Tiếng đàn buồn thảm như ai oán than, sầu thảm. Sanh nghi, Bá Nha đi tìm, mới hay Tử Kỳ đã hóa ra người thiên cổ, nên rất thương tâm.

         Bá Nha đến mộ Tử Kỳ, đàn một bản cuối cùng, nghe bi ai, thống thiết:

                                  “Đàn ơi năm sợi tơ đồng,

                 Thiên thu xin gởi theo lòng cố nhân.”

         Bá Nha bèn đập bể đàn, thề không chơi nữa vì thiếu người tri âm:

                          “Dao cầm đập nát đau lòng phượng,

                            Đờn vắng Tử Kỳ đàn với ai.

                            Gió Xuân khắp mặt bao bè bạn,

                            Muốn kiếm tri âm, ôi khó thay.”

                                  “Thơ rằng lưu thủy cao sơn,

                 Ngày nào nghe được tiếng đờn tri âm…”

         Tới ngày lập Hội Long Vân, Long Hoa, Đức Thầy như Bá Nha, thiện nam tín nữ, anh hùng hào kiệt khắp nơi như Tử Kỳ, họp mặt đoàn tụ cùng nhau đoàn kết đứng lên xây dựng đất nước, ca khúc khải hoàn sau cơn ly loạn, chiến tranh thảm khốc.

                          “Lòng chạnh cảm quê hương nghèo ngặt,

                            Các nước ngoài bán mắt hàng lên.”

         Bấy giờ đất nước quê hương đang thời Pháp thuộc, bị thống trị, dân chúng gặp cảnh ngoại xâm, nội loạn, chết chóc đau thương, nghèo đói bần cùng… Ngoại quốc đem hàng hóa vào nước ta bán giá rất cao, dân chúng không tiền để mua, phải chịu cảnh rách rưới, cơ hàn.

                                  “Ơn cha nghĩa mẹ phải đền,

                          Một ngày hiệp mặt lập nền từ bi.”

         Trong thời gian chờ vận tốt, phải lo tu hành chính chắn, trả nợ Tứ Ân, ẩn nhẫn đợi thời, sẽ có một ngày hưng thịnh, huy hoàng đưa đến. Lúc ấy:

         - Tớ Thầy tôi Chúa cùng nhau gặp. Đại Hội khai mở, thế giới hòa bình.

                          “Những mơ ước hồi qui thượng cổ,

                            Thì hết câu ái ố gièm pha.”

         Ngài mơ ước được sớm đến đời Thượng nguơn Thánh đức, mọi người sẽ được âu ca hạnh phúc, an vui, lạc nghiệp, thái bình.

                                  “Phương Nam rạng ngọc chói lòa,

                          Lưu ly hổ phách mấy tòa đài cung.”

         Lúc ấy ở phương Nam, miền Nam nước Việt, nơi núi Cấm, đền vàng Thánh Vương hiển lộ, cung vàng điện ngọc dẫy đầy, dùng để ban thưởng người hiền đức.

         Cung điện nguy nga, hùng vĩ, tráng lệ bằng ngọc ngà, lưu ly, hổ phách, dành cho Thánh Vương và các trung thần phò Thánh Chúa cùng nhau an hưởng, vui chơi. Phật Trời ban thưởng công đức tu hành.

                                  "Liên hoa đua nở nụ cười,

                 Rước tôi lương đống chào người chơn tu."

         Lúc ấy vùng Thất Sơn huyền bí, hùng vĩ, hoa sen đua nở khắp nơi, ở các hồ sen Thần Tiên tạo dựng, ánh sáng rực rỡ, mùi hương ngào ngạt, màu sắc thanh cao, vui vẻ tiếp rước các bậc tôi hiền, rường cột có công cứu nước, dựng nước, thuộc bậc khai quốc công thần phò Thánh Chúa và cung kính chào đón các bậc chơn tu. Lúc ấy:

                                  "Người tu như thể bá tòng,

                 Ai ai cũng quí cũng trông cũng nhìn."

         Hay:

                                  "Thế gian thoát chốn ngục tù,

                 Thần Tiên hiệp mặt thì cù hóa long."

         Đến lúc lập Hội, mọi người ở thế gian được sống thanh bình, an lạc, hạnh phúc. Phật Tiên Thần Thánh xuất hiện, rắn hóa cù, kẻ tu hành thì đắc đạo, có thần thông bay dạo khắp nơi.

                          "Mắt nhìn thấy thần thông biến hóa,

                            Đức Di Đà hiện chóa hào quang."

         Lập Hội, mọi người đều vui vẻ và trông thấy Đức Phật Di Đà xuất hiện, thần thông quảng đại, hào quang rực rỡ, chiếu sáng khắp nơi nơi, cảnh vật thật trang nghiêm, mầu nhiệm, huyền bí.

                                  "Việt Nam là giống Hồng Bàng,

                 Không còn hung bạo lăng loàn như nay."

         Tổ Tiên Việt Nam rất cao quí là giống Hồng Bàng, gốc Tiên Thánh, tròn đầy đạo đức, không xấu xa, tội lỗi hung ác như nay. Bây giờ trở lại nguồn gốc cũ, cao quí như xưa.

                          "Dòm khắp chốn rồng mây chơi giỡn,

                            Dân hai lòng hết bỡn Khùng Điên."

         Khi ấy, dòm lên trời cao, rộng rãi bao la, thấy cảnh rồng phụng tứ linh xuất hiện, bay lượn khắp nơi, chơi giỡn thảnh thơi nhàn nhã.

         Những kẻ hung tàn, bạo ngược, cúi đầu khâm phục, kính trọng các đấng Phật Trời.

                                  "Thiên cơ biến ảo diệu huyền,

                 Hiệp chung tam cõi dưới miền trần ai."

         Máy trời thiên cơ đã lộ, thưởng phạt công bình. Lại ba cõi xuất hiện:

                                  "Thiên Hoàng mở cửa Các Lân,

                 Địa Hoàng cũng mở mấy từng ngục môn.

                                  Mười cửa xem thấy ghê hồn,

                 Cho trần coi thử có mà hay không.

                                  Nhơn Hoàng cũng lấy lẽ công,

                 Cũng đồng trừng trị kẻ lòng tà gian.

                                  Ấy là đến lúc xuê xang,

                 Tam Hoàng trở lại là đời Thượng Nguơn."

                          "Bút nghiên hạ viết bài an lạc,

                            Dẫu cho người dốt nát cũng nghe."

         Đức Thầy hạ bút viết lời đạo lý giảng dạy, tiết lộ thiên cơ cho mọi người biết hết sự việc ở thế gian, để thức tỉnh tu hành.

         Dầu cho người thôn quê, ít học, dốt nát cũng nghe biết lời vàng ngọc, hiểu biết việc biến chuyển của cuộc đời Hạ nguơn mạt pháp.

                                  "Kìa kìa con cuốc gọi hè,

                 Chẳng lo gieo giống đậu, mè, bắp, khoai."

         Ngài chỉ dạy, nói về vận mạng của đất nước trong tương lai sắp nguy khốn sẽ thay đổi chế độ, dân chúng nghèo đói, lầm than, xảy ra vào mùa Xuân sang Hạ, một biến cố trọng đại chưa từng có trong cổ kim lịch sử dân tộc. Mọi người phải lo trồng trọt, cày sâu, cuốc bẫm để mà được sống còn. Đó là biến cố 30-4-1975 (Xuân-Hạ tác cuồng thơ)

                          "Thi tả cảnh Bồng lai tại thế,

                            Mãi chần chờ e trễ kỳ thi."

         Ngài sáng tác thi thơ cho biết cảnh Tiên Phật sắp hiện ra ở thế gian vô cùng mầu nhiệm, tốt đẹp, phải lo tu hiền để thoát khổ được an vui trong kỳ Phật lập Hội, nếu bê trễ sẽ không kịp kỳ ứng thí.

                                  "Muôn năm Trời định khắc kỳ,

                 Ngặt ông thất thủ Hạ-bì khó toan."

Thất thủ Hạ-bì:

         Lưu Bị binh yếu, định cướp trại Tào Tháo, bị phục binh của Tào Tháo nên thất trận. Lưu Bị chạy về Thanh Châu ở nhờ Viên Thiệu. Trương Phi chạy lên núi Mang Dịch lánh nạn.

         Quan Công đang ở thành Hạ-bì, trúng kế "điệu hổ ly sơn", bị Tào Tháo chiếm thành, mất nước, ngày đêm bị bao vây trên đảo Thổ Sơn.

         Trương Liêu, bạn của Quan Vân Trường khuyên nên hàng Tào Tháo, có 3 điều lợi:

                 - Sẽ sống còn gặp lại Lưu Bị,

                 - Bảo vệ được nhị tẩu,

                 - Có cơ hội khôi phục nhà Hán.

         Quan Công đưa ra 3 điều kiện:

                 - Vân Trường đầu Hán không đầu Tào,

                 - Khi biết Lưu Bị ở đâu, theo phò,

                 - Không ai được xúc phạm nhị tẩu.

         Tào Tháo ban đầu không chịu. Nhưng Trương Liêu thuyết phục, sau mới chịu. Vua Hiến Đế phong Vân Trường làm Thiên Tướng Quân, Hán thọ Đình Hầu.

         Sau nầy hay tin Lưu Bị còn sống ở bên Viên Thiệu, Vân Trường bỏ Tào Tháo tìm gặp Lưu Bị, phải vượt 5 ải, chém 6 tướng tài của Tào Tháo.

         Cả vạn năm dài, Trời định trong chớp mắt, Quan Công thất thủ thành Hạ Bì, giống như Việt Nam mất nước về tay Cộng Sản. 30-4-1975 vào mùa Xuân qua mùa Hạ, đó là việc nhân quả lâu đời do luật Trời định đoạt.

                          "Ta điên thuở Tam Hoàng Thượng cổ,

                            Khùng thế thời khùng lộ ngoài da."

         Thấy cảnh thiên cơ biến chuyển thời cuộc vận nước suy vong, tâm trí Ngài bối rối, phát khùng vì thế sự đảo điên.

                                  "Ghét dòng con nịnh độc xà,

                 Khinh khi trung nghĩa hải hà lòng nhơn."

         Ngài chán ghét kẻ vô thần, không đạo đức, tâm tánh ác độc như sà lang, hổ báo, luôn mưu hại người hiền đức, phá hoại giáo tông:

                          “Xưa tả đạo bàn môn phá đạo,

                            Nay vô thần mưu dứt giáo tông.”

                          "Đường gai gốc thiên sơn vạn hải,

                            Dẹp cho rồi tướng bái đàn đăng."

         Khi đúng thời cơ, Ngài đứng ra cứu nước, đăng đàn, bái tướng, vượt trăm ngàn khó khăn, qua thiên sơn, vạn hải mới làm được việc phục quốc, cứu nguy dân tộc.

                                  "Tử Nha như thể cát đằng,

                 Tùng quân dựa bóng vui bằng hưng Châu."

Tử Nha:

         Ngài tên tộc là Khương Tử Nha, một vị Thánh tướng nhà Châu, tên chữ Lã Vọng. Thuở hàn vi, vợ bỏ lấy chồng khác. Ông ngồi câu ở bờ sông Vị (Vị Thủy).

         Đến hơn 80 tuổi, Tử Nha mới được vua Văn Vương nhà Châu rước về làm Tướng quốc. Tử Nha điều binh khiển tướng diệt được vua Trụ hôn quân vô đạo. Nhờ công lao vĩ đại của Khương Tử Nha, cơ nghiệp nhà Châu giữ vững hơn 800 năm.

         Bài thơ sau đây nói rõ cuộc đời ông:

                          Mười năm nghèo túng áo còn bâu,

                          Thể gượng mua vui chớ chúc sầu.

                          Ngồi chốn bàn khê câu đợi vận,

                          Chờ xe Vương giả rước về hầu.

                          Tám mươi lẽ nữa mang đai ngọc,

                          Chín chục dư ba buộc ấn hầu.

                          Mậu Ngũ hội hàm trăm trấn phục,

                          Phong Thần chín tám bốn xuân thu.

         Đức Thầy sau nầy như quân sư Khương Tử Nha, tài năng xuất chúng, đầy tam lược, lục thao. Qui tụ anh hùng hào kiệt, kẻ tài đức, trung cang nghĩa khí khắp nơi để cứu quốc. Giống như Khương Tử Nha họp 800 chư hầu ở Mạnh Tân, diệt nhà Thương, lập nhà Châu, tạo cảnh thái bình 800 năm nước Trung Hoa.

                                  "Các nơi Tiên trưởng đâu đâu,

                 Lư bồng hội hiệp đồng chầu Thánh Vương."

         Ngoài việc qui tụ anh hùng, hào kiệt ái quốc khắp nơi, Ngài còn hội các chư Tiên ở cõi thanh Lư Bồng để phò Thánh Vương lên ngôi trị quốc.

                                  "Trụ kia bạo ác phải nhường,

                 Võ Vương hữu đức đường đường trị dân."

         Đám Kiệt Trụ vô thần Cộng sản bạo ác, không thâu phục được lòng dân, không xây dựng được đất nước tốt đẹp, hùng mạnh, phải sụp đổ chế độ, nhường lại cho vị Thánh Vương tài đức song toàn như vua Võ Vương nhà Châu trong truyện Phong Thần, đứng lên trị quốc và gây cuộc hòa bình cho vạn quốc chư bang.

         Đây là thời vua Chuyển Luân Thánh Vương ra đời, mấy ngàn năm mới có một lần.

                          "Thì rõ việc Phong Thần trở lại,

                            Thuyền Đông Pha lèo lái cánh trương."

Tô Đông Pha:

         Tương truyền Tô Đông Pha và Phật Ấn là hai thiền sư cùng tu chung một chùa trong tiền kiếp.

         Tô Đông Pha tu mà còn háo danh, bị Phật Ấn quở, nên tự ái, ngồi thiền xả thọ bỏ xác.

         Phật Ấn biết Đông Pha tái kiếp sẽ chống phá Phật pháp, nên cũng ngồi thiền xả thọ chết theo Đông Pha.

         Thiền sư háo danh đầu thai làm Tô Đông Pha. Thiền sư kia đầu thai làm Phật Ấn. Kiếp tái sanh, hai người là bạn thân, một tăng, một tục.

         Tô Đông Pha còn gọi là Tô Thức, người Mi Sơn đời nhà Tống, đỗ Tiến Sĩ, làm quan dưới thời vua Anh Tông, làm quan đến chức Thượng Thơ Bộ Binh.

         Sư Phật Ấn đắc đạo, tìm mọi cách khuyên Tô Đông Pha trở về Phật pháp, bỏ đi danh lợi. Cuối cùng Phật Ấn độ được Tô Đông Pha.

         Đây là việc Phong Thần tái thế đời Hạ nguơn dứt tà lập chánh. Đức Huỳnh Giáo Chủ có duyên lành với các thiện tín giống như Phật Ấn và Tô Đông Pha nên độ được nhiều người tu hành đắc quả trong đại hội Long Vân, Long Hoa.

                          "Chớ nóng nảy sân si hư việc,

                            Phải đợi thời vua Kiệt hồi qui."

         Ngài khuyên dạy, người tu hành phải nhã nhặn, mềm mỏng, nhẫn nhục, không nên nóng nảy thì mới thành tựu đạo hạnh thanh cao. Và phải nhẫn đợi thời cơ, chờ vua Kiệt (Cộng sản) lên nắm chánh quyền tạo nên tội với quốc gia, dân tộc (lúc ấy - năm 1940 - CS chưa nắm chánh quyền).

                                  "Xử phân những đứa vô nghì,

                          Mới là khỏa lấp vít tỳ ngọc son."

         Khi cộng sản lên nắm chánh quyền, đắc tội với quốc gia, dân tộc. Thánh Vương ra đời mới xử trị.

                          “Đức Minh Vương ngự chốn Nam thành,

                            Đặng phân xử những người bội nghĩa.”

         Hay:

                          “Kẻ gian ác bị gươm ba thước,

                            Nơi pháp trường trị kẻ hung đồ.”

                          "Khuyên rán giữ cho tròn đời đạo,

                            Đừng cho loài cầy cáo lung lăng."

         Ngài khuyên thiện tín rán làm tròn đời, đạo, gắng chí tu hành cho qua thời mạt pháp. Đừng cho kẻ ác lộng hành, ngang tàng bạo ngược, lúc nào cũng ẩn nhẫn, sáng suốt đề cao cảnh giác, đoàn kết, bảo vệ, giúp đỡ nhau để sống còn qua thời khốn khổ, hỗn độn.

                                  "Yêu tinh chực nuốt Đường tăng,

                 May nhờ Đại Thánh phi đằng cứu nguy."

         Ngài tiên đoán, đám vô thần Cộng sản sau nầy như yêu tinh, hung ác sẽ mưu hại Ngài. Nhưng Ngài vẫn được bình yên, thoát đại nạn nhờ Phật Tiên, Long thần Hộ pháp cứu độ, để Ngài hoàn thành sứ mạng trọng đại thiêng liêng lập Hội cứu đời.

                                  Có ngày mở rộng qui khôi,

                 Non thần vang chuyển Khùng ngồi xử phân.”

                          "Lôi Âm tự đường đi chưa đến,

                            Nên giữa đường kẻ mến người khinh."

         Tam Tạng chưa hoàn thành công cuộc đi Tây phương Phật thỉnh Kinh, cũng như Ngài lúc nầy chưa hoàn thành sứ mạng cứu đời nên có kẻ quí trọng, người thì khinh khi.

         Nhưng sứ mạng trọng đại, thiêng liêng của Ngài sẽ hoàn thành trong vinh quang, sáng lạn khi đại hội Long Vân, Long Hoa khai mở:

                                  Lão đây vưng lịnh Phật tôn,”

                 Lảnh cân thưởng phạt chư môn dữ lành.

         Hay: "Chuyển lập hội Long Hoa, chọn những đấng tu hành cao công quả để ban cho xứng vị xứng ngôi, người đủ các thiện căn để giáo truyền Đại Đạo, định ngôi phân thứ gây cuộc Hòa Bình cho vạn quốc chư bang."

                                                                     Nam mô A Di Đà Phật !

                                                                             TRẦN PHÚ HỮU

Comments