9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 22‎ > ‎

25. Lịch sử chùa Long-Châu - Nguyễn Hoài Ân

LỊCH SỬ CHÙA LONG CHÂU

                                                                                                            Nguyễn Hoài Ân


Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN số 22

 
         Chùa Long Châu hay chùa Láng Linh là tên người ta thường gọi cho chùa Bửu Hương Các hay Bửu Hương Tự (nay cũng chỉ là một). Chùa nầy do Đức Phật Thầy Tây An xây cất vào khỏang giữa những năm 1849 đến năm 1856. Lúc đầu chùa là một trại ruộng, sườn tre, lợp lá. Nhưng bên trong bày trí thờ Phật. Sau bao biến đổi thăng trầm chùa nầy bị đốt cháy, phá hủy nhiều lần. Đến khỏang giữa những năm 1951, 1952 mới được xây cất lại khang trang và khánh thành cho đến ngày hôm nay. Đó là nhờ sự phát động và tiếp sức của cậu hai Ngoán, tức là Thiếu Tướng Lâm Thành Nguyên.

TRẠI RUỘNG LÁNG LINH

         Sau khi lập xong trại ruộng ở Thới Sơn, Đức Phật Thầy giao trại ruộng Thới Sơn cho hai anh em ông Đình Tây coi sóc. Ngài trở về chùa núi Sam, rồi xuống Láng Linh, thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, quận Châu Phú lập nên một trại ruộng khác bằng tre lợp lá. Cách thiết trần thờ cúng như trại ruộng ở Thới Sơn, đúng theo giáo lý Vô Vi chân truyền của Đức Phật. Ở đây, Ngài đặt tên cho trại ruộng nầy là Bửu Hương Các. Đây là lần đầu tiên Ngài nêu tên giáo phái của Ngài cho người đời biết.

         Trước đây, mỗi khi có người đến qui y thì Ngài phát cho một “Tòng Phái” (Tông Phái) trong đó có bốn chữ Bửu Sơn Kỳ Hương. Đó là tên của môn phái do Ngài khai thị tại cốc ông Kiến ở Xẻo Môn, làng Kiến Thạnh vào năm 1849.

         Trại ruộng ở Láng Linh, Ngài giao cho ông Trần Văn Thành săn sóc, người đại đệ tử của Ngài, được nguời đời kính nể tặng cho một cái danh hiệu vừa thân thương, vừa kính trọng và cao quý là: Đức Cố Quản, người đệ tử đi theo và qui y với Ngài ngay vào những ngày đầu mở đạo ở Xẻo Môn, cốc ông Kiến. Còn Ngài thì trở về chùa núi Sam trụ trì, thỉnh thoảng Ngài vào Thới Sơn hay xuống Láng Linh để trông coi mỗi khi cần.

A. Đường về Bửu Hương Các.

         Ngày xưa, khi Bửu Hương Các mới thành lập muốn đi về Bửu Hương Các vào mùa nước nổi thì không có gì khó khăn, nhưng mùa khô thì hơi rắc rối.

         1.-Đi Vào Mùa Nước Nổi.

         Người ta chỉ dùng xuồng nhỏ từ núi Sam băng qua một cánh đồng rộng, đi thẳng độ 10 Km, về phía Đông, vượt qua một vùng sình lầy, đầy lục bình, nghệ, cỏ xước, trấp, lau sậy.... Người địa phương gọi vùng nầy là Ô Long Vĩ. Ghe xuồng đi vào vùng nầy thì sẽ bị mắc kẹt bởi trấp, lục bình nên không thể chèo, chống gì được nữa. Thường thì người ta phải đi vòng để tránh vùng nầy.

         Nếu đi từ bờ sông Hậu Giang thuộc xã Vĩnh Thạnh Trung, Mỹ Đức hoặc đi từ chợ Cái Dầu thuộc xã Bình Long vào thì nhắm hướng Nam đi thẳng, độ 12 Km. Sau khi vượt qua một cánh đồng lúa sạ ngập nước mênh mông, tiếp theo là một cánh rừng Bảy Thưa bạt ngàn chìm trong nước lũ. Ta sẽ thấy nóc Bửu Hương Các ẩn hiện trong làn sương sớm còn đọng lại trên rừng Bảy Thưa ấy.

         Dù đi từ núi Sam hay từ bờ Hậu Giang đến Bửu Hương Các, vừa đi, vừa về và lễ Phật, thời gian cũng mất một ngày đường.

         2.-Đi Vào Mùa Khô.

         Đi từ núi Sam qua hay từ bờ Hậu Giang vào cũng khá vất vả, vì phải vượt qua dặm đường dài trên 10 Km, lau sậy um tùm, cao ngất khỏi đầu, rừng Bảy Thưa chập chùng, bát ngát, dưới chân là sình lầy, cỏ, trấp, rắn độc, cỏ nghệ, cỏ xước đầy rẩy sâu bọ vừa đâm, vừa cắn, vừa chích ngứa ngấy, đau nhức vô cùng. Ngoài việc lạc đường, một cạm bẫy luôn luôn rình rập những người đi đồng vào mùa khô nắng hạn là những hầm lửa cháy ngầm dưới trấp, nếu không cẩn thận hay co chân bước vội, chẳng may sa chân vào đó thì mất mạng, người nhà không thể tìm ra xác.

         Còn một cạm bẫy nữa là những tổ ong vò vẽ, ong lỗ. Ong vò vẽ làm tổ trên cây, tổ to bằng cái nón lá, dài 5, 7 tấc tây, treo lòng thòng như cái trống. Một tổ có hàng ngàn con. Con nào con nấy to lớn bằng đầu đũa. Chúng cắn là cắn hội đồng, cả trâu bò còn phải kiêng nể. Loại ong nầy nọc độc không nhiều, chỗ nào bị chúng cắn sưng chù dù, làm mọng nước, nóng lạnh ba ngày sau thì khỏi, nếu bị cắn nhiều có thể mất mạng như chơi.

         Loại ong lỗ nọc độc rất hại, chỉ cần bị chúng cắn vài ba vết là đủ mất mạng. Loại ong nầy không làm tổ trên cây, chúng khoét thành hang làm tổ dưới đất, trấp hoặc ở gò cao. Màu đen, thân lớn hơn ong vò vẽ, có đôi cánh đen bóng. Chẳng may đạp phải hang, sụp hầm của chúng thì rồi đời. Loại ong nầy ở miền Tây hình như bị diệt chủng, vì nọc của chúng quá độc. Nên mỗi khi gặp hang tổ của chúng người ta tìm cách chất rơm rạ đốt tận diệt không một con chạy thoát.

         Xin nhắc lại, ngày xưa kinh xáng Vịnh Tre chưa có. Nếu tôi không lầm thì kinh xáng Vịnh Tre mới khởi công cho xáng đào vào năm 1937(?). Dự định từ bờ Hậu Giang đến Hà Tiên. Nhưng chẳng biết như thế nào đó mà đến năm 1945 vẫn chưa hoàn tất. Cuộc kháng chiến của toàn dân nổi lên chống Pháp vào năm đó, nhân dịp Nhật đảo chánh Tây ngày 9 tháng 3 năm 1945, nên chiếc xáng bị đốt ở kinh Tám Ngàn, Tri Tôn.

         Ngày nay đường xá giao thông thuận tiện, cứ xuôi dòng kinh xáng Vịnh Tre, đến chợ Long Châu cho thuyền cập bến, cuốc bộ không quá vài trăm thước là đến cửa chùa Bửu Hương Tự.

         Còn đi xe, thì cứ theo đường thẳng bên bờ trái của kinh xáng Vịnh Tre, phom phom một mạch trên con lộ thẳng tắp, hai bên bóng râm của tre, gòn, me nước với ngọn gió đồng mát rượi làm nở căng buồng phổi mà xe đến cổng chùa lúc nào không hay.

B. Cất Bửu Hương Tự.

         Sau khi Đức Cố Quản mất tích trong trận đánh nhau với Pháp ở Bảy Thưa (ngày 20 rạng 21 tháng 2 Âl, năm 1873, tại đồn Hưng Trung) và bà Cố Quản qua đời, Cậu hai Nhu là con cả của Đức Cố gom góp vòng vàng của bà Cố để lại và bán luôn chiếc ghe “sáu bổ” của Đức Cố đầy lịch sử với giá 300 đồng cho ông Khảo, xây cất một ngôi chùa lấy tên là Bửu Hương Tự, cách Bửu Hương Các độ 200m.

C. Bửu Hương Tự Bị Giở.

         Năm Nhâm Tý (1912), nhân ngày lễ Phật, người ta tụ hội về chùa đông đảo, sáu Phẩm cháu của cậu Hai mật báo với Pháp tại chùa có cuộc hội họp mưu phản. Chùa bị bao vây, cậu Hai chạy thoát. Còn lại 56 người bị bắt, bị kết án mỗi người 13 tháng tù, trong đó có ông Ba Thới tác giả cuốn Kim Cổ Kỳ Quan. Ông tự tử nhưng không chết, khi mãn án, ông về ẩn dật và viết nên cuốn Kim Cổ Kỳ Quan, ông mất ngày 9 tháng 4 năm Ất Sửu (1925), hưởng thọ 60 tuổi.

         Riêng ông chủ Khả, sau khi thọ hình xong 13 tháng tù, ông trở về giở chùa vào năm Quí Sửu (1913), vì ông Khả là người đứng ra xin giấy phép xây cất.

Ghe “Sáu Bổ” của Đức Cố Quản sử dụng trong thời gian chống Pháp, hiện còn đang trân tàng tại chùa Ghe Sáu

(Kiến An, Chợ Mới).

Đ. Bể Dâu.

         Trải qua bao cuộc bể dâu, Bửu Hương Các (năm 1941) và Bửu Hương Tự (năm 1942) cả hai chùa được trùng tu, chấn chỉnh, qui mô rộng lớn. Cuộc trùng tu hai ngôi chùa nầy do công của ông Nguyễn Văn Tịnh, tức Năm Tịnh, người làng Bình Thủy, tỉnh Cần Thơ tự bỏ tiền ra trùng tu. Ông là đệ tử chân thành của cậu Hai Nhu. Khi ông trùng tu xong, ông Tư Nhạn có viết bốn câu liễn đầy ý nghĩa như sau:

         * BỬU điện Long Châu khải triệu Nam phương, Phật pháp hoằng khai huyền bí.

         * SƠN xuyên Hưng Thới cơ đồ Bắc khuyết thiền môn chiếu diệu anh linh.

         * KỲ nguyện thiên nhiên vạn tải lưu phương Phật giáo sùng tu cổ tự.

         * HƯƠNG dương địa thới thiên thu phổ đức sư truyền đạo lập tân dân.

         Đại ý:

         * Điện báu Long Châu khai mở ở Nam phương, Phật pháp hoằng khai huyền bí.

         * Nơi chốn núi sông Hưng Thới là cơ đồ ngôi báu, cửa thiền chói rạng anh linh.

         * Kỳ nguyện với thiên nhiên muôn thuở lưu danh, Phật giáo trùng tu chùa cổ.

         * Hương dậy đất yên, ngàn năm phổ đức noi theo chân truyền của Thầy đem đạo lập tân dân.

         Long Châu là tên của Đức Phật Thầy đặt cho vùng đất Láng Linh. Hiện nay nơi đây có ngôi chợ Long Châu người ta buôn bán rất sầm uất.

         Còn Hưng Thới là tên đặt cho vùng núi Voi.

         Bốn câu liễn trên được ông Tư Nhạn khéo léo dùng bốn chữ Bửu Sơn Kỳ Hương làm bốn chữ đầu của bốn câu liễn (lối khoán thủ).

         Trong thời kỳ Nhật chiếm đóng, ông Năm Tịnh có lên Sài Gòn gặp Đức Huỳnh Giáo Chủ, Ngài hỏi ông Năm Tịnh:

         - Ông ở Láng Linh có sợ không?

         - Dạ! Không sợ. Thưa Thầy.

         Ngài mới an ủi ông Năm Tịnh:

         - Ờ! ở Láng Linh là gốc mà!

         Rồi Ngài mới hỏi qua việc trùng tu Bửu Hương Các và Bửu Hương Tự. Ngài cũng tỏ ý tiếc là ông Năm Tịnh trùng tu quá sớm, làm cho hao tiền tốn của. (Sau nầy ông Năm Tịnh mới hiểu ra khi Bửu Hương Tự và Bửu Hương Các bị triệt hạ cùng lúc ông mất hai con).

         Quả nhiên vậy! Năm 1948, trong cuộc binh biến, chiến tranh cả Bửu Hương Tự và Bửu Hương Các đều bị phá hủy. Ông Năm Tịnh bị mất hai đứa con trai yêu dấu. Nhưng ông Năm Tịnh không nản chí, ông gom góp gạch ngói cũ xếp thành vách, trên thả đòn tay lợp ngói dùng làm nơi thờ phượng. Còn ông thì tạm dùng cái nhà cao cẳng ở phía sau để lo việc hương khói.

         Khoảng năm 1951-1952, trong chiến dịch mỗi người một xuồng đất; thiện nam, tín nữ ở các nơi mỗi khi đến viếng chùa đều chở theo một xuồng đất, đổ lấp các hào sâu ở chung quanh chùa, chẳng bao lâu nền và sân chùa trở nên rộng rãi.

E. Chùa Hiện Nay.

         Sau khi hoàn thành sân chùa và nền chùa, với tấm lòng hảo tâm đóng góp của thiện nam, tín nữ, bá tánh thập phương cũng như sự trợ giúp hết lòng của cậu Hai Ngoán (tức Thiếu Tướng Lâm Thành Nguyên), chùa được xây cất lại, tuy không được phong quang đồ sộ, nguy nga như các chùa khác, nhưng cũng rất rộng rãi, thoáng mát như ngày hôm nay.

         Hằng năm, ngoài các ngày lễ chánh, như lễ kỷ niệm Đức Phật Thầy Tây An, ngày giỗ Đức Cố Quản, cậu Hai Nhu… chẳng những người dân địa phương mà những người dân ở các nơi tụ họp về đây tham gia tổ chức. Đặc biệt ngày lễ giỗ Đức Cố Quản vào ngày 21 tháng 2 âm lịch hằng năm, lễ nầy được kéo dài trong mấy ngày liên tiếp.

         Hiện nay, chùa nầy cũng trở nên đô hội, thị tứ như các chùa khác. Cách cửa chùa không xa là chợ Long Châu, nằm bên trái bờ kinh xáng Vịnh Tre từ sông Hậu Giang đi vào gần 12 Km.

                                                                           Nguyễn Hoài Ân


Comments