9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 22‎ > ‎

21. Nghi thức thờ cúng & ý nghĩa - Mai Thanh Tuấn

LTS: Bài pháp-luận sau đây là nhận-định riêng của tác-giả, không nhất thiết đó là nhận-thức của Tòa-Soạn.

Nghi thức Thờ Cúng & Ý nghĩa

sự Lễ Bái của người Tín Đồ PGHH

                                                                                                                              Mai Thanh Tuấn

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN số 22

 
         Đức Thầy đã từng dạy:

               “Tưởng nhớ Phật như ăn cơm bữa,

                 Vọng Cửu Huyền sớm tối mới mầu.”

         Nếu mỗi người chúng ta cần phải có hai bữa cơm để nuôi dưỡng thân xác và duy trì sự sống của mình, thì qua hai câu giảng trên Đức Thầy đã cho ta thấy ý nghĩa sự quan trọng của hai thời lễ bái. Cơm là thực phẩm có chức năng để cung cấp cho thân thể nhu cầu sự sống, ấy là phần vật chất; về tinh thần thì hai thời lễ bái cũng chính là thực phẩm nhu yếu để nuôi dưỡng huệ mạng tức đời sống tâm linh của chúng ta. Tín ngưỡng tâm linh là một điều sâu sắc và tế nhị. Do đó, những vấn đề cần phải được nghiên cứu, bàn bạc một cách kỹ lưỡng, khúc chiết hơn trong những ý nghĩa về các bài cúng nguyện và ý nghĩa về sự lễ bái là một điều rất quan trọng, chúng ta cần phải tìm hiểu cho thật thấu đáo tinh tường.

         Nhiều người chưa nghiên cứu kỹ khi nhìn vào nghi thức thờ phượng hành lễ của người tín đồ PGHH đã vội đánh giá thấp chỉ vì sự cúng bái rất đơn giản. Họ cho rằng sự thờ cúng như thế là quá sơ sài không đủ để biểu hiện qui mô của một Tôn giáo lớn. Tuy nhiên, có khi nghi thức lễ mễ quá nhiều sẽ làm cho niềm tin và sự thành kính của mình không được thuần khiết. Với một cái nhìn tuyệt vời đáng bái phục, Đức Thầy đã chỉ dạy cho chúng ta trong khi thờ phượng; đó là:

         "Nên thờ đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào sự hào nháng bề ngoài."

         Chúng ta đến với Đức Phật không phải vì Ngài có lắm uy quyền hay nhiều thần thông, hảo tướng. Ngài tiếp độ ta cũng không phải vì ta xa hoa hay vật chất. Hạnh phúc tuyệt vời khi ta được quỳ dưới chân Ngài trong một tình thương mát mẻ ngọt ngào mà không cần sự đòi hỏi hay một điều kiện nào cả. Đó là những giá trị tuyệt vời mà Ngài đã ban tặng cho ta.

         Hơn nữa, PGHH là một Tôn giáo có một nền tảng Giáo Lý mà khi ra đời Đức Thầy đã cho biết:

                         "Rút trong các luật các kinh,

                 Tùy lòng không ép làm in giảng nầy."

         Qua đó, tuy Đức Thầy chủ trương đơn giản nhưng rất súc tích, tuy là hình thức ít mà sự chứa đựng ý nghĩa thì nhiều. Vậy thì tại sao Đức Thầy dạy chúng ta chỉ thờ ba ngôi mà không thờ những ngôi nào khác? Tại sao khi cúng dường Đức Phật, Ngài chỉ bảo chúng ta cúng nước lạnh, bông hoa nhang thôi, ngoài ra không nên cúng một món gì khác cả. Tại sao khi ra bàn Thông Thiên chúng ta lại xoay và nguyện bốn hướng đều y như vậy?... Đó là những dấu hỏi mà chúng ta sẽ bắt đầu tuần tự trả lời.

         Nhìn chung về ý nghĩa ba ngôi thờ cúng, thì ngôi Cửu Huyền Thất Tổ tượng trưng cho Thánh đạo, ngôi Tam Bảo tượng trưng cho Phật đạo, ngôi Thông Thiên tượng trưng cho Tiên đạo: ấy là ý nghĩa tinh thần Tam giáo qui nhất môn. Sở dĩ ngôi Thông Thiên mang ý nghĩa tượng trưng cho Tiên đạo vì nó chính là truyền thống tín ngưỡng Phật Trời của người dân Việt Nam. "Thiên tại ốc thềm đầu" nghĩa là bàn Thông Thiên ở trước cửa thềm nhà, vừa ra khỏi mái nhà người Việt đã có dịp tiếp xúc với Phật Trời vọng bái tứ phương, ấy là sự tín ngưỡng tâm linh rất cao và sâu sắc.

         Theo tín ngưỡng dân gian, người Việt thờ bàn Thông Thiên có hai cấp, bởi họ quan niệm rằng cấp trên thờ Thiên Hoàng tức là thờ Trời, cấp dưới thờ Địa Hoàng tức là thờ Đất. Khi ra đời giáo Đạo, Đức Thầy đã dạy chúng ta thờ ngôi Thông Thiên nhưng Ngài dạy người tín đồ chỉ thờ một cấp trên mà thôi và cách hành lễ cũng có khác. Dĩ nhiên, bàn Thông Thiên của PGHH phải mang một ý nghĩa mới lạ khác. Điều nầy chúng ta sẽ bàn kỹ ở phần sau.

         Riêng ngôi Cửu Huyền Thất Tổ 九玄七祖 tượng trưng cho Thánh đạo, nhưng có nhiều người thắc mắc vì sao nơi ngôi Cửu Huyền Thất Tổ lại thờ con Lân (thật ra là trưng thì đúng hơn). Chúng ta làm vậy liệu có sai lệch chăng theo Tôn Chỉ của Đức Thầy đã dạy? Đây là một dấu hỏi mà chúng ta cần phải làm sáng tỏ.

         Thật ra, ngôi thờ Cửu Huyền Thất Tổ đã có mặt trong mỗi gia đình người Việt Nam từ lâu. Tuy nhiên, ngày trước người ta chỉ biết vẽ lên ấy những bộ tranh cảnh hay chữ Phước, Lộc, Thọ ,祿, hoặc tạc hình Long, Lân, Quy, Phụng gì đó... để thờ với ý nghĩa biểu hiện sự tốt lành cho gia đình, cho ông bà cha mẹ. Ngày nay người tín đồ PGHH làm theo sự chỉ dẫn của Đức Tôn Sư, nơi ngôi nhà của họ chỉ có một bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ và một lư hương duy nhất, (ngoại trừ những ngôi nhà Tổ Đường hay những gia đình có những người thân qua đời khi chưa xả xong tang chế). Bởi nếu chịu suy nghĩ một chút chúng ta sẽ thấy nếu mình càng thờ nhiều bàn thờ hay nhiều lư hương sẽ càng bị thiếu. Nếu phải thờ một lư hương cho ông nội, một lư hương cho bà nội vậy thì còn ông cốc bà cốc, ông cố bà cố, hay ông sơ bà sơ... và còn trở dài về quá khứ nữa. Mỗi một người chúng ta thì phải đếm hết được bao nhiêu ông bà nhiều đời của mình, ắt hẳn chúng ta không thể thờ từng người, từng bàn thờ hay từng một lư hương cho đủ được. Cho nên, Đức Thầy dạy chúng ta thờ chỉ một lư hương với bốn chữ Cửu Huyền Thất Tổ mang ý nghĩa là thờ ông bà quá vãng trong vô lượng đời trước của mình là hết sức gọn gàng, ví như cả một gia đình thật nhiều người được mình gom tên vào một Tờ khai Gia đình (nay gọi là Sổ hộ khẩu), vừa đơn giản mà đầy đủ, vừa rất khoa học vô cùng.

         Về việc con Lân trên bàn thờ thì chúng ta chưa thấy Đức Thầy có một hành động gì chỉnh sửa. Cứ theo tinh thần Tôn Chỉ, Ngài cho phép chúng ta "bàn thờ Ông Bà cúng món chi cũng đặng", theo đó thì tất cả vật chất thế gian chúng ta đều có thể cúng được cho Ông Bà nhằm mục đích tỏ bày lòng hiếu thảo của mình. Thế thì việc trưng bày (chỉ trưng bày thôi chứ không phải thờ) con Lân chúng ta thấy không có điều chi sai lệch. Vả lại, nếu tìm hiểu về ý nghĩa của con Lân chúng ta sẽ thấy sự có mặt của nó trên ấy sẽ cho ta một Đạo Lý thâm diệu vô cùng.

         Trong bốn loài thú linh mỗi con đều mang một ý nghĩa rất đặc biệt:

                          "Long năng biến hóa, Qui triệu kiết hung.

                            Phụng tri trị loạn, Lân thể nhân hậu"

         Mỗi khi Rồng xuất hiện là sự thay đổi lớn cả một thời kỳ (Long năng biến hóa). Phụng mà xuất hiện vào thời loạn thì thời ấy sẽ được bình và trái lại vào thời bình sẽ đến lúc lâm nguy (Phụng tri trị loạn). Theo dấu chân lịch sử Trung Hoa, cuối thời nhà Thương khi sanh linh đang chịu lầm than dưới sự tàn ác khắc nghiệt của Trụ Vương vô đạo, người ta đã thấy Phụng hoàng xuất hiện rất nhiều trên Kỳ Sơn vùng Tây thổ của đất nhà Châu "Xưa mạt Thương Phụng gáy non Kỳ", thế là không bao lâu nhà Châu đã lên thay nhà Thương đem lại sự thái bình cho thiên hạ. "Qui triệu kiết hung" là điềm báo điều hung kiết nếu có thần Qui xuất hiện trong cõi đời. Những sự kiện về các giai thoại thời xưa khi vua Phục Hy thời Ngũ Đế bên Trung Hoa đã được "Lân mã phụ Hà Đồ" và "Thần Qui phụng Lạc Thư" nhờ thế mà Vua đã phát minh ra Bát Quái và Lịch Pháp đều căn cứ vào hai bức Hà Đồ và Lạc Thư nầy.

         Riêng Lân là một con vật được biểu hiện cho ý nghĩa của tấm lòng nhân hậu "Lân thể nhân hậu". Nếu ngày nào chúng ta thấy được mặt Kỳ Lân thì ngày ấy chúng ta biết rằng trong cõi thế gian nầy sẽ ra đời một vị Thánh Hiền đem đạo đức luân lý con người truyền dạy cho nhân sanh. Trước khi Đức Khổng Tử ra đời thì mẹ Ngài đã một lần nằm mộng trông thấy Kỳ Lân xuất hiện vào nhà và bà đã đưa tay cột sợi chỉ đỏ vào trên sừng của nó. Khi tỉnh mộng thì bà thọ thai. Thế nên hình ảnh và ý nghĩa của con Lân đã gắn liền với cuộc đời Đức Thánh. Cho nên ý nghĩa của Kỳ Lân là ý nghĩa của Đạo Đức Thánh Hiền. Ngày nay người Việt Nam chúng ta vẫn tôn thờ Đạo Lý ấy bởi vậy mà trong mỗi gia đình trên mỗi bàn thờ Ông Bà đều có hình ảnh của Kỳ Lân. Tượng trưng trên ấy như là ý nghĩa của Đạo Lý thiêng liêng để cho mỗi ngày khi đến trước linh ảnh của Tổ Tiên chúng ta phải biết bổn phận của mình phải giữ vẹn bên lòng hai từ “Trung Hiếu”. Ấy quả là một ý nghĩa rất tuyệt vời!

         Đó là tinh thần Tu Nhân mà mỗi người tín đồ luôn gắng gổ thi hành không bao giờ phai lãng. Còn tinh thần Học Phật thì được thể hiện rõ ràng ở ngôi thờ Tam Bảo và bàn Thông Thiên.

         Ngôi Tam Bảo hay còn gọi là bàn thờ Phật trong nhà. Nhiều người cho rằng ngôi Tam Bảo là ý nghĩa của Phật, Pháp, Tăng, còn khi chỉ gọi bàn thờ Phật thì ý nghĩa đó không đủ, tức là trên bàn thờ ấy chỉ có sự ngự trị của Đức Thế Tôn chứ không có sự hiện hữu của Pháp và Tăng trong ấy? Cái tuyệt vời của Đức Thầy là ở chỗ nầy. Chúng ta phải biết giữa Phật Pháp Tăng là nhất thể bao giờ cũng đồng hành với nhau. Hễ nơi nào có Phật thì nơi đó có Pháp, và nếu đã có Pháp tất nhiên phải có Tăng. Lẽ dĩ nhiên như vậy! Nếu không có Pháp làm sao ta biết Ngài là Phật, và nếu không có Tăng thì ai là người biết Pháp, Phật pháp sẽ được thành lập ở chỗ nào? Cho nên Đức Thầy chỉ gọi với một từ đơn giản là bàn thờ Phật nhưng đã đầy đủ cả Pháp lẫn Tăng trong đó rồi. Cái tuyệt vời của PGHH là như vậy, gọn gàng mà súc tích, đơn giản mà mầu nhiệm. Như vậy, bàn thờ Phật nghĩa là chúng ta tôn thờ Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi báu trong cuộc đời. Ý nghĩa đó đã được biểu hiện một cách rõ ràng, sâu sắc và đầy đủ qua ý nghĩa bức Trần Dà. Theo Đức Tôn Sư, biểu tượng tôn thờ bức Trần Dà của chúng ta hàm súc ba nghĩa:

                 1.- Là thể hiện tinh thần hòa hợp,

                 2.- Là thể hiện tinh thần thoát tục,

                 3.- Là thể hiện tinh thần vô thượng của nhà Phật.

         Như thế thì "tinh thần hòa hợp" là Tăng bởi nghĩa của Tăng chính là Hòa Hiệp Chúng, còn "tinh thần thoát tục" tức là Pháp vì Pháp là nghĩa Ly Dục Tôn, và "tinh thần vô thượng" lẽ dĩ nhiên là chỉ cho đấng Từ Bi Vô Thượng, tức là Phật.

         Theo tinh thần Phật Học, Tam Bảo bao gồm cả ba phần ý nghĩa như vầy:

         1.- Thế gian trụ trì Tam Bảo: là Đức Phật bằng hình tượng được tôn thờ trong các chùa chiền, Pháp tức là văn kinh còn nằm trong giấy mực, Tăng là những vị xuất gia tu hành theo Phật mà chưa liễu ngộ Đạo Mầu. Đó là hình ảnh Tam Bảo còn trong thế gian.

         2.- Xuất thế gian Tam Bảo: Phật là Đức Thế Tôn Thích Ca đã nhập Niết Bàn, Pháp là Tứ Đế cùng tất cả các môn giải thoát khác, Tăng là năm anh em Kiều Trần Như và tất cả chư Thánh Đệ Tử của Ngài.

         3.- Đồng thể Tam Bảo: là tự thể thanh tịnh giữa Tam Bảo và tất cả chúng sinh mà bên trong mỗi chúng sinh đều có tự thể thanh tịnh bình đẳng như Tam Bảo không khác. Phật nơi đây là Giác, Pháp nơi đây là Chánh, Tăng nơi đây là Tịnh. Tự qui y Phật, tự qui y Pháp, tự qui y Tăng là quay trở về với Giác, Chánh, Tịnh trong lòng của mọi người.

         Từ những ý nghĩa đó chúng ta biết rằng Đức Thầy dạy người tín đồ thờ bức Trần Dà trên ngôi Tam Bảo là Ngài muốn cho chúng ta hiểu rằng ngoài việc cung kính, cúng dường Tam Bảo bằng hình tướng bên ngoài để có thể gây tạo công đức phước duyên (xin đừng lầm với nghĩa hai từ công đức trong thuật ngữ Phật học) hành giả chúng ta còn phải biết trở lại với chính mình sống với Chân Như thanh tịnh giải thoát.

         Bàn về ý nghĩa bức Trần Dà mà chúng ta bỏ qua không nói về ý nghĩa của Bông, Nhang, Nước là một điều rất thiếu sót. Thường thì để biểu hiện tấm lòng cung kính Đức Phật chúng ta có thể cúng dường tất cả những tịnh tài và tịnh vật đến cho Ngài, dù là vật quí tiện thế nào miễn vì là tấm lòng thành của ta dâng lên thì Đức Thế Tôn đều chấp nhận. Thế thì tại sao Đức Thầy chúng ta chỉ dạy ta cúng Phật bằng ba món Bông, Nhang, Nước đơn giản thế thôi. Tất nhiên là Ngài phải có diệu ý của Ngài.

         Chúng ta hãy nghĩ đến những cành Hoa, cây Nhang và chun Nước lã đơn giản thế nầy thì dầu cho người có nghèo khổ đến đâu cũng không một ai mà không thể cúng dường Đức Phật. Và bởi vì Đức Phật bao giờ cũng dụng ở tấm lòng thành chân thật:

                          "Tới vói Ta chớ đem đồ cúng,

                            Chỉ đem theo hai chữ thành lòng.

                            Chẳng có cần trà quả hương nồng,

                            Mong sanh chúng từ lòng hối ngộ."

         Nhưng nói thế cũng không có nghĩa là những món đơn giản ấy mà không phải là "hậu lễ'' đâu. Hãy nghiền ngẫm lời giải thích của Đức Thầy sau đây chúng ta sẽ thấy dù cho bất kỳ một món cúng dường quý báu nhất trên đời nầy cũng không thể nào bì được:

         "Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng Nước lạnh, Bông hoa và Nhang thôi. Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, Bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn Nhang dùng đặng bán mùi uế trược.''

         Thật vậy, Nước là sự trong sạch, Hoa là sự tinh khiết, còn Nhang là bán mùi uế trược! Ba món nầy chính là những "bảo vật" vô giá nếu ai biết dâng lên cúng dường cho Đức Thế Tôn thì Phước Báu và Công Đức bất khả tư nghì. Chúng ta phải hiểu được rằng "bán mùi uế trược" của Nhang là xua tan đi bao phiền não trong lòng, nó chính là Hương thơm của Giới luật. Sự trong sạch của Nước chính là cõi lòng thanh tịnh của mình, đó chính là Định. Hoa dùng để hiển bày lên cái nghĩa tinh khiết ở đây bởi vì trong suốt quá trình hấp thụ sự sống của cây, phải kết tụ tất cả những nhựa sống tinh túy bên trong mới có thể cho Hoa nở thành mà tỏa hương khoe sắc. Cho nên Hoa chính là kết quả của Đạo hạnh, là Huệ. Ba món Pháp bảo Giới, Định, Huệ nầy ai mà biết dâng lên cho Đức Thế Tôn thì thử hỏi trên cõi đời nầy còn có một bảo vật nào có giá trị hơn nó nữa! Người hành Pháp cúng dường nầy chẳng những chỉ hưởng được Công Đức Phước Báu vô lượng mà còn có thể thành tựu được Đạo quả cao siêu. Kinh văn há chẳng từng bảo:

 "Tam thiên Thất Bảo tuy đa, dụng tận hoàn qui sinh diệt.

   Tứ Cú kinh văn tuy thiểu, ngộ chi phương chứng Bồ Đề"

         Của Bảy Báu tuy nhiều nhưng chúng ta dùng hoài cũng có ngày phải hết, bởi lẽ dù sao thì nó cũng còn nằm trong vòng sinh diệt tử sanh. Trái lại với Bốn Câu kinh (Tứ Cú kinh văn) tuy ít nhưng một khi liễu ngộ rồi thì chúng ta sẽ thành được Phật quả cao thượng trên đời. Đó là sự siêu việt hơn giữa vật chất thế gian và Pháp xuất thế gian như vậy.

         Như trên đã tìm hiểu, chúng ta biết rằng nếu ngôi Thông Thiên chỉ mang một ý nghĩa là tượng trưng cho tinh thần Tiên Đạo theo như tín ngưỡng bao đời của người dân Việt Nam thì trong đây sẽ còn rất nhiều những nghi vấn.

         Dưới cái nhìn so sánh, đối chiếu từ cách thức hành lễ cùng các bài văn nguyện với nhau chúng ta có thể thấy ngôi Thông Thiên là lý tánh Tam Bảo. Đành rằng ở bức Trần Dà trong những ý nghĩa mà chúng ta tôn thờ là Tam Bảo Phật Pháp Tăng bằng lý tánh bên trong, tuy nhiên là như vậy nhưng dù sao thì so với bàn Thông Thiên thì bàn thờ Phật phía trong vẫn còn có cái tướng là tấm Trần Dà, dẫu rằng cái tướng đó là cái tướng của lý tánh. Còn đối với ngôi Thông Thiên ngay cả tấm Trần Dà hay một hình ảnh nào trên đó cũng không còn nữa. Ngoài ba món Bông, Nhang, Nước mà chúng ta dâng lên làm phẩm vật cúng dường cho Đức Như Lai chúng ta muốn tìm kiếm một vật gì trên ấy nữa cũng không thể tìm được. Đây là chỗ của cảnh giới Chân Tánh vô vi tuyệt đãi vô đối không chỗ luận bàn, là chỗ rốt ráo cuối cùng của con đường tu niệm cao siêu.

         Có hiểu được như thế chúng ta mới không đỗi ngạc nhiên khi Đức Thầy đã dạy một điều nầy trong Tôn Chỉ: "Nếu trong nhà chật nội bàn Thông Thiên với một lư hương không cũng đặng."

         Với chủ trương tu hành theo chánh Pháp vô vi, Ngài đã tùy nghi đơn giản hóa nghi thức thờ phượng hành lễ cho người tín đồ. Là một người sống trong cuộc đời chúng ta ai cũng có một cuộc sống mà trong ấy mỗi người đều có mỗi hoàn cảnh khác nhau. Qua đó chúng ta mới thấy được giá trị ý nghĩa đặc thù của ngôi Thông Thiên.

         Đức Thầy dạy chúng ta lạy bốn lạy nơi ngôi Cửu Huyền Thất Tổ là thể hiện của Đạo Lý con người ân đền nghĩa trả. Để vun đắp từng tuổi đời cho ta lớn lên, chuỗi sống về với chúng ta bao nhiêu thì hai vai chúng ta phải nặng oằn bao điều ân nghĩa. Ngoài ân nặng của Tổ Tiên Cha Mẹ ra, chúng ta còn phải nhờ đến Đất Nước quê hương đến Đồng Bào Nhân Loại, rồi nhẫn đến ân Tam Bảo đã khai hóa trí óc cho mình. Thế nên người tín đồ PGHH mỗi lần hành lễ đều bái lạy bốn lạy trước bàn thờ cha mẹ Tổ Tiên để cho chúng ta biết rằng bốn ân là trách nhiệm thiêng thiêng mà chúng ta phải dốc lòng đền trả.

         Ba xá nơi ngôi Cửu Huyền đó chính là con số tượng trưng để bày tỏ tấm lòng cung kính của mình. Người Việt Nam chúng ta hay có thói quen dùng con số ba vào những việc như ăn cơm ba hột, làm ba cái hay nói chuyện ba điều... tất cả con số ba đều mang ý nghĩa là con số nhiều, là số đại diện. Vậy thì xá ba xá là chúng ta đã thể hiện hết tấm lòng thành kính của chúng ta!

         Ngôi Tam Bảo hay còn gọi là bàn thờ Phật. Ngoài ý nghĩa ba xá là con số tượng trưng để nói lên lòng cung kính chân thiết của mình ở nơi ngôi Tam Bảo hay bàn thông Thiên là chỗ thờ của tinh thần Phật Đạo, con số ba xá mang một ý nghĩa khác hơn.

         Sự ra đời của Đức Phật là niềm vui lớn cho cõi đời, Ngài đã ban phát ánh Đạo vàng đến cho nhân sinh. Cho nên hình ảnh của Ngài là hình ảnh của Tam Bảo. Chúng ta xá Ngài ba xá là sự cung kính Ngài qua hình ảnh đại diện cho Phật, Pháp, Tăng, hay nói rõ hơn là thể hiện lòng tôn thờ và tri ân Tam Bảo. Bởi nhờ Tam Bảo mà chúng ta mới có được niềm tin và hướng đi tìm về chân lý để cho cuộc đời hiện tại và tương lai của chúng ta được an lạc vĩnh cửu hơn.

         Sâu sắc hơn nữa, nếu chúng ta đặt tầm nhìn ba xá qua ý nghĩa về mặt thời gian. Ba đời quá khứ, hiện tại và vị lại tiếp nối nhau không một giây phút nghỉ dừng. Đức Phật ở quá khứ, Đức Phật của hiện tại và Đức Phật của vị lai bao giờ cũng có sự tương quan mật thiết không thể tách rời. Một vị Phật nầy trôi qua sẽ có một vị kia thay vào hiện hữu. Đó là một sứ mạng mà tất cả các Ngài đều chung nhất như nhau. Nếu chỉ một lần ba xá của chúng ta mà mình có thể lễ kính một lượt khắp cả ba đời chư Phật thì thiết nghĩ ba xá quả là một ý nghĩa quá nhiệm mầu!

         Còn lạy Phật bốn lạy là chúng ta lạy bốn đức. Kinh văn đã bảo:

                          "Lễ Phật giả kỉnh Phật chi đức

                            Niệm Phật giả cảm Phật chi ân.

                            Tọa thiền giả đăng Phật chi cảnh.

                            Khán kinh giả minh Phật chi lý

                            Thuyết Pháp giả giải Phật chi tâm."

                          (Lạy Phật là vì tôn kính đức độ của Phật

                           Niệm Phật là vì cảm thọ ân sâu của Ngài.

                           Tọa thiền là đi vào cảnh giới của Phật

                           Xem kinh là hiểu Đạo Lý Như Lai.

                           Thuyết Pháp là giải bày tâm Phật).

         Vậy thì lạy Phật là vì kính trọng đức độ của Ngài. Đức Phật là người có lòng Từ, Bi, Hỷ, Xả vô lượng. Bao giờ Ngài cũng ban rải tình thương đến cho chúng sanh, Ngài sẵn sàng gánh chịu mọi khổ đau vì chúng sanh miễn sao cho chúng sanh được an lạc. Từ là ban vui, Bi là cứu khổ, Hỷ là hoan hỷ khi làm lành, Xả là phủi bỏ danh lợi tình không vướng mắc. Cúi đầu cung kính lạy bốn lạy để chúng ta nhớ mãi bốn đức tính cao thượng đó mà cố gắng trải thân phụng sự hành trì.

         Kinh Bát Nhã giảng rằng con người được hình thành là do sự tích tụ của Ngũ uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức; là năm món mà nhà tu chúng ta cần phải quán chiếu diệt trừ. Chính Ngũ uẩn ấy là cội nguồn của bản ngã. Cũng bởi vậy mà khi lễ bái Đức Phật, năm vóc chúng ta phải gieo sát đất là ngụ ý để cho ta đập tan năm món uẩn nầy. Do vậy khi lạy Phật chúng ta phải đem hết lòng thành kính. Nếu mình chỉ hành lễ sơ sài chiếu lệ thì chẳng những phước huệ không sanh mà vô tình nuôi lớn bản ngã Ngũ uẩn của mình nữa. Đó là một điều rất tai hại!

         Nhớ lại ngày trước cũng bởi ỷ vào mình đã từng tụng hết ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa nên Sa di Pháp Đạt khi hành lễ với Lục Tổ mà đầu không sát đất. Khi ấy Tổ đã quở:

                 "Lễ bổn chiết mạn trường. Đầu hề bất chí địa.

                  Hữu ngã tội tức sinh. Vong công phước vô tỷ."

         Nghĩa là lễ bái cốt để ta chặt gãy ngọn cờ ngã mạn. Thế mà khi thi lễ đầu lại không sát đất thì có ý nghĩa cung kính đâu. Nếu có ngã tất tội chướng sẽ sanh. Nhược bằng quên bản ngã đi thì phước mới sanh vô lượng. Đây cũng là một Đạo Lý quan trọng mà chúng ta phải ý thức rõ trong lúc hành trì.

         Nhiều người tín đồ đã thi lễ với Đức Thầy bằng hai xá. Xá như vậy là họ căn cứ theo ý nghĩa của người Việt Nam. Xá Đức Thầy bằng hai xá như vậy bởi họ quan niệm rằng Đức Thầy vẫn còn sống và Ngài sẽ trở về trong tương lai. Ý nghĩ ấy mới nghe qua tưởng chừng như rất hay và hợp lý. Nhưng nếu có ai đó đặt câu hỏi rằng bây giờ Thầy mình còn sống vậy đến bao giờ Thầy mình phải ra đi (chết)? Như thế chúng ta phải trả lời ra làm sao với họ? Bởi vì mọi vật trong cuộc đời nầy nếu có sinh ra thì phải có ngày hoại diệt, có sống thì phải có chết thôi, dĩ nhiên ấy là một qui luật !

         Nếu bảo rằng mỗi Đức Phật đều có cả thảy ba thân: Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Thân thì nơi đây chúng tôi xin đề nghị: nên xá Đức Thầy mình ba xá là một điều rất tuyệt! Xá như vậy cho dù hiện giờ Thầy mình có hóa thân thị hiện ở đâu thì chúng ta cũng đều có làm lễ đến:

                          "Để cho Thầy đi dạo Ta Bà,

                            Đặng dạy kẻ đàng xa chưa rõ."

         Như thế há không phải chỉ một cái ba xá Thầy thôi mà công năng vô cùng siêu việt!

         Tìm hiểu về ý nghĩa hai bàn tay chấp lại trong khi xá và lạy Phật chúng ta sẽ học hỏi được những điều cao siêu trong Phật pháp nhiều hơn, để rồi từ đó giúp chúng ta thực hành lễ bái một cách cẩn trọng.

         Trong tất cả những Đạo Lý tuyệt vời được thể hiện ở hoa Sen, một điều mà tất cả các loài hoa trên thế gian nầy đều không có như Sen, qua sự ca ngợi ý vị nhiệm mầu trong Phật pháp là "Nhân quả đồng thời diệu" (cây lá hoa đồng thời có một lượt trong Sen). Đó là một đức tính rất đặc biệt. Nếu tách hạt Sen ra để thử nghiệm chúng ta sẽ thấy rõ được điều nầy. Ngay khi Sen kết hạt thì cây lá hoa đều đã tồn tại một cách đầy đủ trong ấy. Sự trưởng thành của hoa Sen sau nầy cũng chỉ là tất cả những gì đã được tích tụ sẵn mầm móng trong hạt Sen. Đó là ý nghĩa của Phật tính. Khi chúng ta chấp hai tay lại hình hoa Sen búp rồi đưa lên ngực là chúng ta phải hiểu rằng Phật tính trong lòng chúng ta được nở ra, bắt đầu khởi sự tu tập cho những người biết giác ngộ. Phật tính vốn sẵn có đầy đủ nơi mỗi chúng sanh cũng như hoa Sen kia vốn sẵn đầy đủ cây lá cành khi còn nằm trong hạt vậy. Sự thành Phật giải thoát sau nầy cũng chỉ là Phật Tính trong mình được hiển bày.

         Khi ngắm nhìn cái tướng cúng bái nơi ngôi Thông Thiên, chúng ta không khỏi đưa ra cho mình những câu thắc mắc. Không những bốn phương đều cũng chỉ nguyện y hệt một bài Tây Phương mà khi chúng ta chuyển hướng xoay còn lại xoay theo một chiều rất lạ. Thay vì ngay nơi hướng chánh là bàn Thông Thiên sau khi nguyện xong chúng ta sẽ xoay sang bên trái hoặc bên phải ở hướng kế bên theo góc 90 độ cho nó tiện, đằng nầy Đức Thầy bảo chúng ta phải xoay một vòng 180 độ ra sau lưng, xong rồi lại tiếp tục sang hướng trái kế bên rồi lại xoay thêm một vòng 180 độ nữa. Ấy vậy không phải một điều rất lạ thì là ý nghĩa thế nào?

         Bàn Thông Thiên là chỗ cất bước cho chúng ta hành trình tiến sâu vào vùng Tâm Linh huyền bí.

         Bắt đầu bước chân vào thời cúng lạy Đức Thầy đã dạy chúng ta một cách rất tận tường:

                                  "Xả thân tầm Đạo vô vi,

                          Nhiệm mầu thâm diệu nan tri Lão bày.

                                   Cầm hương chấp lại hai tay,

                          Đưa lên trên trán nguyện bài qui y."

         Nơi ngôi Thông Thiên là chỗ của cảnh giới Vô Vi. Tự thân đã vốn không còn tồn tại bất kỳ một hình tướng nào thì chúng ta cũng đủ biết tất cả những gì có mặt nơi đây từ cách thức cúng nguyện cho đến các cách chuyển xoay thảy thảy cũng đều phải mang những ý nghĩa cao sâu vi diệu. Nếu quan sát kỹ chúng ta sẽ thấy được những Đạo Lý thâm mầu.

         Ngay nơi hướng chánh là bàn Thông Thiên đại diện cho hướng Tây mà mình xoay thẳng ra sau lưng một cái chính là một đường gạch thẳng đứng. Từ bên phương trái chúng ta lại xoay một lần thẳng ra sau lưng nữa chính là một đường gạch nằm ngang. Đem một gạch đứng ghép lại cùng với một gạch ngang chúng ta sẽ có hình dấu cộng mà theo hình ảnh chữ Hán đó chính là chữ Thập . Ngoài cái nghĩa bình thường chữ Thập là con số Mười, theo Dịch Lý chữ Thập mang một ý nghĩa rất tuyệt vời là hình ảnh của Chân Tướng Vũ Trụ. Bốn cái cạnh chìa ra ở bốn bên của nó là nghĩa của bốn phương Đông Tây Nam Bắc, còn những lần khoảng trống theo bên bốn cạnh là đầy đủ cả tám phương: Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc. Mình sẽ lấy thêm ra một điểm ở chính giữa là chỗ giao nhau của chữ Thập làm chỗ trung tâm để chúng ta có được thêm hai phương Thượng Hạ nữa, thế là mười phương đã đủ. Thế vậy là ta đã có chữ Thập là nghĩa của mười phương. Tới đây ta mới thấy được tầm quan trọng khi bước ra ngôi Thông Thiên vào thời lễ bái. Nhiều người vẫn còn bê trễ hay giải đãi công phu có lẽ tại vì họ chưa lãnh ngộ đầy đủ chân giá trị ý nghĩa cao sâu của nó. Đọc lại lời Đức Thầy diễn dịch trong “Mấy câu chú thường niệm” của kinh văn ta mới thấy lòng mình an lạc Vô Vi như được bước chân vào cảnh giới Hoa Nghiêm cơ mầu vi diệu:

                          "Sự lạy Phật vốn không, yên tĩnh,

                            Đạo cảm giao khó tính khôn bàn.

                            Nay tôi ở trong Đạo tràng,

                            Cũng như kết chặt vào đoàn ngọc châu.

                            Mười phương Phật hiện bầu hình ảnh,

                            Có bóng tôi cũng sánh các Ngài.

                            Từ chân cho chí mặt mày,

                            Cúi đầu làm lễ nguyện rày qui y."

         Tuyệt quá, khi chúng ta đọc đến câu "Nay tôi ở trong Đạo tràng, Cũng như kết chặt vào đoàn ngọc châu... có bóng tôi cũng sánh các Ngài." Đại danh từ tôi để chỉ cho người đang đứng trong cảnh giới vô vi của sự lễ bái, nó được lập đi lập lại hai lần là để khẳng định sự có mặt tương đồng bình đẳng giữa Phật và chúng ta. Khi ấy ta không còn sự phân biệt nào mà ngần ngại khi xưng là "Tôi" với chư Phật. Giữa Ngài và ta không còn cao hay thấp nữa, cả hai đều chỉ có một Chân Như sáng suốt nhiệm mầu. Trong Đạo tràng rộng lớn bao la của mười phương chư Phật, Ngài là một viên chuỗi ngọc, ta cũng là một hạt minh châu. Ngài tròn trịa một viên ta cũng tròn trịa một viên như nhau không khác. Những ai đã tu tập vào cảnh giới nầy rồi thì mọi vật trong tâm hồn của họ đều là Đạo. Từ bước đi bước đứng, cử chỉ hay ngôn ngữ mọi điều, tất cả đều không ngoài một Chân Tâm. Do vậy, chúng ta mới hiểu vì sao cả bốn phương Đức Thầy đều dạy ta chỉ nguyện một bài Tây Phương Ngũ Nguyện.

         Tự Tánh Di Đà, Duy Tâm Tịnh Độ là cảnh giới tối cao mà hành giả Niệm Phật cần phải bước vào. Không phải đợi đến khi bỏ xác ta mới có thể về được Tây Phương, mà ngây bây giờ bất kỳ ở đâu lúc nào ta cũng có thể đặt chân lên bờ Tịnh Độ. Vạn vật vạn pháp không ngoài một Chân Tâm vi diệu nầy. Nếu tâm ta đã là Tịnh Độ thì mọi cảnh mọi điều cũng sẽ trở thành Tịnh Độ theo ta "tùy kỳ tâm tịnh tức Phật độ tịnh" là nghĩa như vậy. Đó là chỗ mà Đức Thầy bảo:

                                  "Tu cầu Phật hóa tánh tình,

                          Lưới mê chẳng buộc nhẹ mình tiêu dao."

         Tâm của ta đã là Tịnh Độ thì cho dù Đông, Tây, Nam, Bắc chỗ nào cũng vẫn là Cực Lạc với Đức Phật Di Đà của ta. Ta không cần phải đợi quay sang hướng Tây thì mới hướng đến Đức Phật Di Đà mới được.

         Phật pháp là những gì vừa cao siêu mầu nhiệm nhưng cũng vừa rất linh động và thực tế rõ ràng chứ không phải chỉ nằm trên văn trên chữ. Tu tập mà chúng ta chưa thể áp dụng Đạo lý thực tiễn vào cảnh vào đời thì với ta, Phật pháp vẫn còn là một nghĩa lý chết. Cho nên mặc dầu Chân Tâm của ta không hình không tướng nhưng công năng của nó vẫn Diệu Hữu vô cùng, vạn vật trên đời nó đều có thể phân biệt được rõ ràng mà không hề bị ảnh hưởng bởi vật làm thay đổi tính chất đi. Hiểu được chỗ nầy chúng ta mới đặt được những bước chân cuối cùng trong quá trình đi về Lý Tánh. Nhiều người chưa thấu triệt đã vội dừng lại ở chỗ Không để rồi vô tình đã bị cái Không khô khan bó chặt vào cuộc đời nằm trong trệ định. Đó cũng là một điều đáng tiếc! Kinh văn đã bảo:

                          "Thật tế Lý địa, bất thọ nhất trần.

                            Vạn hạnh môn trung, bất xả nhất pháp."

         Tuy Chân Tánh Thật Tế là không thọ một vật một trần, nhưng chúng ta cũng phải nhớ cái dụng của nó cũng chưa từng bỏ đi một hạnh một pháp. Ấy mới là tròn cái nghĩa của chữ tu, tướng tánh sự lý ta phải dung thông, không có vật gì chúng ta nắm lấy hay lìa bỏ. Là chỗ cuối cùng "Thõng tay vào chợ" của mười bức tranh chăn trâu Thiền Tông. Cũng là chỗ cuối cùng của tướng lễ bái nơi ngôi Thông Thiên khi chúng ta bắt đầu xoay theo chiều chữ Vạn () (1)

         Cứ mỗi lần ra đãnh lễ trước Phật, ở các chùa chiền người ta đều xưng tán những câu:

         "Qui y Phật lưỡng túc Tôn giả, Phước Túc Huệ Túc cố đương tôn ngưỡng."

         (Qui y Phật Ngài là bực lưỡng túc Tôn, Phước Huệ đã tròn đầy là bậc đáng để chúng sanh tôn ngưỡng).

         Vậy, Lưỡng Túc Tôn là cái nghĩa của chữ Vạn, ấy cũng chính là cái tướng lễ bái xoay theo bốn hướng của người tín đồ PGHH ở ngôi Thông Thiên. Mỗi ngày người tín đồ đều sớm tối thừa hành là để nói lên cái nghĩa bước đi theo con đường cứu cánh viên dung của Đức Phật vậy./.

                                                                                      Mai Thanh Tuấn

________________________

(1)  Chữ này trong kinh truyện không có, chỉ trong kinh nhà Phật có thôi. Nhà Phật nói rằng khi Phật giáng sinh trước ngực có hiện ra hình chữ người sau mới biết chữ ấy. Trong bộ Hoa Nghiêm 華嚴 Âm Nghĩa nói rằng: chữ nguyên không có, đến niên hiệu Tràng Thọ thứ hai đời nhà Chu mới chế ra và âm là vạn, nghĩa là muôn đức tốt lành đều họp cả ở đấy. Lại chữ , nguyên tiếng Phạm là Srivatsalaksana. Các ngài Cưu Ma La Thập 鳩摩羅什 (344-413), Huyền Trang 玄奘 (600-664) dịch là đức , ngài Bồ Ðề Lưu Chi 菩提流支 dịch là vạn . Ở bên Ấn Ðộ 印度 thì tương truyền là cái tướng Cát Tường, dịch là đức là nói về công đức, dịch là vạn là nói về công đức đầy đủ. Song nguyên là hình tướng chứ không phải chữ, cho nên dịch là Cát-Tường Hải-Vân-tướng mà theo hình xoay về bên hữu là phải hơn. Vì xem như nhiễu Phật thì nhiễu về bên hữu, hào quang của Phật ở khoảng lông mày phóng ra cũng xoay về bên hữu, thì biết xoay về bên hữu mới là tướng Cát Tường, có chỗ làm xoay về bên tả là lầm. (theo Tự Điển Thiều Chửu)


Comments