9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 22‎ > ‎

24. Những bước gian nan của Đức Thầy - Nguyễn Sỹ Liên

Những bước gian nan của

Đức Huỳnh Giáo Chủ trên đường

hành đạo và đấu tranh độc lập dân tộc.

                                                                                                             Nguyễn Sỹ Liên

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN số 22

 
         Sau khi cùng Đức Ông vãng cảnh Thất Sơn, thăm ngọn Tà Lơn mầu nhiệm, Đức Thầy trở nên đại ngộ và khai sáng nên nền đạo PGHH. Vì tôn chỉ của đạo PGHH là tu Nhân, học Phật, lấy Tứ Ân làm nền tảng cho Giáo Pháp, mà Ân Đất Nước là một trong Tứ Đại trọng Ân, mọi người cần phải làm tròn. Ngài đã từng dạy: “Sanh ra ta, phải nhờ tổ tiên, cha mẹ, sống ta cũng nhờ đất nước, quê huơng. Hưởng những tấc đất, ăn những ngọn rau, muốn cho sự sống được dễ dàng, giống nòi được truyền thụ, ta cảm thấy bổn phận phải bảo vệ đất nước khi bị kẻ xâm lăng giầy đạp. Rán nâng đỡ xứ sở quê hương lúc nghiêng nghèo và làm cho được trở nên cường thịnh. Rán cứu cấp nước nhà khi bị kẻ ngoài thống trị. Bờ cõi vững lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh giàu mình ta mới ấm.” (1)

         Vì thế, trong năm Kỷ Mão, 1939. Ngài viết ra bốn quyển Sấm Giảng ngoài việc khuyên người đời tu niệm, thiệt hành chánh pháp, dẹp bỏ dị đoan mê tín. Ngài cũng không quên kêu gọi, nhắc nhở phải làm tròn bổn phận người dân trong một quốc gia bị trị, trước nỗi thống khổ của toàn dân dưới ách đô hộ bạo tàn của giặc Pháp. Ngài cảm thấy xót thương, vì:

                  Thấy dân mang sưu thuế mà thương.

                  Chẳng qua là Nam Việt vô vương,

                  Nên tai ách xảy ra thảm thiết.

                                                         (Q.2, Kệ Dân)

         Vì nước ta không có vương, tức là không có vua, nên không có chủ quyền, tự do, độc lập. Khiến cho dân chúng phải chịu cảnh lầm than, sưu cao thuế nặng, bị bóc lột, đày ải bởi thực dân Pháp và bọn thiểu số tay sai cầm quyền quên đi cội nguồn tổ tiên, dân tộc. Mà nếu có vua đi chăng nữa thì chỉ là bù nhìn của Pháp dựng lên mà thôi.

         Ngài luôn luôn kêu gọi và đề cao gương trung trinh, tiết liệt của thanh niên nam nữ, trung với nước, hiếu với dân, thảo hiền với tổ quốc, phải làm tròn nhiệm vụ người thanh niên trong thời loạn:

                 Trai trung liệt đáng trai hiền thảo,

                 Gái tiết trinh mới gái Nam Trào.   (Q.2)

         Hay:

                 Gái anh hùng xưa có Trưng Vương,

                 Đuổi quân Tàu cứu vớt quê hương,

                 Rửa sông hận thù chồng quyết trả.

                                     (Diệu Pháp Quang Minh)

         Chính tấm lòng yêu nước thiết tha của Ngài, Ngài chỉ mong cùng toàn dân đánh đuổi ngoại xâm ra khỏi bờ cõi nước nhà để lập lại một quốc gia Việt Nam tự do, độc lập, phú cường dưới sự điều hành của một vị Minh Quân, Thánh Đức. Nên bọn công an, mật thám Pháp luôn luôn theo dõi, rình rập, gây áp lực không nhỏ. Chính vì vậy, trong bài nguyện cúng lạy hằng ngày của người tín đồ PGHH có câu: “Minh Vương trị chúng, thế giới bình an.” Ngài đành phải sửa lại là: “Phật Vương độ chúng, thế giới bình an.”

         Dù vậy, nhà cầm quyền Pháp không bao giờ buông tha cho Ngài. Vì thấy uy tín của Ngài càng lúc càng lớn, tín đồ mỗi lúc mỗi đông, lòng yêu nước hăng say sùn sụt trong quần chúng. Chỉ chờ thời cơ đến cùng toàn dân vùng dậy gỡ bỏ ách thống trị, xích xiềng nô lệ của giặc ngoại xâm người Pháp mà thôi.

                           Điên như ta điên giống Tiên Rồng,

                          Điên gỡ ách xích xiềng thế cuộc.

                                               (Diệu Pháp Quang Minh)

         Hay:

                          Tam Sắc cờ bay phất phới mà,

                          Ngồi nhìn nhớ kỹ héo lòng ta.

                          Thuở xưa đâu có cờ Tam Sắc,

                          Gặp cảnh vong bang ứa ruột rà.

                                                          (Cờ Tam Sắc)

         Vì thế, vào lúc 7 giờ sáng ngày 12 tháng 4 năm Canh Thìn, 1940. Nhà cầm quyền Pháp cấp tốc bắt Ngài, làm cho Ngài không kịp thay quần áo. Đưa Ngài qua Châu Đốc, chỉ ít giờ sau, lưu đài Ngài qua Sa Đéc. Ngài bị giữ tại sở mật thám Pháp ở Sa Đéc. Chỉ 5 ngày sau, tức là vào ngày 17 tháng 4 năm Canh Thìn, Ngài lại bị giải qua Cần Thơ. Pháp lại đưa Ngài đến rạch Sua Đủa, thuộc làng Nhơn Nghĩa, kinh xáng Xà No, ở nhà ông Bộ Thạnh. Mục đích của Pháp là muốn đày Ngài đến miền quê hẻo lánh, đĩa vắt dẫy đầy, cam go cực khổ.

         Một là làm cho Ngài nản chí.

         Hai là làm cho bà con cùng tín đồ của Ngài không còn tiếp xúc với Ngài được nữa.

         Nhưng họ đã lầm. Kinh xáng Xà No ngày nào vắng vẻ, nay lại tấp nập ghe thuyền, kẻ tới người lui, nghe Ngài thuyết Pháp, qui y cầu đạo hay nhờ Ngài chữa trị những bịnh nan y, đông như hội chợ. Ở đây được 2 tháng 12 ngày. Pháp lại đẩy Ngài đi xuống một tỉnh cực Nam gần Cà Mau, đó là tỉnh Bạc Liêu. Nhưng khi đưa Ngài ra đến thị xã Cần Thơ, thì Pháp đổi ý, đưa Ngài vào bệnh viện để khám bịnh tâm thần. Ở đây được 4 ngày, Ngài lại bị đưa đi nhà thương điên Chợ Quán ở Sài Gòn.

         Tại nhà thương Chợ Quán, thay vì Ngài bị trị bịnh điên. Nhưng trái lại, Ngài thâu phục được vị Giám đốc bệnh viện là bác sĩ Trần Văn Tâm làm đệ tử. Nhờ vậy, bà con và tín đồ của Ngài lui tới thăm viếng được dễ dàng, càng lúc càng đông. Nơi đây Ngài viết quyển Khuyến Thiện và hoàn tất quyển Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền, được in thành tập lần đầu vào tháng 5 dl, năm 1945 tại Sài Gòn.

         Ở bệnh viện Chợ Quán được gần một năm. Ngày 11 tháng 5 năm Tân Tỵ, 1941. Sở mật thám Pháp lại đưa Ngài qua bót Ca ti na (Poste Catinat) để điều tra thẩm vấn. Sau 8 ngày hạch hỏi Ngài, đến ngày 19 tháng 5, Pháp lại đưa Ngài đi lưu trú tại Bạc Liêu, ở nhà ông ký Giỏi. Mỗi tuần phải đi trình diện công an một lần, vào sáng thứ hai.

                          Việc chi mà phải đi trình báo?

                          Mỗi tháng bốn kỳ nhọc cẳng ông.

                          . . . . . . . . . . . . . . . . .

                          Thứ hai hừng sáng mưa tầm tã,

                          Lính đứng ngoài đường giục giã ông.

                          Kiếp khách trần gian vay lắm nợ,

                          Để đền trọn nghĩa với non sông.

                                                                                  (Đi Trình Báo)

        Lúc nầy, tình hình thế giới thay đổi, quân đội Nhật vào Đông Dương, áp chế nhà cầm quyền Pháp. Nhật nhận thấy khối tín đồ PGHH ở miền Tây là một nhân tố quan trọng mà Nhật có thể lợi dụng để làm hậu thuẫn cho họ sau nầy.

         Pháp thấy vậy, nên quyết định lưu đày Ngài qua Ai Lao (2), để xa khối tín đồ của Ngài và Nhật cũng không lợi dụng Ngài được. Được tin nầy sở Hiến binh Nhật ra chiêu trước, phái ông Kimura đến Bạc Liêu vào đêm mùng 2 tháng 9 năm Nhâm Ngọ, nhằm ngày 11-10-1942 để rước Ngài về Sài Gòn.

         Trên đường về, tài xế bị lạc đường. Thay vì về Sài Gòn lại đi xuống Cà Mau. Khi đến Tắc Vân thì xe bị hư. Ông Kimura đành phải mượn xe của Bang Trưởng bang Triều Châu đưa Ngài về Sài Gòn. Đến ngã ba Trung Lương thì gặp xe công an Pháp chận lại, nên gây ra tai nạn xe cộ, làm cho ông Lâm Thơ Cưu theo hầu Ngài bị thương ở sóng mũi. Pháp bắt Ngài giải về Sài Gòn. Được tin nầy Nhật phản kháng kịch liệt. Pháp nhượng bộ, trả Ngài lại cho Hiến binh Nhật. Ngài ngụ tại sở Hiến Binh Nhật được 2 tháng, rồi dọn đến số 118 đường Lefèvre, tức đường Nguyễn Công Trứ sau nầy. Trước ngày Nhật đảo chánh Pháp một thời gian, Ngài dọn đến số 150 cùng đường.

        Trong lúc Ngài ngụ tại sở Hiến binh Nhật cũng như ở đường Lefèvre. Tại miền Tây, Pháp mở chiến dịch bố ráp, ruồng bắt một số tín đồ PGHH đày đi những nơi rừng thiêng nước độc như Bà Rá, Côn Đảo làm cho các ông Cả Đô, Cả Cừ, Dương Thiện Tứ và nhiều tín đồ bị thủ tiêu, bị bắn thả thây trôi sông.

         Mặc dầu Ngài được Nhật giúp đỡ mới thoát ra khỏi bàn tay nanh vuốt của Pháp. Nên sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, ngày Nhật đảo chánh Pháp, Nhật mời Ngài hợp tác, nhưng Ngài từ chối. Vì Ngài nhận thấy Nhật chẳng qua là: “Dịch chủ tái nô” mà thôi. Nghĩa là thay thế thực dân Pháp bằng thực dân Nhật. Vì nạn đói xảy ra khủng khiếp ở miền Bắc, cũng để tránh sự nghi ngờ của Nhật, làm việc có ích cho nhân dân, Ngài nhận lời đi khuyến nông ở miền Tây trong vòng hai tháng.

         Sau khi đi khuyến nông về, Ngài cho thành lập Đội Bảo An khắp nơi ở miền Tây có hệ thống, nhằm mục đích bảo vệ an ninh, trật tự, tài sản, sinh mạng đồng bào, ngăn ngừa trộm cướp. Vì Ngài nhận biết Nhật sẽ bại trận và đầu hàng Đồng Minh trong năm Ất Dậu, 1945. Đồng thời Ngài cho thành lập Đệ Tứ Sư Đoàn (3), mượn trường vẽ ở Gia Định đặt Bộ Chỉ Huy, do Ông Cai Tri phụ trách, Ban Tri Sự Gia Định yểm trợ. Công việc đang tiến hành tốt đẹp thì bị Việt Minh lợi dụng sức mạnh mà đại diện là Trần Văn Giàu, Chủ Tịch kiêm Ủy Trưởng quân sự Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ trổ ngón độc tài, dối trá đứng ra giải tán.

         Ngày 8 tháng 9 năm 1945, tín đồ PGHH tổ chức một cuộc biểu tình tại Cần Thơ phản đối độc tài đảng trị Cộng sản, đòi công bằng xã hội, tự do dân chủ. Tẩy Chay Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ. Bị bộ đội võ trang Cộng sản dùng súng bắn thẳng vào đoàn biểu tình và đàn áp một cách dã man. Chúng bắt các ông Huỳnh Thạnh Mậu bào đệ của Ngài, Nguyễn Xuân Thiếp, tức thi sĩ Việt Châu, Trần Ngọc Hoành con ông Trần Văn Soái, tự Năm Lửa, Lâm Thành Nguyên, Chung Bá Khánh, Đỗ Hữu Thiều.

         Ngày 2 tháng 9 năm Ất Dậu, nhằm ngày 7 tháng 10 năm 1945, chúng hành quyết các ông Huỳnh Thạnh Mậu, Trần Ngọc Hoành, Nguyễn Xuân Thiếp tại sân vận động Cần Thơ. Các ông còn lại chúng đưa xuống Vàm Láng Thé thuộc Trà Vinh, hành quyết vào ngày 24 tháng 9 năm Ất Dậu, nhằm ngày 29-10-1945. Chỉ có ông Lâm Thành Nguyên giả điên nên thoát nạn.

         Ở Sài Gòn, đêm 9 tháng 9 năm 1945, nhằm ngày mùng 4 tháng 8 năm Ất Dậu. Trần Văn Giàu sai bộ hạ là Lý Huệ Vinh dẫn đồng bọn bao vây văn phòng của Ngài tại số 8 góc đường Sohier và Miche, tức là góc đường Tự Đức và Phùng Khắc Khoan sau nầy, nơi Ngài đặt trụ sở Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội để bắt Ngài. Nhưng chúng bắt không được. Ngài lên ở tạm tại BTS tỉnh Gia Định. BTS tỉnh Gia Định được lịnh đưa Ngài đi lánh nạn ở Biên Hòa. Ngài bị bọn chúng theo dõi. Nên phải đưa Ngài đi Long Thành, ngụ tại vườn trà Huế sở hữu chủ là ông Phan Ký. Sau anh em hộ vệ Ngài xuống Bà Rịa, ẩn náu ở Cỏ May. Chúng lại theo dõi, Ngài phải đi sâu vào trong rừng Chà Là, ngụ tại nhà một người khách trú.

         Trước sự gian manh xảo trá của Việt Minh, ham quyền cố vị, mưu bá đồ vương, tiêu diệt người quốc gia, giành quyền lãnh đạo riêng cho phe phái mình, không nghĩ gì đến tiền đồ Tổ Quốc, tương lai nước non, quốc gia, dân tộc. Ngài cảm thấy lòng nặng trĩu đớn đau, đắng cay, chua xót mà không khỏi cất tiếng than:

                          Nước non tan vỡ bởi vì đâu?

                          Riêng một ta mang nặng khối sầu.

                          Lòng những hiến thân mưu độc lập,

                          Nào hay tai họa áp bên lầu.

                                                                                      (Tiếng Súng Bên Lầu)

         Trong lúc Ngài đi lánh nạn, thì Trần Văn Giàu và Mặt trận Việt Minh lại mở chiến dịch vu cáo các đảng phái quốc gia làm Việt gian, tay sai, đi đêm với Pháp để có cớ đàn áp thẳng tay. Nhưng chính Trần Văn Giàu lại là tay sai của Pháp. Ông Huỳnh Văn Phương, Tổng Giám Đốc công an dưới thời chánh phủ Trần Trọng Kim có đủ tài liệu. Sau ông nầy cũng bị chúng giết để bịt miệng. Rõ ràng nhất là hiệp ước ngày 6 tháng 3 năm 1946, cấu kết giữa chánh phủ Việt Minh với Pháp, mở đường cho Pháp trở lại Việt Nam. Chính chiến dịch vu cáo đó mà gây nên cảnh nồi da, xáo thịt, cốt nhục tương tàn, nhân tâm ly tán, tạo nên làn ranh Quốc Cộng. Tiềm năng quốc gia bị suy yếu. Chỉ có lợi cho giặc ngoại xâm mà thôi.

                                  Giống nòi nở giết nhau chi?

                          Bạng duật tương trì lợi lũ ngư ông.    (Tự Thán)

         Hay:

                                  Quí nhau từng giọt máu đào,

                          Để đem máu ấy tưới vào địch quân.

                                                                         (Tiếng Chuông Cảnh Tỉnh)

         Hoặc:

                                   Nghĩ càng bực tức, đau thương,

                          Giết nhau để lợi cho phường xâm lăng.

                                                                               (Đồng Đảng Tương Tàn)

         Với tấm lòng vị tha nhân ái, thiết tha với tiền đồ dân tộc, độc lập, tự do cho nước nhà. Không muốn nhìn thấy cảnh huynh đệ tương tàn, quốc phá, gia vong, con Lạc, cháu Hồng cùng chung một dòng máu phải chém giết lẫn nhau. Nhưng đối với kẻ vô thần thì mắt mờ, tai điếc hay chúng cố tình giả dạng làm ngơ, mặc tình cho quê hương tan nát đau thương:

                          Gió hiu hắt bên rừng quạnh quẽ,

                          Nhìn non sông đượm vẻ tang thương.

                                   Mối tình chủng loại vấn vương,

                 Thấy quân xâm lược hùng cường căm gan.

                          . . . . . . . . . . . . . . . . .

                          Dùng trăm ngàn thói bạo hiếp dân.

                                   Làm cho trong nước rẽ phân,

                 Làm cho giặc Pháp một lần sướng rang.

                                                                                    (Tự Thán)

         Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Nhật chánh thức đầu hàng Đồng Minh. Pháp trở lại nước ta. Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ bỏ chạy về Chợ Đệm, bên bờ rạch Bình Điền, thuộc quận Bình Chánh. Nơi đây họ không quên hành quyết các nhà lãnh đạo đảng phái quốc gia như ông Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Hồ Vĩnh Ký, Bùi Quang Chiêu.

         Cuối năm 1945, Trần Văn Giàu bị huyền chức, sợ Trần Quốc Việt ra lịnh thủ tiêu, nên đào tẩu qua Miên, rồi chạy về Bắc, Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ rút về Rạch Giá, chui sâu vào rừng Cà Mau.

         Thượng tuần tháng 12 năm Ất Dậu, 1945. ĐHGC được các tín đồ đưa về Chợ Lớn, ngụ tại bến Lê Quang Liêm.

         Ngày 20 tháng 4 năm 1946, Ngài cùng các đảng phái quốc gia, tôn giáo, lực lượng võ trang triệu tập hội nghị 3 ngày đêm tại Bà Quẹo. Thành lập Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp Việt Nam (4). Ngài giữ chức vụ Chủ tịch. Phó chủ tịch Vũ Tam Anh. Thơ Ký Mai Thọ Trân. Tuyên truyền Lê Trung Nghĩa. Quân sự Huỳnh Văn Trí, tức Mười Trí. Cố Vấn Phạm Thiều, Phạm Hữu Đức, Trần Văn Lâm. Ngoài ra, còn có Ủy Ban Quân Sự Tối Cao, Võ phòng đặt tại ấp Tám làng Vĩnh Lạc (miệt Bà Quẹo thuộc 18 thôn Vườn Trầu).

         Nhưng công việc bị bại lộ, Ngài thoát nạn. Hai linh mục Công Giáo là cha Luật, cha Sang bị bắt. Ngài bí mật dời văn phòng đi nơi khác. Bị mật thám Pháp bám sát, theo dõi. Nửa đêm chúng đến bao vây. Ngài thoát nạn lần nữa.

        Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp Việt Nam ra đời làm cho Pháp khó chịu, Việt Minh cũng lo âu. Ngoài thành, Pháp cho công an ruồng bắt trên 150 cán bộ hoạt động hợp pháp, trong đó có quí ông Nguyễn Trung Chánh, Nguyễn Thanh Tân bị đài đi Côn Đảo. Trong bưng, Pháp dồn toàn lực tấn công bằng máy bay, thiết giáp, tàu thủy, súng đồng làm cho lực lượng võ trang thiệt hại không nhỏ. Về phía Việt Minh lợi dụng cơ hội Mặt Trận đối phó với Pháp, họ ép Mặt Trận phải sáp nhập với họ và đòi đổi tên là Hội Liên Hiệp. Các đơàn thể quốc gia phản đối. Phạm Thiều rời bỏ Mặt Trận. Nguyễn Bình mượn danh nghĩa chánh phủ Việt Minh giải tán Mặt Trận. Các đoàn thể quốc gia chống lại, chúng thẳng tay đàn áp. Làm cho máu của người Việt một lần nữa phải tuôn rơi. Trước tình cảnh đó, Ngài vô cùng thống khổ, phải viết những vần thơ sau đây để thức tỉnh lương tri của chúng:

                 Hãy tỉnh giấc hỡi muôn ngàn chiến sĩ,

                          Mở lòng ra thương nghĩ sanh linh.

                                   Đồng bào ai nỡ dứt tình,

                 Mà đem chém giết để mình an vui.

                          . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

                          Lúc bây giờ muôn binh xâm lược,

                          Đang đạp vày non nước Việt Nam .

                                   Thù riêng muôn vạn cho cam,

                 Cũng nên gát bỏ để làm nghĩa công.

                                                                         (Tiếng Chuông Cảnh Tỉnh)

         Mặc dầu Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp Việt Nam bị giải thể. Ngài vẫn giữ mối liên lạc với các nhà chỉ huy quân sự, như Huỳnh Văn Trí (Vệ Quốc Đoàn), Lê Văn Viễn (Bình Xuyên) và các trưởng chi đội thuộc thành phần Quốc Gia chống xâm lăng, chống độc tài để làm hậu thuẫn.

         Sau khi kết hợp được với Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng của các ông: Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Bảo Toàn, Lê Văn Thu, Trần Văn Ân, v.v... Ngày 21 tháng 9 năm 1946, Ngài tuyên bố thành lập Đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội, gọi tắt là Việt Nam Dân Xã Đảng mà Tổng Bí Thư là ông Nguyễn Bảo Toàn, còn Ngài chỉ giữ chức Ủy Viên Trung Ương mà thôi. Đảng chủ trương tranh thủ sự tự chủ hoàn toàn của dân tộc, tôn trong nguyên tắc dân chủ. Chủ quyền ở nơi toàn thể nhân dân.

         Vào trung tuần tháng 10 năm 1946, để tỏ lòng đoàn kết, chung vai đâu cật đánh đưổi ngoại xâm. Ngài nhận chức Ủy Viên Đặc Biệt Hành Chánh Nam Bộ, qua lời khẩn khoản của Phạm Thiều, đại diện Ủy Ban.

         Sau khi ông Nguyễn Hoàn Bích (tức Nguyễn Bảo Toàn) lãnh lịnh Ngài đi tiếp xúc với các lãnh tụ đảng phái chánh trị miền Bắc, bị liên quân Việt Minh và Pháp đánh bạt ra khỏi Việt Nam, phải đi lánh nạn ở Trung Hoa. Ngày 27 tháng 2 năm 1947, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt được thành lập tại Nam Ninh (Trung Hoa), gọi tắt là Mặt Trận Toàn Quốc.

         Chủ Tịch: Cụ Nguyễn Hải Thần, thuộc Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội.

         Ủy viên ngoại giao: Ông Nguyễn Tường Tam, thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng.

         Thư ký: Ông Nguyễn Hoàn Bích, thuộc Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng. Đại diện cho PGHH và Cao Đài (4).

         Ngoài ra còn có Liên Đoàn Công Chức, Đoàn Thể Dân Chúng và các ông Trần Côn, tức Trần Văn Tuyên, Lưu Đức Trung tham gia hoạt động.

         Đại diện trong nước, giao cho ông Nguyễn Văn Sâm, dùng tờ Quần Chúng làm cơ quan Ngôn luận. Mặt trận liên lạc với công dân Vĩnh Thụy ở Hương Cảng, nhằm mục đích dùng giải pháp Quốc Gia, đòi Pháp trả lại chủ quyền cho Việt Nam. Sau Pháp đưa Bảo Đại về làm Quốc Trưởng. Bảo Đại đem Việt Nam đứng trong Liên Hiệp Pháp, nên sứ mạng của Mặt Trận không thành.

         Ở miền Tây, sự xô xát tiếp tục xảy ra giữa Việt Minh và anh em tín đồ PGHH, vì sự tàn bạo, tráo trở của Việt Minh. Để hòa giải, Ngài chấp nhận thành lập Ủy ban hòa giải gồm có ba người là:

         Hoàng Du Khương        Việt Minh.

         Linh mục Lê Bá Luật     Công giáo.

         Luật Sư Mai Văn Dậu    Hòa Hảo.

         Nhưng sự hòa giải bất thành, vì linh mục Lê Bá Luật khuynh tả. Vì thế, cuộc xô xát giữa Việt Minh và Hòa Hảo bùng phát mãnh liệt hơn trước. Khiến Ngài đang công tác ở miền Đông phải di hành về miền Tây để giải quyết.

         Trước khi lên đường về miền Tây, Ngài đến hội kiến với Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc tại tòa thánh Tây Ninh, theo lời mời của Lê Trung Nghĩa. Hai nhà lãnh đạo tôn giáo thỏa thuận hợp tác với nhau về nhiều vấn đề cứu quốc.

         Ngày 5 tháng 4 năm 1947, vào lúc 2 giờ chiều, Ngài đến từ giã anh em chi đội 4 và 25 (Bình Xuyên) đang đóng tại Sông Xoài và Vịnh Sao. Ngày 6 tháng 4 năm 1947, Ngài đến chợ Tháp Mười. Năm giờ chiều cùng ngày, Ngài đến vàm kinh Phong Mỹ, 3 giờ 30 sáng hôm sau Ngài đến ngọn Ba Răng thuộc thôn Phú Thành. Nơi đây có chi đội 30 do ông Nguyễn Giác Ngộ chực sẵn tiếp rước Ngài.

         Về đến đây, Ngài chứng kiến hai việc xảy ra làm Ngài rất đau lòng.

         Một là vào ngày 13-4- 1947, một chiến sĩ Dân xã trong bộ đội lưu động số 1 đi hớt tóc tại chợ Ba Răng, bị cán bộ Việt Minh ập vào bắt đem đi chặt đầu.

         Hai là đêm 13 rạng 14 tháng 4 năm 1947, ông Nguyễn Ngọc Phước bí thư tỉnh đảng bộ Rạch Giá, bị Việt Minh bắt đi hành quyết.

         Được tin Đức Thầy về miền Tây, Bửu Vinh nhờ người đưa thơ thỉnh mời Ngài đến dự phiên họp vào đêm 16 tháng 4 năm 1947 để giải hòa sự xung đột giữa Việt Minh và một số tín đồ PGHH. Ngài nhận lời, đi với Ngài gồm có 4 cận vệ, 1 thơ ký, 3 người chèo ghe. Đến văn phòng Bửu Vinh trời đã tối hẳn. Ngài ngồi bàn giữa nói chuyện với Bửu Vinh, 4 cận vệ cầm súng đứng hai bên gần cửa. Độ 10 phút sau, vào khoảng 7 giờ 30, có 8 người từ bên ngoài đi vào, chia ra làm 4 cặp, tràn tới đâm 4 người cận vệ. Ba người bị đâm chết. Chỉ có một người là anh Phan Văn Tỷ lanh trí, lách mình tránh kịp, thoát ra ngoài, bắn một loạt tiểu liên. Trong lúc anh Tỷ tránh khỏi, thì một trong hai tên Việt Minh bị đồng bọn đâm nhằm chết.

         Thấy chuyện chẳng lành, Ngài lẹ làng thổi tắt ngọn đèn, văn phòng trở nên tối đen. Kể từ đó không ai thấy Ngài đâu nữa. Còn viên thơ ký và ba người chèo ghe cũng lẹ làng tẩu thoát.

         Sự vắng mặt của Ngài kể từ cái đêm 16 tháng 4 năm 1947, chẳng những là một sự thiệt thòi cho khối tín đồ PGHH, mà còn là một sự mất mát to lớn cho quốc gia dân tộc, mất đi một nhà ái quốc chân chính, đầy lòng yêu nước, nhiệt tình với quốc gia, dân tộc, với tấm lòng vị tha vô lượng, với một sứ mạng đoàn kết quốc gia, để tạo thành sức mạnh tổng hợp giải phóng quê hương, đưa đất nước thoát khỏi ách thống trị bạo tàn của thực dân Pháp và bọn độc tài khát máu.

         Chúng tôi thành tâm cầu nguyện Mười Phương Chư Phật, ơn trên Tam Bảo độ trì cho Đức Huỳnh Giáo Chủ sớm trở về để dìu dắt khối tín đồ PGHH thoát cơn Pháp nạn, tiến lên con đường tu tập, tìm về giác tánh Chơn Như. Đồng thời để thoát khỏi cái cảnh:

                           Con lạc cha, con hỡi u ơ,

                          Thầy xa tớ ngẩn ngơ thương tiếc.

                                                                                         (Nang Thơ Cẩm Tú)

         Kính chào quý vị và quý đồng đạo. Chúc quý vị và quý đồng đạo thân tâm thường lạc, vạn sự cát tường.

                                                            Đồng đạo NGUYỄN SỸ LIÊN

Ghi Chú: Theo quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ, bìa vàng, xuất bản năm 1993.

(1)  Trích một đoạn trong bài Ân Đất Nước.

(2)  Trang 114, ĐHGC của Vương Kim.

(3)  Khi Nhật sắp đầu hàng, các đoàn thể thành lập 4 sư đoàn là:

  1. Dân quân cách mạng Đệ Nhất sư đoàn của Trần Văn Giàu.
  2. Dân quân cách mạng Đệ Nhị sư đoàn của Cao Đài, do Vũ Tam Anh chỉ huy.
  3. Dân quân cách mạng Đệ Tam sư đoàn, do Nguyễn Hòa Hiệp chỉ huy.
  4. Dân quân cách mạng Đệ Tứ sư đoàn của PGHH, do Cai Tri chỉ huy. (tr. 147, ĐHGC của VK)

(4)  Xem trang 189, ĐHGC của Vương Kim.

          * Trong mặt trận Quốc Gia Liên Hiêp, bí danh của ĐHGC là Hoàng Anh. (tr. 168, ĐHGC của VK.)

          * Trong thời gian Đức Thầy hoạt động ở miền Đông, Ngài di hành qua các vùng như: Bà Quẹo, Bình Hòa, Quéo Ba, Vườn Thơm, Thổ Địa, Chòi Mòi, Bù Lu, Mộc Hóa, Lạc An, An Phú Đông. . . . .

          * Ngày 23-8-1945 Việt Minh cướp chánh quyền ở Hà Nội.

          * Ngày 24- 8-1945, Bảo Đại thoái vị, nhường quyền cho VM.

          * Ngày 24-8-1945, ở Sài Gòn, ông Nguyễn Văn Sâm trao quyền cho Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm chủ tịch.

          * Ngày 25-8-1945 Việt Minh tổ chức một cuộc biểu tình rầm rộ ở Sài Gòn.

          * Cai Tri sau xuất gia trở thành Thượng Tọa Thích Pháp Tri.

          * Ngày 6-8-1945 Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Quảng Đảo (Hiroshima).

          * Ngày 8-8-1945 Mỹ ném bom nguyên tử thứ hai xuống thành phố Trường kỳ (Nagasaki).

          * Ngày 10-8-1945 Nhật Hoàng xin đầu hàng Đồng Minh qua trung gian của toà đại sứ Thụy Điển.

          * Ngày 14-8-1945 Mỹ chánh thức chấp nhận sự đầu hàng của Nhật.

          * Ngày 15-8-1945 Nhật Hoàng ra lịnh cho toàn dân Nhật buông súng đầu hàng.

          * Ngày 23-8-1945 Pháp nhờ Anh yểm trợ chiếm lại Sài Gòn.

          * Đức Thầy đi khuyến nông 2 tháng ở miền Tây. Ngài rời khỏi Sài Gòn ngày 1 tháng 5, năm Ất Dậu, nhằm ngày 10 tháng 6 năm 1945 đến cuối tháng 7 năm 1945 Ngài mới trở về Sài Gòn. Khi về đến sài Gòn, Ngài chứng kiến sự đổ nát của thành phố Sài Gòn bởi sự oanh kích mãnh liệt của phi cơ Đồng Minh.


Comments