9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 23‎ > ‎

06. Ý-nghĩa Phật-Giáo Hòa-Hảo - Mai Thanh Tuấn

Ý nghĩa PHẬT GIÁO HÒA HẢO

                                                                                                                           Mai Thanh Tuấn

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 23

 
         Phật Giáo Hòa Hảo là một nền Tôn giáo ra đời vào thời kỳ đương đại, ở vào khoảng đầu thế kỷ thứ 20 với một vị Giáo Chủ còn rất trẻ tuổi nhưng lại rất siêu việt, tài hoa. Cũng chính vì lẽ đó mà không biết bao người đã tỏ ra nghi ngờ, phân vân khi họ có ý muốn đặt chân tìm về với vòng tay đạo pháp hay vì để nghiên cứu giáo lý của Đức Thầy. Người ta đã đặt nhiều dấu hỏi, thậm chí lắm khi có người đã xem thường PGHH khi chỉ nhìn vào bên ngoài hình thức của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Họ cho rằng với một người tuổi đời còn quá trẻ lại thêm vào đó trình độ học vấn chẳng được bao nhiêu há có thể có đủ bản lãnh và khả năng để dìu dắt trăm họ mọi người. Có lẽ vì do thiếu kém nhân duyên hay cũng bởi bản ngã thường tình của con người mà khiến cho nhịp cầu cảm thông giữa PGHH và họ ngay lúc đầu chưa được thuận tiện.

         Nếu trí tuệ cho chúng ta biết rằng với người đã liễu ngộ những huyền vi đạo pháp, thì ở những vị đó họ đã bước vào cảnh giới siêu việt hơn những người thế gian. Chúng ta không thể dùng phàm tâm, phàm trí của mình mà có thể đo lường được họ. Các vị ấy đã hoàn toàn bước ra ngoài khỏi những gì trong qui luật bình thường mà mình đã nghĩ đã hiểu. Một Đức Lục Tổ Huệ Năng tuy kém học vấn nhưng một khi tâm hồn đã liễu ngộ thì Ngài có thể cáng đáng được ngôi vị Tổ sư trong khi không biết bao nhiêu người đã được xem là học rộng tài cao dầu lúc nào cũng muốn được truyền thừa y bát thế mà lại không được:

                   "Đức Lục Tổ ít ai dám sánh,

                     Người dốt mà nói Pháp quá rành.

                     Lựa làm chi cao chữ học hành,

                     Biết tỏ ngộ ấy là gặp đạo."

                                                    (Giác Mê Tâm Kệ)

         Do vậy, kinh nghiệm ông bà cho ta biết rằng nếu muốn biết rõ về một người, chúng ta hãy nhìn kỹ vào tận bên trong con người và tâm hồn của họ. Đức Huỳnh Giáo Chủ tuy ít tuổi nhưng về quá trình lịch sử thì Ngài là một vị Cổ Phật lâm phàm, đã chứng đắc đạo mầu trong nhiều tiền kiếp xa xưa. Lâm phàm giáo đạo hôm nay là vì tấm lòng từ bi cao cả thương xót chúng sanh đang chịu khổ đau giày vò trong buổi đời nguơn hạ. Nền tảng giáo lý của Ngài xét về phẩm tuy không đồ sộ như Đức Phật xưa kia hay như các nền Tôn giáo đã ra đời vào nhiều thế kỷ về trước, nhưng về lượng thì nó đã kiêm nhiếp tư tưởng của Tam giáo: Phật, Thánh, Tiên và đã đủ chứa đựng bao nhiêu tinh hoa yếu lý nhiệm mầu trong đó. Để có một sự hiểu biết rõ ràng, đúng đắn hơn những nhà làm việc nghiên cứu cần phải một bước đi tận vào bên trong mới có thể khám phá được bao nhiêu cái hay cái đẹp còn ẩn mình trong đó, đừng có bao giờ chỉ một phen đứng ngó bên ngoài đã vội vàng đánh giá, nhận định rồi đưa ra những hiểu biết cạn cợt sơ sài về PGHH.

         Đức Huỳnh Giáo Chủ trong khi ra đời giáo đạo, để phù hợp với căn cơ và trình độ tu tập của chúng sanh trong buổi đời Mạt hạ, nhất là có thể đi sâu vào lòng người dân tộc Việt Nam giúp cả cho những người nông dân chơn chất nơi chốn thôn quê quanh năm chỉ biết cặm cụi chân lấm tay bùn bên cánh đồng áng để có thể dễ hiểu và dễ hành hơn, Ngài đã đưa ra một đường lối rõ ràng qua giáo lý Học Phật Tu Nhân mà nền đạo đức ấy được mang tên là Phật Giáo Hòa Hảo. Vậy thì PGHH mang ý nghĩa như thế nào? Hôm nay chúng ta sẽ đặt bước đi vào hành trình nghiên cứu cho thật tinh tường về nó.

         Đức Huỳnh Giáo Chủ ra đời mở đạo vào ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, ở một vùng quê yên ấm thân thương mang tên là làng Hòa Hảo. Không biết địa danh Hòa Hảo đã ra đời từ lúc nào nhưng cái xóm làng mang tên hiền hòa ấy được nằm bên cạnh dòng sông Cửu Long, một con sông mát mẻ hiền hòa có dòng nước ngọt ngào tuôn đổ quanh năm không bao giờ vơi cạn. Nhìn xa, chúng ta còn thấy nó tựa mình dưới chân dãy Thất Sơn hùng vĩ hiên ngang. Quả thật nơi đây là vùng đất rất mầu nhiệm. Trên có dãy Thất Sơn nghiêng mình giữa trời cao sừng sững, dưới lại có dòng sông Cửu Long êm ả dạt dào, đồng lúa phì nhiêu đất đai màu mỡ, hoa trái bốn mùa đều tốt đẹp xanh tươi. Vùng đất ấy, chúng ta có thể nói là vùng "địa linh sanh nhân kiệt":

                          "Khí thiêng liêng sông núi nhiệm mầu,

                            Un đúc giống anh hùng vang bốn bể."

                                                                                                   (Chí Nam Nhi)

         Điều ấy không phải là một sự ngẫu nhiên vô tình mà hơn một lần Ngài đã hé lộ cho ta:

                                  "Tháng năm mười tám rõ ràng,

                          Cùng xóm cuối làng ai cũng cười reo."

                                                                                           (Dặn Dò Bổn Đạo)

                          "Hòa thôn Hảo cảnh xứ chi ta,

                            Tạm dắt nhơn sanh khỏi ái hà.

                            Tạo xác Huỳnh thanh danh sắc trẻ,

                            Chờ thời thiên định thiết hùng ca."

                                                                 (Hai Mươi Chín Tháng Chạp)

         Quả thật, làng quê Hòa Hảo nơi chốn thế gian tuy không phải là xứ sở chân thật ở cái nghĩa huyền vi như Ngài đã bảo, bởi lẽ chỗ ở của Ngài là một cảnh giới cõi Phật cao siêu hơn, nơi ấy Ngài đã hoàn toàn thọ dụng Báo thân và đạt thành Đạo quả. Song nó là chỗ Ngài đã quyết định chọn lựa làm điểm dừng chân để thực hiện hoàn thành sứ mạng trong lúc lâm phàm, vì lẽ đất nước Việt Nam với cái tên làng Hòa Hảo dấu yêu ấy cùng Ngài đã sẵn sâu dày túc duyên trong bao đời kiếp xưa rồi. Hơn nữa, đó còn là một nơi lý tưởng để cho Ngài có thể nuôi trồng những ước mơ gieo rắc hạt giống từ bi bác ái của Đạo mầu trong hiện tại và tương lai đến cho khắp cả nhân loại chúng sanh. Ví như chỗ địa hình chiến lược cao siêu cho một chiến tướng đa tài dụng binh khi ra trận.

         Sự kiện này không phải chỉ mới xuất hiện lần đầu tiên vào thời kỳ Mạt hạ hôm nay mà đã cách đây hơn 25 thế kỷ trước, ở trung Ấn Độ xưa kia cũng hơn một lần Bồ Tát Hộ Minh từ cung trời Đâu Xuất lâm phàm. Lần đó chính là lần Đức Thích Ca Mâu Ni hiện thế. Trước khi ra đời, Ngài đã quán xét kỹ càng về năm sự chọn lựa như sau:

         1.- Thời cơ đã đến chưa?

         2.- Nhân duyên của chúng sanh đã thuần thục chưa?

         3.- Nơi nào là trung tâm thế giới?

         4.- Dòng dõi nào quí thạnh?

         5.- Ai là người đáng bực mẫu nghi?

         Thế là bối cảnh, nhân tâm, cơ duyên từ con người và đất nước Ấn Độ, từ dòng họ Thích Ca, từ đấng mẫu từ là Ma Da hoàng hậu, là những yếu tố hội tụ nhân duyên để cho Bồ Tát Hộ Minh lâm phàm. Rồi từ đó khi Đức Thích Ca thành đạo thì đất nước Ấn Độ đã hiển nhiên trở thành trung tâm điểm của Phật giáo thế giới ngày nay. Tất cả đều do nơi Đức Bồ Tát Hộ Minh đã chọn lựa huyền cơ một cách rõ ràng, kỹ lưỡng.

         Ngày nay trên bước đường chuyển thế cứu dân, Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH cũng lại y vậy, không ngoại lệ. Trong kho tàng Giáo Lý Thi Văn nơi đầu bài Sứ Mạng, khi đặt bút viết lên sứ mạng của mình Ngài đã hé lộ những câu:

         "Ngày 18 tháng 5 năm Kỹ Mão, vì thời cơ đã đến, lý Thiên Đình hoạch định, cuộc nguy cơ thảm họa sắp tràn lan."

         Nhân đây, ta mới hiểu được rằng cũng như Đức Thích Ca, Ngài đã lựa chọn cho mình một thời cơ xuống trần đúng lúc khi mà nhân loại đang chịu lầm than, nỗi đau vì thế chiến kinh hoàng đang sắp lan tràn từ Âu sang Á. Không lúc nào quan trọng hơn lúc này Ngài cần phải có mặt trong cuộc đời để cứu nguy cho dân chúng, dìu dắt dân tộc qua hồi khổ đau, đưa mọi người đến bến bờ bình yên hạnh phúc. Nếu tiếp tục đọc thêm một đoạn nữa cũng trong bài Sứ Mạng, chúng ta sẽ biết được rằng giữa Ngài và ta đã vun trồng nhân duyên sâu đậm với nhau trong nhiều tiền kiếp: ''Vì thể hiện lòng từ bi bác ái cũng thù đáp những linh hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương cậy tu hành, nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh." Đó là hai điều quán xét đầu tiên của Ngài.

         Đến như điều lựa chọn thứ ba, ta thấy đất nước Việt Nam đã mang lên mình một ý nghĩa nhiệm mầu nhất mà trong sự tái lập của đời Thượng cổ và Đại hội Long Hoa mai sau sẽ giúp cho Ngài thành tựu được sứ mạng thiêng liêng, qua đó chúng ta mới biết được Ngài cũng chính là Ứng thân của Di Lặc Bồ Tát:

                          "Nước Việt Nam nhằm cõi Trung Ương,

                            Sau sẽ có Phật Tiên tại thế.”

                                                                        (Kệ Dân của Người Khùng)

                          "Cõi Trung ương luân chuyển phương Nam,

                            Mở hội Thánh chọn người trung hiếu."

                                                                              (Diệu Pháp Quang Minh)

         Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm nhiều tiền kiếp cũng đã có duyên sâu đậm với Ngài, cho nên hôm nay đã được Ngài lựa chọn làm song thân và ra đời ở đây cùng tộc họ. Ấy chính là họ Huỳnh. Nếu xưa kia Đức Phật đã chọn lấy dòng họ Thích Ca với đức vua Tịnh Phạn, nhân đó ta mới hiểu được ý nghĩa họ Ngài là Năng Nhơn của tấm lòng Từ bi quảng đại. Ngài đã dùng biết bao phương tiện sâu mầu thiện xảo để cảm hóa nhơn sanh, cất bước cho họ bước đi về bến giác. Thì hôm nay, họ Huỳnh của Đức Thầy cũng mang một ý nghĩa cao sâu mà Ngài đã quyết định chọn lựa ra để ban cho ta một ánh sáng quang minh Từ bi và Trí tuệ. Theo nghĩa của từ ngữ thì Huỳnh có nghĩa là màu vàng là màu của ánh đạo Đức Thích Ca. Ấy có phải chăng nơi đây chính Ngài đã nói rõ Đạo của mình lập ra cũng chính là đạo Phật. Điều ấy rất hiển nhiên bởi ngay nơi Giáo lý, chính Ngài cũng tự xác nhận như vậy. Ngài nói Ngài là đệ tử Đức Thích Ca, sự lâm phàm giáo đạo của Ngài hôm nay là sự truyền thừa sứ mạng thiêng liêng của Đức Thích Ca ngày trước:

                          "Đạo Vô Vi của Phật ân cần,

                            Nối theo chí Thích Ca ngày trước."

                                                                                          (Giác Mê Tâm Kệ)

         Từ những sự chọn lựa bao gồm tất cả sự kiện trong khi xuống trần cứu độ chúng sanh, chúng ta có thể hiểu rõ ràng được sự tương quan mật thiết giữa Ngài và làng quê Hòa Hảo. Con người và đất nước Việt Nam thân yêu luôn hiện hữu trong Ngài, đã biết bao đời qua trong những kiếp luân hồi Ngài cũng đã từng mang lấy trong mình những ý nghĩ, tâm hồn và dòng máu dân tộc Việt. Ngày nay khi đạo hạnh viên thành Ngài đã trở về với chúng ta với hình ảnh một người nông dân Việt ở chốn thôn quê hiền hòa khả kính. Tiếng nói của Ngài chính là tiếng nói của trái tim người Việt Nam mà qua lời Pháp nhũ thanh thao Ngài đã rót tận vào đáy lòng của biết bao người dân Việt, giúp họ giác ngộ tu hành, cải ác tùng lương để có thể mang đến hạnh phúc an vui cho mình trong tương lai cũng như hiện tại.

         Đạo Phật là một nền đạo cũng được ra đời từ ý nghĩa nhân duyên. Nếu Đức Thích Ca khi xưa không hội đủ nhân duyên thì Ngài sẽ không ra đời bên Ấn Độ. Dòng pháp mầu của Đức Phật ngày xưa, hôm nay đã thuận theo dòng sông Cửu Long tuôn chảy dạt dào về đất Việt. Duyên lành đã đến nếu chúng ta còn ngần ngại không qui y thì quả lấy làm tiếc uổng cho cơ duyên ngàn năm một thuở của mình. Thân người khó được Phật pháp lại càng khó nghe, nay tiếng Phật pháp nhiệm mầu đã vẳng lại bên tai nếu chúng ta chẳng chịu tiếp thu thì còn phải đợi đến lúc nào nữa!

         Ngày xưa các vị Tổ sư thường thì ai cũng đều như vậy, giữa Ngài và chỗ ở của Ngài bao giờ cũng quan hệ gắn bó với nhau. Trong thâm tâm của mọi người nơi cư trú của các Ngài như chính là hình ảnh của các Ngài vậy. Nếu không phải thế thì vì sao Linh Hựu là tên của Ngài Qui Sơn nhưng cũng bởi Ngài tu tập và thành tựu mà về sau bèn ra cơ độ chúng ở núi Qui Sơn rồi cũng bắt đầu từ ấy người ta gọi Ngài là Tổ Qui Sơn luôn chứ không ai gọi bằng Linh Hựu nữa. Ví như trường hợp của Đức Thầy vậy. Còn biết bao vị Tổ sư cũng đều nhân cảnh mà được đặt luôn tên người như thế. Đức Phật Thầy Đoàn Minh Huyên với địa danh Tây An, Đức vua Trần Nhân Tôn với vùng Trúc Lâm Yên Tử... Cũng chính vì thế mà nền đạo của Đức Thầy đã mang lấy tên làng Hòa Hảo của mình rồi từ đó trở thành một nền Tôn giáo Việt Nam đem hình ảnh bản xứ thân thương giáo truyền đến khắp năm châu thế giới.

         PGHH là tên của một nền đạo cũng là một danh từ mà theo ý nghĩa của Từ điển sẽ cho ta biết được về một đạo lý nhân luân, đó chính là tình thương của tinh thần đoàn kết. Hòa là thuận thảo, Hảo là tốt đẹp. Chúng ta có biết yêu thương hòa thuận thì chúng ta mới có cuộc sống hạnh phúc tốt đẹp nhau. "Hòa giả tương thân, Hảo giả tương trợ. Tương thân tất bất chiến, tương trợ tất vô tranh. Bất chiến tự nhiên thành, vô tranh tự nhiên đắc." (Hòa là thương nhau, Hảo là giúp nhau. Thương nhau thì không chiến, giúp nhau thì không tranh. Không chiến mọi việc thành, không tranh mọi việc đắc). Con người sở dĩ còn gây khổ đau cho nhau chỉ vì thiếu tình thương yêu Hòa Hảo. Bối cảnh lịch sử ra đời của Đức Huỳnh Giáo Chủ đã nói lên ý nghĩa trọng đại của nền Tôn giáo mình. Ngài phải làm sao mà trong giữa lúc thời đại nhiễu nhương nhân tâm ly tán ấy, gieo vào lòng họ một niềm tin và một sự tỉnh thức để cho họ có thể "buông đao đồ tể" mà "lập địa thành Phật". Khó khăn hơn bao giờ hết chính là lúc này nhưng cũng chính vì thế mà khẳng định được tầm quan trọng sự có mặt của Ngài của PGHH trong kỳ loạn thế.

         Còn "Phật Giáo" chúng ta có thể hiểu cái nghĩa đơn sơ là đạo Phật, hẳn nhiên bên trong hai từ ngữ ấy còn ẩn chứa bao điều ý nghĩa cao sâu nhưng nơi đây chúng tôi chỉ bàn về đại lược. Ngày xưa Đức Phật sau khi thành đạo Ngài đã lăn bánh xe Pháp mà cứu độ chúng sinh, Giáo lý của Ngài truyền dạy cho chúng ta được gọi là Phật pháp. Qua hai từ "Phật Giáo” đứng trước hai từ “Hòa Hảo” Đức Thầy muốn cho chúng ta biết rằng nền Đạo của Ngài hôm nay là bước đi theo dấu chân truyền ngày trước của Đức Thích Ca. Tuy hình thức Tôn giáo của Đức Thầy ngày nay chủ trương có khác hơn xưa, nhưng về đường hướng tu tập ở nội dung bên trong là đồng nhất. Nếu ngày trước để khẳng định rõ về mục đích quan trọng của giáo lý nhiệm mầu, Đức Thế Tôn đã một lần phải nói:

                                   "Nước biển chỉ có một vị mặn,

                 Giáo pháp của Ta cũng chỉ một vị là giải thoát."

         Thì hôm nay, Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng đã xác định như vầy:

                                  "Mong bá tánh vạn dân giải thoát."

                                                                                          (Giác Mê Tâm Kệ)

         Vậy thì PGHH là một đạo Phật không thể nói khác hơn, qua giáo thuyết bác ái từ bi chúng ta đã thấy rõ ràng ẩn chứa trong hai từ Hòa Hảo. Với đà phát triển của khoa học như hiện nay, nếu sự ích kỷ và những tham vọng nơi con người không được dừng lại. Có thể có một ngày sự sống của nhân loại sẽ phải kết thúc bởi sự hung tàn của con người sẽ chiến tranh lẫn nhau. Sẵn có những vũ khí tối tân chúng ta khó có thể tưởng lường được hậu quả thế nào nếu một mai đạo đức nhân tâm con người bị đánh mất. Cho nên để bảo vệ sự sống của con người được bình yên hạnh phúc hơn thì đạo đức nhân tâm bao giờ cũng đóng một vai trò quan trọng. Vật chất phải được sự hướng dẫn bởi tinh thần cũng như khoa học phải đứng trên nền tảng đạo đức. PGHH với ý nghĩa của tình thương đã đóng một vai trò xây dựng nền tảng đạo đức này. Cho nên có thể nói nó như là một dược chất trị liệu nhân tâm cần thiết không thể thiếu trong thời kỳ đương đại.

         Về mặt tâm linh, chúng ta còn biết được rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ khi lâm phàm Ngài còn có một sứ mệnh đặc biệt thiêng liêng là xây dựng cho con người một cảnh trí nhiệm mầu, đưa những người hiền đức về nguơn Thượng. Theo tinh thần Tôn giáo, cảnh sống của con người được kéo dài theo dòng chảy của thời gian mà sự luân lưu ấy được tiếp nối từ ba dấu mốc quan trọng được gọi là chu kỳ chuyển biến của lý Tam nguơn. Theo đây thì sự sống của con người đã được bắt đầu từ đời thượng. Ở vào thời điểm đó, từ con người mọi vật cho đến cảnh trí nhân tâm đều rất hoàn hảo tốt đẹp vô cùng. Dần về sau khi dòng chảy xuống dần của thời gian cuốn trôi theo mọi thứ cho đến luân lý con người cũng đi dần về sự xuống dốc. Hết Thượng nguơn sẽ chuyển sang Trung nguơn rồi Hạ nguơn tiếp diễn. Ở vào thời buổi hạ nguơn này nhân tâm và đạo đức con người bị tha hóa và thay đổi theo dục vọng nhiều hơn, chính vì thế mà con người của buổi hạ nguơn phải gánh chịu bao khổ đau nhiều hơn hạnh phúc. Sự có mặt của ĐHGC ngày nay là chấn chỉnh đạo lý con người để kịp lúc cho họ bước sang chu kỳ mới khi nguơn thượng tái lập. Đó là lý tưởng mà Đức Thầy đã un đúc trong thâm tâm:

                                  "Thuở xưa thời buổi Thuấn Nghiêu,

                          Thái bình thạnh trị mến yêu khắn tình.

                                  Chớ đâu đồ thán sanh linh,

                          Bởi nay lỗi đạo kệ kinh ngạo cười."

                                                                             (Từ giã làng Nhơn Nghĩa)

         Thế thì lý tưởng của Ngài là xây dựng cho nhân sanh một thời buổi tuyệt vời như đời Thuấn Nghiêu. Lần dở lại trang sách sử Trung Hoa ta thấy ở vào buổi Thượng cổ cận đại có hai thời kỳ tuyệt vời, đó chính là thời Tam hoàng và Ngũ đế. Thời ấy con người sống rất an vui hạnh phúc, không có thiên tai nhân họa hay trộm cướp binh đao..."Gia vô bế hộ, lộ bất thập di" (Nhà không đóng cửa, của rơi ngoài đường không ai nhặt) không phải mưu cầu hay lo toan vất vả. Ấy gọi là là thời Tuyệt Hảo và thời Thái Hòa. Thái Hòa là thời của Tam hoàng, Tuyệt Hảo là thời Ngũ đế. Rút ra mỗi chữ ở một thời ta sẽ có được hai thời thượng được gắn kết với nhau thành hai thời HòaHảo. Thế là qua sự hàm ẩn đó cho chúng ta ý nghĩa rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ với một nền Tôn giáo mang hai danh từ HÒA HẢO như trên là muốn hiển rõ cái vai trò xây dựng thế gian cực kỳ quan trọng của Ngài. Trách nhiệm trong tương lai là Ngài phải đưa nhân loại đi vào cảnh trí Thái Hòa Tuyệt Hảo. Điều này trong Giáo lý, Ngài đã từng nuôi lớn những ước mơ:

                          "Ước mơ thế giới lân Hòa Hảo,

                            Nhà Phật con Tiên hé miệng cười."

                                                                        (Phòng Vắng Đêm Khuya)

         Chắc chắn Ngài sẽ thực hiện được lý tưởng ấy trong tương lai. Bằng vào trí tuệ và tấm lòng Từ bi vô lượng của Ngài cho phép chúng ta đặt vững đức tin nơi Ngài trọn vẹn. Vả lại khi thực nghiệm mọi sự diễn biến trong hiện tại cũng như tương lai đã được trải qua, tất cả những tiên liệu của Ngài bao giờ cũng chính xác chưa từng sai lệch một mảy may nào. Chính vì lẽ đó mà bằng trí tuệ đo lường suy xét thâm sâu, cho phép chúng ta đặt trọn niềm tin nơi Ngài mà không phạm phải sai lầm của chủ nghĩa cá nhân chủ quan hay lạc vào điều mê tín hời hợt võ đoán. Là những người đệ tử, chúng ta còn phải biết sống Hòa Hảo với nhau cũng là góp phần xây dựng đạo lý của Đức Thầy cho cõi đời nhân thế.

         Người biết Hòa Hảo là người biết tùy duyên mà xử, tùy cảnh mà làm, không hề có sự chấp lấy hay lìa bỏ. Ngoài việc đem đạo đức ấy sống với mọi người chúng ta còn phải biết dùng Hòa Hảo để trở về với bên trong tâm hồn thanh tịnh của chính mình. Đó là một ý nghĩa quan trọng. Trên bước đường tu tập nếu chúng ta biết áp dụng đạo lý này sẽ giúp cho đạo hạnh của mình mau chóng thành tựu:

"Phật môn dục nhập tiên khai Tâm môn tức Phật Hòa.

  Giáo pháp cầu tu yếu ngộ Tánh pháp kỳ Giáo Hảo."

         (Muốn vào cửa Phật trước phải khai mở cửa Tâm, ấy là nghĩa Phật Hòa. Tu tập Giáo pháp mà ngộ được Tánh mình ấy là nghĩa Giáo Hảo.)

         Như vậy PGHH không ngoài tâm của chúng ta, là bước tìm về của hành giả. Mỗi chúng sanh đều có tự thể Phật tính nơi mình. Sở dĩ chúng ta không được bằng Đức Phật là tại vì bị vô minh che khuất. Rồi do không nhận diện được chính mình mà bỏ chân theo vọng, bỏ lòng theo cảnh mới bị cuốn trôi theo vòng luân hồi sanh tử mãi mãi không ngừng. Càng ngày càng bị nghiệp chướng phủ vây. Càng không dám nhìn lại Con Người Thật của chính mình nữa. Điều ấy rất bi ai!

         Cần phải có một sự chiếu phá hay một sự quay về. Hòa là thuận mà không phải chỉ thuận với mọi người mà còn phải thuận với chính ta. Hãy để cho dòng suối Tâm của mình tuôn chảy một cách tự nhiên đừng bao giờ ngăn chặn. Chúng ta không thể nào ngăn chặn được dòng nước lớn đang chảy qua trên sông. Điều quan trọng là chúng ta phải biết rõ nó chảy như thế nào và trôi dạt đến đâu. Tâm thức con người là một dòng nước. Nhiều người tu vì chưa hiểu đã cố chặn dòng nước tâm này cho dừng lại, nhưng điều ấy vẫn mãi mãi là một bài toán không có đáp số. Làm sao ta có thể đình chỉ được Tâm khi bản chất của Tâm là vậy. Chúng ta khác hơn các loài vật vô tình chính là ở chỗ này, là chỗ biết hiểu, biết nhìn, biết tư duy suy nghĩ... Hãy trở lại với chính mình và sống với từng tư tưởng của chúng ta. Từ bước đứng bước đi, từ cái nói cái cười... thảy thảy ta đều thấy rõ chính mình trong từng giây phút. Đó là lúc lòng ta không hề có vọng tưởng. Chúng ta không biết trân trọng và lo gìn giữ những phút giây mầu nhiệm thiêng liêng này còn phải lo diệt trừ vọng tưởng gì nữa cơ. Cho nên thấy rõ chính mình là cách diệt trừ vọng tưởng hay nhất. Ấy là Đạo lý "Phật Hòa".

         Tự tánh của chúng sanh năng hàm vạn pháp. Phật pháp đều có đủ nơi mỗi người không cần phải tìm kiếm nơi nào xa xôi. Có lần khi trông thấy các huynh đệ đang phơi kinh, thiền sư Bùi Hưu cũng lại nằm trên tảng đá phơi bụng mình ra như vậy. Thấy lạ, mọi người mới hỏi:

         "Chẳng hay ông nằm đây để làm gì?''

         Ngài bèn cười rồi đáp với họ:

         "Phơi kinh."

         Ai cũng cứ nhìn quanh quất không thấy một quyển kinh nào. Tưởng Ngài đùa, mới bảo:

         "Kinh đâu mà phơi?"

         Khi ấy Ngài mới lấy ngón tay mà trỏ vào cái bụng đang nằm:

         "Kinh ở đây! Tam tạng đều có đủ trong đó!"

         Đó là đạo lý thâm huyền của hai từ "Giáo Hảo"!

         Càng đi sâu vào Phật pháp chúng ta sẽ càng khám phá được nhiều ý vị nhiệm mầu. Những cái hay đẹp trong cuộc đời không phải là những gì huyền bí cao siêu ngoài tầm với của những con người bình thường như chúng ta. Cái hay tuyệt nghệ của tác giả là trong tất cả những ý nghĩa bình thường đó mà họ có thể tạo nên một tác phẩm tuyệt kỳ trân quí trong đời. Ấy mới chính là đỉnh cao của nghệ thuật. Cái hay của Đức Huỳnh Giáo Chủ, hay của PGHH là ở chỗ này. Ngay nơi những cái gì thôn quê mộc mạc mà khi nhìn vào trong ánh mắt mọi người, nó như là một điều bình thường đơn giản lắm, không có gì là sâu sắc cao siêu. Thế nhưng điều đó với Đức Thầy lại khác. PGHH đã tận dụng được những điều mà xem như không quí giá này nấu lọc nó trở thành những công cụ đáng giá, tinh xảo. Điều ấy ắt hẳn sẽ mang đến cho chúng ta những bất ngờ thú vị đến ngạc nhiên khi chúng ta khám phá ý nghĩa danh từ Hòa Hảo ở một chiều sâu và tầm cao mới.

         Trong triết thuyết của Tam giáo Phật Thánh Tiên, mỗi một vị Giáo chủ đều chủ trương chữ Hòa theo mỗi góc độ tầm nhìn khác nhau. Ở Nho giáo, Đức Khổng Tử chủ chương chữ Hòa thuộc về Hữu vi đi vào cái . Trong khi trái lại Đức Lão Tử thì chủ trương chữ Hòa đi về Không, thuộc về Vô vi khác nhau như hai mặt phải trái. Theo hệ thống Hình Nhi Thượng, Đức Khổng Tử đã dạy cho môn sinh đạo lý của chữ Hòa như thế này:

         "Trung giả dã thiên hạ chi đại bổn dã. Hòa giả dã thiên hạ chi đạt đạo dã. Chí trung hòa thiên địa vị yên, van vật dục yên. Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhơn Hòa."

         (Trung là cái gốc lớn của thiên hạ. Hòa là chỗ đạt được tới Đạo vậy. Đạt được đến Trung hòa thì trời đất, vạn vật đều được bình yên sanh trưởng. Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhơn Hòa.)

         Như vậy đạo lớn mà con người cần phải đạt được đó chính là một chữ Hòa mà trong khoảng trời đất thênh thang chữ Hòa của con người là nền móng cơ bản. Đạo lý của người quân tử là làm sao đạt được nền tảng căn bản này. Mà muốn cho được nhơn Hòa nghĩa là mình và mọi người được sống tốt đẹp nhau, chúng ta phải lấy thước đo của đạo đức làm chính. Bởi có đạo đức nhân luân con người mới đúng đắn, khử ác hành thiện, trở nên tốt đẹp cao vời. Đó chính là tu thân là nền tảng để cải hóa chính mình, giáo hóa gia đình cùng xã hội con người đi đến chỗ hòa bình thống nhất. Để đạt đươc mục tiêu đó người quân tử phải lấy đạo chính làm gốc, đề cao cái thiện, bài trừ tiểu nhân. Có thế mới mong được bình yên trong thiên hạ. Như thế là đạo lý Nhân Hòa.

         Trong khi đó thì Lão Tử lại đứng một bên phản đối. Ngài nói trong Đạo Đức kinh:

                          "Tuyệt thánh khí trí, dân lợi bách bội.

                            Tuyệt nhân khí nghĩa, dân phục hiếu từ.

                            Tuyệt xảo khí lợi, đạo tặc vô hữu."

                          (Dứt Thánh bỏ trí, dân lợi trăm phần.

                           Dứt nhân bỏ nghĩa, dân trở hiền lành.

                           Dứt xảo bỏ lợi, đạo tặc không sanh.)

         Quả thật là một tư tưởng đạo lý táo bạo! Ngài nói con người sở dĩ còn hơn thua giành giựt nhau chính là vì những tín điều đạo lý. Trong khi đề cao cái thiện, ca ngợi Đức Thánh nhân có khác nào đem khoe cái áo đẹp ra cho mọi người ham thích mà giựt lấy. Khi lòng người còn mưu cầu dù là mưu cầu điều nhân nghĩa thì biết bao giờ lòng người mới được yên. Khử ác thì cái ác sẽ cố sanh ra mà chống lại cái thiện, chi bằng hãy để cho vạn vật được tự nhiên mà trở về với cái vô tư thuần phác của mình, không suy tính không mong cầu ấy mới chính là cái cửa của sự yên ổn. Cho nên làm một con người cốt yếu là sao phải trở về được với cái tánh Vô vi thuần phác trời cho. Ngày nào được vậy con người mới được an vui trường cửu. Đó là đạo lý Hòa theo thuyết huyền đồng mà Lão Tử đã chủ trương:

                          "Đạo sanh nhất. Nhất sanh nhị.

                            Nhị sanh tam. Tam sanh vạn vật.

                            Vạn vật phù âm nhi bảo dương,

                            Xung khí dĩ vi Hòa."

         Đạo là nguyên lý hỗn độn lúc Thái cực chưa sanh. Rồi khi thái cực ra đời đó là con số 1. Con số 1 của thái cực lại sanh ra con số 2 là âm dương trời đất, ấy là cái nghĩa con số 2 : Lưỡng nghi. Con số 2 lại tiếp tục sinh ra con số 3 là Tam tài có trời, đất và người trong đó. Khi tam tài thiên, địa, nhân đã đủ thì vạn vật mới ra đời. Đó là cái nguyên lý tuần tự sinh sinh hóa hóa mà vạn vật không ngoài ở cái lý hỗn độn lúc nguyên sơ. Vậy cái mà vạn vật cần phải được trở lại chính là hòa hợp cái nguyên khí âm dương của mình cho được trở thành duy nhất với nhau "xung khí", mới có thể được trở về cái gốc ban đầu của mình vốn đến gọi là Hòa "dĩ vi Hòa".

         Đó là hai ý nghĩa chữ Hòa của hai nền đạo lý lớn của triết học Đông phương là Khổng Tử và Lão Tử. Trong khi một đàng đi về Hữu một đàng đi về Vô thì đây là hai đạo lý tương phản như hai đường thẳng luôn song hành trong toán học bao giờ cũng trái phải khác nhau và không bao giờ có dịp gặp nhau để hòa mình trong một giao điểm. Ấy là chưa đạt được tuyệt đỉnh của đạo lý Hòa, mỗi bên chỉ đạt được một mặt thể và một mặt dụng của "Chân lý".

         Nguyên tắc mọi việc trong đời bao giờ cũng có hai mặt. Nếu chỉ đứng vào một khía cạnh dù là tướng hay tánh, sự hay lý, có hay không, trái hay phải... đều gặp trở ngại không dung thông. PGHH với Đức Huỳnh Giáo Chủ đã được dung thông và kết hợp một cách nhuần nhuyễn, vẹn vẽ, hoàn hảo đến tuyệt vời khi hai từ Hòa Hảo được kê vai sát cánh cùng nhau. Hòa mà đứng gần với Hảo là Hòa mà không có cái bất Hòa; Hảo mà đứng gần với chữ Hòa là Hảo mà không có cái bất Hảo. Thật tuyệt làm sao hai danh từ Hòa Hảo như là một tấm kính phản chiếu đa chiều dẫu nằm ở vị trí nào chúng ta cũng thấu được nghĩa lý hoàn hảo. Nếu tiền tuyến là Hòa thì hậu phương nhất định phải Hảo, nếu tiền tuyến là Hảo thì hậu phương cũng lại nhất định Hòa. Trên dưới, trước sau hay phải trái trong ngoài đều là một đạo lý trọn vẹn khít khao không hề có một chỗ sơ hở! Hòa Hảo ấy đã đạt đến cảnh giới vô vi bất nhị của Pháp môn. Bao trùm và vượt lên cái Hữu và cái Vô của Khổng, Lão. Đó là đỉnh cao vươn đến cứu cánh viên mãn của PGHH trong Đạo lý Hòa Hảo, Hảo Hòa!

                                                                           Mai Thanh Tuấn

Comments