9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 22‎ > ‎

22. Báo Hiếu Đạo Nhà - Huỳnh Chi

BÁO HIẾU ĐẠO NHÀ

                                                                                                                Huỳnh Chi

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN số 22

 
         Vào khoảng năm 1939-1940, trong lúc Đức Thầy còn ở Tổ Đình, tại làng Phú An có ông Trưởng Khuynh (tức ông Hương Trưởng tên Lê Phát Khuynh) là một cao đồ có duyên lành với Thầy nên mỗi lần ông đến, Đức Thầy thường ôn tồn chỉ bảo cho ông một cách chu toàn về các pháp môn tu học.

         Một hôm, vì nghe lời Đức Thầy giảng dạy nên ông chủ trương cúng chay trong ngày giỗ của ông Cố tổ. Tuy nhiên, Ông bị những người trong gia tộc phản đối quyết liệt, nhứt định không chịu cúng chay. Ông cãi không lại nên buồn quá, bèn thả bộ xuống Tổ Đình gặp ngay lúc Đức Thầy đang thuyết pháp. Ông không dám sỗ sàng đi thẳng vào nên đi vòng ra phía sau hè qua nhà ông Út. Tại đây, ông gặp 3, 4 đồng đạo đang ngồi cãi nhau ỏm tỏi. Ông thì chủ trương cúng chay đúng, còn ông thì nói cúng mặn đúng. Ông Khuynh nghe trùng hợp với hoàn cảnh gia đình mình nên ngồi xuống nghe. Các ông nầy chia làm hai phe cãi với nhau hết sức, không ai chịu nhường ai cả.

         Đang khi ấy, Đức Thầy từ nhà trên đi xuống, lên tiếng: “Ủa, sao lạ vậy! Mấy ông đến đây là người tu rồi, dốc lòng muốn nghe tôi thuyết pháp để tu hành, phải không? Mấy ông có quy y chưa? Các ông quy y rồi sao không làm y? Tại sao mình là người tu mà lại nói lớn tiếng với nhau quá vậy? Có bàn luận cũng phải làm sao cho vỡ lẽ thôi, chớ đừng cãi vả lớn tiếng. Vậy mấy ông cãi việc gì đây?”

         Có ông đứng lên thưa:“Bạch Thầy! Mấy anh em nầy nói cúng chay trúng, còn tôi nói cúng mặn đúng.”

         Thầy nói:“Mặn chay thì mình coi cái nào đúng thì làm theo chớ tại sao lại cãi”.

         Mấy ông bên ăn mặn rất bảo thủ nên lên tiếng:“Ông bà Cha mẹ tôi hồi trước ăn mặn bây giờ tôi cúng mặn. Nói thiệt với Thầy, vì lòng chí Hiếu thì không kể tội phước, miễn cho cha mẹ mình được thỏa lòng thì mình có sa địa ngục cũng được. Nên tôi nhứt định cúng mặn cho Ông bà Cha mẹ tôi”.

         Đức Thầy cười: “Nè, tôi báo cho các ông biết, báo Hiếu cho cha mẹ mà báo cách đó là muội Hiếu. Khi ông bà cha mẹ qua đời mà cúng mặn thì cúng nhiều tội nhiều, cúng ít tội ít”.

         Đức Thầy nói vậy rồi bỏ đi lên nhà trên. Ông bảo thủ cúng chay đứng lên:“Nè, các ông có nghe Đức Thầy nói cúng mặn tội nhiều, cúng ít tội ít hay chưa; vậy thì cúng chay mới phải.”

         Mấy ông cúng mặn cãi lại:“Không, Đức Thầy nói vậy là không cúng; vì cúng nhiều tội nhiều, cúng ít tội ít. Vậy là không cúng, còn cúng là trật”.

         Thế là, mấy ông lại đỏ mặt tía tai lên cứ tiếp tục cãi với nhau hơn nữa. Đức Thầy từ nhà trên xuống, đứng sau lưng hồi nào không ai hay: “Ủa sao lạ vậy, cha mẹ ông bà qua đời không cúng là nghiã gì? Nè, tôi báo cho mấy ông rõ Ông bà Cha mẹ qua đời mà không cúng là xuống địa ngục…

         Đây là bài thơ 8 câu mà nãy giờ tôi viết cho mấy ông. Tôi giao cho ông Trưởng Khuynh, ông chép ra cho đồng đạo xem để mà tu hành đúng theo tinh thần của bài thơ nầy.

         Nhưng trước khi giao cho ông, ông phải trả lời cho thiệt, lúc ông mạnh ông ăn mấy chén cơm?” Ông Khuynh nhanh nhẹn trả lời: “Bạch Thầy, con ăn nhiều lắm thầy ơi! Chén lớn con có thể ăn 7, 8 chén”. Đức Thầy hỏi tiếp: “Ờ, rồi khi đau ăn được mấy chén?” Ông chần chừ một hồi: “Bạch Thầy, khi đau con chỉ ăn một vài chén”. Thầy nói: “Rồi chừng đổ hồ không chạy, ăn mấy chén?” Ổng lúng túng nghĩ thầm: Ủa, sao Thầy hỏi đổ hồ không chạy mà ăn được mấy chén là nghiã gì, đã đổ hồ không chạy mà ăn cái nỗi gì, nên trả lời: “Bạch Thầy, đổ hồ không chạy là không còn ăn được cái gì nữa !” Thầy nói: “Ờ, đổ hồ không chạy thì không còn ăn được, phải không? Vậy tôi hỏi ông, chết rồi ăn được mấy chén?” Ông Khuynh cúi đầu: “Bạch Thầy, chết là không ăn được!”

         Thầy hỏi gặn: “Ủa, ăn không được tại sao cứ đút nhét. Thôi! đây là bài thơ 8 câu, rán đọc lên cho anh em nghe rồi trao đổi nghiã lý với nhau, chỗ nào còn chưa hiểu thì hỏi tôi, tôi chỉ cho.” Nguyên văn bài thơ như thế nầy:

                          “Quảy đơm cúng tế lệ xưa nay,

                            Sát vật trâu heo đứa mị bày.

                            Kẻ mất cho ăn suy khó hiểu,

                            Người còn bạc đãi lạ lùng thay.

                            Cháu con báo hiếu theo nhà Phật,

                            Cha mẹ qua đời thủ lễ chay.

                            Trong sạch nghiã nhơn vầy mới đáng,

                            Hồn linh siêu thoát nhẹ cao bay.”

         (Theo lời kể của Ô. Lê văn Phú tự Tho, Trưởng Ban Phổ thông Giáo lý tỉnh Châu Đốc kiêm Cố vấn Hội Đồng BTS./Trung Ương GH.PGHH trước năm 1975).

         Rõ ràng, qua “Mẩu chuyện bên Thầy” vừa kể, bài thơ nầy cũng có thời gian ra đời và nguyên nhân để Đức Thầy sáng tác. Tuy nhiên, vì không biết chính xác ngày nào, nên Ban Biên Tập đành xếp vào trang Phụ Lục của Quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ với lời chú thích: Những bài không rõ thời gian tính sáng tác.

         Nhìn chung, đây là bài thơ được Đức Thầy viết theo thể Đường luật, thất ngôn bát cú, luật bằng vần bằng, rất đúng niêm luật. Đặc biệt, hai câu Thực hoặc Trạng (3-4) và hai câu Luận (5-6) có các vế và các chữ đối nhau rất chỉnh.

         Sau đây là nội dung và ý nghĩa bài thơ nầy (căn cứ Tài liệu “Vấn Đáp Giáo lý PGHH” do Ông Hai Tho giải thích tại ấp Long Hòa, xã Thới Long, quận Phong Phú, tỉnh Phong Dinh, đầu năm 1970).

         Bốn câu đầu Đức Thầy cho mình biết là báo muội hiếu nghiã là báo hiếu một cách mê muội vì nghe lầm người ta.

         Câu 1: “Quảy đơm cúng tế lệ xưa nay” tức là sự cúng kiếng Ông bà Cha mẹ từ xưa tới nay đã trở thành cái lệ (tức là luật pháp bất thành văn). Cái lệ nầy vẫn tồn tại, ai cũng phải công nhận và tuân theo nên gọi là công lệ.

         "Quảy" là một tiếng Việt cổ, một động từ để chỉ việc cúng bái mà bây giờ ta ít nghe nói. Trong ngôn ngữ Việt lại có động từ "cúng quảy", "đơm quảy"... "Quảy" thì không phải chỉ cúng với hoa quả, trầm trà, hương đèn, mà "quảy" còn bao hàm ý nghĩa là sắm sửa đồ ăn quý hơn đồ ăn thường dùng hàng ngày để cúng ông bà tổ tiên nữa.

         Câu 2: “Sát vật trâu heo đứa mị bày” Giết trâu heo là do đứa mị bày, vậy “đứa mị bày” là ai? Xin nói rõ, đó là bọn Trương Giác và Truơng Đạo Lăng bên Trung Hoa. Thường ngày, họ nói mình tu theo đạo Tiên nhưng thực ra là chạy theo tà sư ngoại giáo rồi dạy người ta giết súc vật như trâu heo để cúng tế Thần Thánh, cúng tế Ông bà. Do đó, Đức Thầy cho biết là tại Trương Giác, Trương Đạo Lăng ở bên Trung Hoa bày đặt chuyện ma mị rồi truyền qua Việt Nam cho chúng ta làm theo. Cho nên được gọi là “mị bày”

         Câu 3 và 4:Kẻ mất cho ăn suy khó hiểu, Người còn bạc đãi lạ lùng thay.” Người mất rồi mà cho ăn, nhưng làm sao mà ăn đây, suy ra khó biết quá. Tại sao người chết rồi mà cho ăn, trong khi người còn sống thì không cho ăn, đôi khi lại đối đãi một cách lạnh lùng, hay mang thức ăn đến cho cha mẹ mà giống như cho gia súc ăn, không có vẻ gì là cung kính hay phụng dưỡng. Hoặc là cha mẹ còn sống sờ sờ ra đó vậy mà có bao giờ nghe ai nói tôi giết con heo nầy, con trâu nọ cho cha mẹ tôi ăn. Họ chỉ bo bo lo cho vợ cho chồng, đến khi cha mẹ chết thì giành cúng với anh em để tỏ ra mình là con có hiếu, nhưng Đức Thầy cho biết đó chỉ là hạng “làm màu hiếu nhi”, và Ngài còn dạy rõ:

                                  “Của tiền chớ có bỏ theo,

                          Chết rồi tế lễ bò heo làm gì ?”

         Câu 5 và 6: “Cháu con báo hiếu theo nhà Phật, Cha mẹ qua đời thủ lễ chay.”

         Thật vậy, nếu cha mẹ còn sống, có món ngon vật lạ cho cha mẹ ăn, mới thật là hiếu; đến khi chết rồi thì rán Tu cầu cho cha mẹ thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử. Đó mới thật là con chí hiếu, đó mới thật là cách báo Hiếu theo nhà Phật

         Bình tâm mà xét, cha mẹ qua đời là ngày buồn tủi của con cháu, vì vậy mình phải rán ăn chay, làm lành, tu hành, lo lập bồi công đức để đền ơn trả thảo. Nếu trên dương gian mà con cháu phát tâm ăn chay, làm lành lánh dữ, cầu nguyện Phật Trời thì Tổ tiên Ông bà dưới Cửu tuyền chắc chắn sẽ mừng vui, thỏa dạ lắm.

         Xin nhắc lại câu chuyện Phật Tổ dắt ông Nan-Đà là em một cha khác mẹ với Ngài lên Thiên đình rồi xuống Âm ty thấy được việc Ngạ quỷ đang bị giam giữ nhưng có nhóm thì khóc còn có nhóm lại cười. Ông Nan-Đà thấy sao cùng là quỷ đói (đầu thì to như cái đấu còn cái bụng to như trống chầu, cần cổ nhỏ như cây kim ăn uống không được, nên gọi là Ngạ quỷ tức quỷ đói) nhưng mà có điều chúng nó cứ cười cợt với nhau, cứ trửng giởn với nhau hoài. A-Na-Đà mới hỏi: “Bạch Thế tôn, tại sao cái đám ngạ quỷ nầy nó cười hoài vậy?” Phật Tổ trả lời: “Ngươi trở lại hỏi chúng nó thử coi, tại sao chúng nó cười như vậy”. A-Nan-Đà trở lại hỏi đám ngạ quỷ nguyên do vì sao. Đám ngạ quỷ trả lời: “Chúng tôi nói thiệt với Ngài, khi ở trên dương thế, chúng tôi tàn bạo ngược ngang, gạt người lấy của, cướp người lấy công, tất cả chuyện làm hết sức là tội lỗi cho nên bây giờ chết xuống đây làm ngạ quỷ. Nhưng mà chúng tôi cười đây là vì con cháu chúng tôi trên thế gian đang tu hành dõng mãnh lắm. Chúng tôi tin tưởng là chúng nó sẽ đắc đạo, sẽ cứu vớt chúng tôi, cho nên chúng tôi cười là vì mừng đám con cháu có tu”. Ông Nan-Đà trở lại thưa với Phật tổ: “Bạch với Phật, nhóm ngạ quỷ đó có con cháu trên thế gian lo tu hành nên tin tưởng là con cháu khi đắc đạo sẽ cứu, cho nên chúng nó vui mừng mà cười hoài”.

         Phật nói: “À, thì ra vậy. Làm con làm cháu được như vậy thì xứng đáng lắm”.

         Sau đó, Phật Tổ dắt ông Nan-Đà đi một dạo nữa thì gặp một nhóm ngạ quỷ đang ngồi khóc, khóc cho đến đổi máu trào ra mắt. Nan-Đà mới hỏi: “Bạch Thế tôn tại sao cái nhóm nầy lại khóc quá vậy?”. Phật tổ nói: “Bây giờ ngươi trở lại hỏi thử, coi nó nói làm sao”. A-Nan-Đà cũng hỏi y như nhóm trước, nhóm ngạ quỷ nầy trả lời: “Ngài ơi, chúng tôi khóc đây là vì chúng tôi tuyệt vọng rồi. Con cháu chúng tôi trên thế gian không có tu hành chi cả, chỉ lêu lỏng hoang đàng, trà đình tửu điếm, lo chơi bời trụy lạc thì sớm muộn cũng bị sa địa ngục, làm gì chúng nó cứu được chúng tôi, chúng tôi mãi mãi cứ ở trong cái nghiệp ngạ quỷ nầy hoài không làm sao thoát được, cho nên chúng tôi mới khóc”.

         A-Nan-Đà trở lại trình bày với Phật tổ. Phật nói: “Đó, ngươi xem cái đám ngạ quỷ chịu luân hồi, chịu trầm luân trong cảnh đó là nhờ con cháu có tu mới cười, bởi con cháu không tu mới khóc. Thì đây, ta mang cái xác thịt của cha ông ta, Cửu huyền Thất tổ ta biết bao nhiêu người không tu cũng chịu cái nghiệp ngạ quỷ đó. Vậy thì nhà ngươi khi về dương thế rán mà lo tu hành. Đây là cõi Âm ty không thể ở lâu được.”

         Nguyên văn bài thi gồm 8 câu mà Đức Thầy cho ông Khuynh để đọc lại và giải thích cho anh em nghe; đồng thời, chép lại truyền bá cho tất cả tín đồ.

         Chúng ta nhận thấy ý nghĩa bốn câu trước mang tính cách “Muội Hiếu” còn bốn câu sau là “Trí Hiếu”. Thật vậy, ngoài việc “Cháu con báo hiếu theo nhà Phật” thì chuyện “Cha mẹ qua đời thủ lễ chay” là một việc làm sáng suốt và đáng được phổ biến rộng rãi. Bởi vì, một khi cha mẹ qua đời thì mình phải ăn chay, cầu nguyện cho vong linh cha mẹ được siêu thoát. Dầu cho mình không ăn chay trường thì trong những ngày nầy phải thành tâm cầu nguyện 3 ngày trước và cả 3 ngày sau nữa, như vậy mới phải đạo làm con.

         Các ông vua ngày xưa muốn cho đất nước thanh bình, dân chúng an cư lạc nghiệp phải ăn chay nằm đất để mà Cầu nguyện, rõ ràng là phải ăn chay mới có kết quả. Vào thời Đông Châu Liệt Quốc bên Trung Hoa, vua Triệu trước khi mang ngọc dâng cho Tần phải ăn chay năm ngày, còn vua Tần muốn được ngọc tốt cũng phải ăn chay năm ngày, tắm gội sạch sẽ mới nhận ngọc. Được một viên ngọc tốt còn phải ăn chay, huống chi hôm nay chúng ta được cái Giáo lý siêu mầu của Đức Thầy, tại sao chúng ta không ăn chay để giải đi cái quả căn và có đuợc cái công hạnh giúp ích cho việc tu hành.

         Trong quyển Ba (Sám Giảng), Đức Thầy có dạy rõ:

                                  “Nếu ai biết chữ tu trì,

                          Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.”

         Hay là:

                                   “Ở cho biết nhượng biết tùy,

                          Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan.”

         Vậy thì chúng ta ăn ở phải tùy lòng cha mẹ, chẳng những dưỡng nuôi mà còn phải làm cho cha mẹ chúng ta vui lòng nữa. Trong “Ân tổ tiên cha mẹ” Đức Thầy có viết: “Lúc cha mẹ còn đang sanh tiền, có dạy ta điều hay lẽ phải ta rán chăm chỉ nghe lời, chớ nên xao lãng, làm phiền lòng cha mẹ. Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhân đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên lơn ngăn cản.”

         Đức Thầy đã dạy hết sức rõ ràng, hết sức tinh tường. Thử hỏi, có chỗ nào Ngài dạy chúng ta cúng heo, cúng gà mà cha mẹ được giải thoát đâu, chẳng vậy mà Ngài còn nhắc nhở:

                          “Làm tuần trà rượu xềng xoàng,

                            Rồi thì chửi lộn mà an nổi gì ?”

         Đức Thầy không những khuyên mình không nên sát sanh hại vật để cúng kiếng Ông bà Cha mẹ mà còn khuyên bảo chúng ta phải rán lo tu hành giải thoát vì:

                          “Rán tu đắc đạo cứu Cửu huyền,

                            Thoát chốn mê đồ đến cảnh Tiên.

                            Ngỏ đáp ơn dày công sáng tạo,

                            Cho ta hình vóc học tu hiền.”

         Hay là:

                          “Thất tổ Cửu huyền nơi chín suối,

                            Những mong hậu tấn biết tâm chay.”

                                                                                              (Nhẫn đợi thời cơ)

         Đức Thầy còn nhắc chuyện Mục Kiền Liên ngày xưa tu đắc đạo cứu được mẹ là bà Thanh Đề để chúng ta theo gương hiếu tử:

                                  “Mục Liên cứu mẹ bằng nay,

                          Nhờ người hiếu hạnh tâm rày Từ bi.”

         Trong “Truyện cổ Phật giáo”, có một mẩu chuyện như sau: Có ông Trưởng giả nọ, trọn đời làm lành thi ơn bố đức, tu Thập thiện tức là diệt mười điều ác, làm mười điều lành cho nên gần chết ông biết trước ngày giờ ra đi. Ông gọi vợ con tới dặn: “Nè, khi ta chết rồi thì các con đừng làm bò, trâu, dê… mà cúng kiếng. Các con phải rán bố thí giúp đời để ta hưởng phước ở cõi Trời. Nói cho các con biết là ta được về cõi Trời vì tu thập thiện”. Dặn dò kỹ lưỡng xong thì ông chết.

         Vợ con nghe theo lời không sát sanh, hại vật để cúng kiếng. Nhưng đến kỳ làm tuần giáp năm, chòm xóm bàn ra tán vào: “Thiệt là, ông Trưởng giả để lại của cải nhiều quá nhưng con cháu thì hà tiện, không dám làm tuần cho lớn, mời cô bác lại để đền ơn đáp nghĩa cho mọi người. Lúc ông Trưởng giả chết, người ta tiếp lo chôn cất cực khổ thì bây giờ phải đãi đằng cho người ta chớ.” Người trong nhà nghe phải quá nên quyết định làm trâu, bò, heo… để rước làng xóm lại mà đáp tạ.

         Trong lúc ông Trưởng giả đang hưởng phước trên cõi Trời thì ông vua Trời kêu ông nầy lại: “Nè, ta cho ông Trưởng giả biết, bây giờ ông sửa soạn xuống Địa ngục mà giữ ba con trâu, con heo. Vợ con ông ở dưới thế gian vì ông mà giết trâu heo nên ông phải về cõi dưới mà đền cái tội đó, năm cái bông sen trên đầu ông đã héo rồi”. Ông Trưởng giả nài nỉ Ngọc đế: “Nhờ Ngài cho phép tôi trở lại trần gian để cảnh cáo vợ con mới được. Bởi vì tôi có dặn rõ nhưng tại chúng nó cãi lời.” Ngọc Đế thương tình nên cho ông nầy có thần thông trở về trần gian. Ông ta hóa ra một mục đồng, cỡi một con trâu đi ngang qua đám làm tuần giáp năm của ông.

         Khi đi đến đó, ông xuống trâu, cột trâu ngay trước cửa rồi vô nhà xem vợ con làm gì. Ông thấy rõ là gia đình làm trâu, dê nhiều quá trong khi đó thì bên ngoài con trâu bỗng nhiên dẫy mấy cái rồi lăn ra chết. Nghe bà con lối xóm la hoáng lên, ông vội vàng chạy ra, hỏi mượn cái lưỡi hái rồi lựa đám cỏ thật ngon cắt một bó lớn, ôm lại chỗ trâu nằm chết, vạch miệng trâu đút cỏ vào.

         Quan khách bu quanh thấy thằng nhỏ làm chuyện lạ kỳ nên thắc mắc: “Con trâu chết rồi, mầy còn đi cắt cỏ rồi đút cho nó ăn, làm chuyện gì kỳ lạ vậy?” Thằng nhỏ trả lời: “Không, tôi cho nó ăn mà. Tội nghiệp, nó mới chết còn nóng hổi chắc ăn được.” Vừa nói, nó vừa vạch miệng trâu đút cỏ vô còn van nài: “Trâu ơi! ăn đi, ăn đi trâu…” Thiên hạ vỗ tay cười rộ: “Mầy thiệt là khùng quá, con trâu nó đã chết rồi mà đút cỏ kêu ăn, ăn cái gì được mà ăn, không biết nữa?” Thằng nhỏ đứng lên nói: “Mấy ông nói tôi điên, nhưng tôi xin hỏi mấy ông, ông Trưởng giả trong nhà nầy đã chết đến nay được một năm rồi mà còn làm trâu dê cúng ổng, cho ổng ăn. Vậy tại sao mấy ông không nói mấy người trong nhà nầy điên mà lại nói tôi điên?” Thiên hạ thấy “ông nhỏ” nầy không phải tầm thường nên vặn hỏi:”Mầy ở đâu mà đến đây? Việc của người ta làm mà mầy mỉa mai chi vậy!” Thằng nhỏ đáp: “Ta chính là Trưởng giả đây”.

         Sau đó, ông gọi vợ con ra trách: “Nè! khi tôi chết, tôi có dặn mà không ai chịu nghe lời tôi. Tôi biểu của cải trong nhà đem bố thí cho người ta để tôi được hưởng phước lâu dài trên cõi Trời, đừng sát sanh, hại vật mà cúng tôi .Vậy mà mấy người cãi lời nên Ngọc Đế cho biết, tại mấy người giết trâu heo mà tôi phải xuống Địa ngục để giữ ba con trâu heo nầy và đền tội sát nhân. Vậy từ rày về sau đừng giết trâu heo nữa, tôi có ăn được đâu mà phải xuống Âm ty đền tội. Mấy người muốn cho tôi khỏi tội, phải rán bố thí tiền của cho người ta, họa chăng tôi mới về được cõi Trời.” Nói xong ông biến mất.

         Tóm lại, cha mẹ còn sống mà không nuôi nấng, đợi đến khi chết rồi thì lo làm trâu heo cúng quảy, cái đó chỉ làm nên tội cha mẹ ta chớ không có phước đức gì cả.

         Cuối cùng, đến hai câu kết (7 và 8): “Trong sạch nghĩa nhân vầy mới đáng, Hồn linh siêu thoát nhẹ cao bay.” Cho ta thấy rằng ngoài việc cúng chay là một điều hết sức trong sạch (trong sạch từ nội dung đến hình thức), tức là không tanh hôi, không vấy máu, không tổn hại sức khoẻ lại tiết kiệm được bạc tiền mà còn đáp tròn được nghĩa nhân nữa.

         Thật vậy, như lời Đức Thầy dạy bảo: “Cúng ít tội ít, cúng nhiều tội nhiều, không cúng sa địa ngục.” có nghĩa là khi đến ngày Lễ Giỗ phải “Quảy đơm” để tưởng nhớ đến công đức sanh thành của Ông bà Cha mẹ và đền ơn đáp nghĩa bà con làng xóm, nhưng không nên sát sanh hại vật để mà cúng kiếng (hay bày ra tiệc tùng, nhậu nhẹt) tức là ta đã làm tròn Nhân đạo. Điều nầy Đức Thầy có dặn:

                          “Giường linh đơm quảy mới là,

                             Có chi cúng nấy vậy mà dân ôi!”

         Và cũng chính vì vậy mà hồn linh của những người quá vãng sẽ được “siêu thoát nhẹ cao bay” như lời Đức Thầy tỏ ngộ.

         Tóm lại, như Đức Thầy từng chỉ dạy:

                                   “Mẹ cha là kẻ trọng ân,

                 Dưỡng nuôi báo hiếu lúc thân yếu già.”

         Ngài luôn kêu gọi mọi người hãy nhớ đến công ơn sâu dầy của cha mẹ, để sớm lo báo đáp. Lúc cha mẹ già yếu, phận làm con phải hết lòng hiếu dưỡng, chăm sóc từ miếng ăn, thức mặc, chí đến lúc ngủ nghỉ ốm đau.

         Chẳng may cha mẹ qua đời thì nên nghe lời truyền giáo của Ngài:“Bông hoa cầu Phật hiệp vầy đi chôn.” Sau đó, Đức Thầy còn nhắc nhở:

                                  “Muốn cho tội lỗi mòn tiêu,

                 Thành tâm cầu nguyện sớm chiều mới hay.”

         Đặc biệt là:

                                  “Mình làm chữ hiếu mới hay,

                 Chớ mướn người ngoài cầu nguyện khó siêu.”

         Đồng thời, chúng ta không đợi đến ngày Lễ Giỗ mới làm mâm cao cỗ đầy cúng tế, mà ngay như mỗi bữa ăn dầu dĩa dưa, hạt muối cũng nên, miễn là biết thành lòng tưởng nhớ và nguyện vái Ông bà Cha mẹ về thọ dụng với mình là được, đó là đúng cách của người con báo hiếu. Điều nầy, Đức Thầy có dạy rõ trong quyển Sáu (tức Tôn chỉ Hành Đạo): “Mỗi khi ăn cơm với mắm muối chi cũng vậy, đều nguyện vái Cửu-Huyền, Thất-Tổ, ông bà cha mẹ quá vãng về ăn với mình để tỏ lòng hiếu thảo.”

         Thêm vào đó, mỗi khi đến ngày Lễ Giỗ của Tổ tiên, Ông bà Cha mẹ chúng ta phải ăn chay, thành tâm cầu nguyện, phát tâm làm việc phước thiện như bố thí, bắc cầu, bồi lộ và đặc biệt là phải cúng chay để tránh sát sanh, hại vật mà mang thêm nghiệp báo.

         Bài thơ “Báo Hiếu Đạo Nhà” rất xứng đáng để chúng ta suy nghiệm và phụng hành cho thật đúng những gì mà Đức Thầy đã ần cần truyền lại.

         Cần nhất là bổn phận làm con thì phải lo đền đáp cho tròn câu hiếu nghĩa. Mặc cho người đời luận tranh cao thấp thế nào, phần ta cứ mãi lo đắp bồi công đức để được viên thành Đạo quả./.

         Nam mô A Di Đà Phật !

                  Huỳnh Chi


Comments