9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 22‎ > ‎

20. Mộng và Thực - Trần Văn Lợi

MỘNG và THỰC

                                                                                         Trần Văn Lợi

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN số 22

 
         Mộng và thực là hai điều dường như đối với tôi chỉ là trù tượng, biết đâu là mộng và biết đâu là thực. Tôi phân vân giữa cõi đời này tìm đâu ra thực và hiểu đâu ra mộng, lần lần khi phát tâm giác ngộ tu hành được sự chỉ dạy của các chú lớn và nghiên cứu Sấm giảng Đức Thầy tôi cũng chỉ có cái hiểu chung chung: Mộng là không thiệt, vậy cái gì không thiệt vẫn là câu hỏi lớn của tôi.

         Tôi sống trong tình cảm thương yêu của ba má, tôi được sự cưng chiều vì tôi là út, những sự chấp ngã ấy tôi không hiểu ra vạn cảnh vốn là mộng, ngày má tôi qua đời tôi hiểu được giá trị của cuộc sống và tình thiêng liêng của má, lần đầu tiên tôi thấy má mình nằm bất động với một miếng vải đỏ phủ trên mặt tôi nhớ ngay câu giảng của Đức Thầy:

             “Biết được trần gian là mộng huyễn

               Tử thần sửa soạn kéo vào quan”

                                        (Tỉnh Bạn Trần Gian)

         Tôi chợt hỏi nơi mình đây có phải là mộng, cái chết của má đồng nghĩa với bao tình cảm được chấm dứt thì cái xác bất động của má là mộng hay những người đang đứng xung quanh cùng cõi đời này là mộng. Vậy người như thế nào mới gọi là thiệt?

         Người mà nhìn ra được cõi đời này là mộng theo Ngài Trang Tử là bậc đại giác:

                       “Thả hữu đại giác

                        Nhi hậu chi thử

                        Kỳ đại mộng giả”

         (Chỉ có bậc đại giác tỏ ngộ mới thấy đời là mộng).

         Vậy ta là một phàm phu làm gì ta thấu triệt được nghĩa lý mộng và thực để thoát ra cái cảnh lòng vòng lẩn quẩn ấy. Thôi thì cứ nương vào sự dạy dỗ của Thầy Tổ mà chúng ta lạm bàn về mộng và thực. Xin tất cả hãy lắng dịu cõi lòng chúng ta đọc lại một bài của Tuệ Trung Thượng Sĩ để hiểu rõ mộng và tỉnh mộng:

                “Quan âm lưu thủy

                  Phú quý phù vân

                  Phong hỏa tán thời

                  Lão thiếu thành trần

                  Hồn phách phân sắc thân như mộng

                  Đản nhật dụng khiên trừu ôi lỗi

                  Thường mỗi hí bả tróc lân hư.

                  Mộng trung tạo tác

                  Giác hậu đô vô

                  Mộng trung tác sanh tế sanh thô

                  Giác hậu vô tuyệt tiêm tuyệt hào”

                (Ngày tháng nước chảy

                  Giàu sang như mây trôi

                  Gió lửa tan rồi

                  Trẻ già thành bụi

                  Hồn phách lìa sắc thân như mộng

                  Cuộc mưu sinh con rối kéo lôi.

                  Hằng ngày đùa đưa tay bắt bóng

                  Trong mộng tạo tác thức rồi lại không

                  Trong mộng tạo sanh thô sanh tế

                  Tỉnh giấc rồi không mải tóc kẻ tơ)

Dẫn nhập!

         Tất cả vạn vật ở trên đời hễ có cái nào thấy được, có hình tướng đều phải dính bụi, ai có nghe nói cái hư không dính bụi bao giờ không? Bởi hư không, không có hình tướng thì bụi dựa vào đâu mà bám nên gọi hư không, không bao giờ dính bụi.

         Tâm ta hoàn toàn mãi mai không có vật nào cả, phẳng lặng tợ hư không thì làm sao các phiền não mà có được, bám vào đâu. Sở dĩ phiền não có là do chúng ta đem tâm cố chấp, chính tâm cố chấp ấy mới có hiện tượng, mà hễ có hiện tượng thì phiền não phát sinh, phiền não phát sinh đồng nghĩa với bao cửa tội lỗi đều mở, nên có đúng sai phải quấy thương ghét, rồi chấp lầm ấy là cái thật của ta mãi sống trong vọng động, gây tạo nghiệp bất lành, nhân ấy trùng nhân, quả ấy trùng quả khiến ta chẳng nhận ra đâu là đầu đuôi đúng sai nên gọi là vô minh tăm tối thì không thấy đâu là đúng sai mộng thực.

         Tất cả mọi người đều có nằm mộng, vậy mộng là chiêm bao trong một giấc ngủ, khi ngủ ta thấy tất cả sơn hà đại địa đúng sai phải quấy theo tâm thức mà diễn lại hành động trong đêm mộng ấy y như thật, khi ta hoàn toàn tỉnh thức thì mộng ấy tan ra, ta tìm đâu ra được đêm chiêm bao vừa qua, quả là phù du ảo hóa thế mà trong giấc chiêm bao ấy chẳng nhận ra để phải chịu sự vày vò ảo mộng, khổ sở triền miên.

         Vượt thêm một bậc nữa ta thấy rõ cõi đời ta đang ở nào có thật chi đâu, nó cũng là một giấc mộng mà thôi, một giấc mộng trong khi ngủ là tiểu mộng, còn ta đang hiện giữa cõi đời đầy đủ mà chẳng có cái gì là thật, ngay cả thân ta, vậy thì không mộng là gì! Bạn và tôi tất cả đều không có tự tính của nó, tất cả đều do duyên sanh, tự đến và tự đi, theo duyên mà diệt, nhìn rõ điều này thì chỉ là giấc mộng lớn.

         Người xưa đã từng bảo:

“Sự thế nhược đại mộng

Hồ vi lao kỳ sinh”

(Ở đời như giấc chiêm bao,

Hơi đâu mà cứ lao đao suốt ngày.)

         Ta bình tĩnh lại tự hỏi nơi ta, ta đang sống đây, có mặt đây là mộng hay là thực. Câu hỏi này Trang Tử đã tự hỏi mình, được chép trong Nam Hoa kinh khi Ngài chiêm bao thấy mình hóa thân là bướm. Khi tỉnh dậy, Ngài nghĩ bướm đã hóa ra mình hay mình đã hóa thành bướm.

         (“Tích giả Trang Châu mộng vi hồ điệp, hủ hủ nhiên hồ điệp dã, tự dụ thích chí dữ bất tri châu dã. Nga nhiên giác, tắc ái cừ nhiên Châu dã. Bất tri Châu chi mộng vi hồ điệp dư? Hồ điệp chi mộng vi Châu dư? Châu dữ hồ điệp, tắc hữu phận hĩ”.

         Xưa Trang Châu chiêm bao thấy mình hóa thân là bướm, vui nhận làm bướm, tự thấy thích chí, không còn biết có Châu nữa. Chợt tỉnh giấc, thì lại thấy mình là Châu, không biết Châu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là Châu? Châu và bướm ắt phải có tánh khác nhau).

                                                     (Nam Hoa Kinh: Nguyễn Duy Cần)

         Xét kỹ trong chiêm bao mộng, mà ta sống cũng đang mộng, nhận ra mộng để quyết chí tìm cho mình sự giải thoát ấy là tỉnh thức, đây mới là tỉnh thức chơn thật, nhận rõ bản chất của cái gọi là huyễn hóa. Chính nơi cái huyễn hóa ấy ta thấy được nó mới gọi là tỉnh, tỉnh cũng không phải đi đâu ra khỏi cảnh mộng này, mà ở ngay trong mộng biết được bộ mặt thật của mộng thì có ở mộng bao lâu nữa ta vẫn là người thức, về phần này Ngài Thanh Sĩ đã bảo:

                          “Trong mộng biết là mộng mấy ai,

                            Mộng không nhận biết biết đâu sai.

                            Thường người chỉ mộng trong đêm tối,

                            Có kẻ còn mơ ở giữa ngày.”

Mộng

         Đây là câu hỏi chung tất cả chúng ta, bạn và tôi, ngay cả cảnh vật, núi non, sông biển thì ai là mộng?

         Nếu chúng ta không có mắt, ta có thấy được sơn hà thảo mộc không? Dù ta đang có mắt mà không thấy thì xem như thiên đường màu sắc cũng chỉ là màu đen, thì đây có phải là mộng chăng?

         Nếu ta không có tai nghe thì muôn triệu âm thanh của thiên nhiên và con người cũng đều im lìm lặng lẽ, sự cảm nhận từ tai xem như đã hết thì có phải tai đang mộng chăng?

         Nếu chúng ta không có mũi để ngửi những mùi vị đang có, ta không cảm nhận ra thơm thúi, những hương vị của cuộc đời với thiên nhiên và con người tạo ra thì ta có phải đang mộng không.

         Nếu lưỡi ta chẳng nếm được vị không cảm nhận được ngọt ngon, đắng cay, cái ý nghĩa của cái lưỡi đã mất thì cũng xem như là mộng.

         Nếu ta không có thân để xúc chạm không nhận rõ được mịn láng, nhám nhăn, thân này chẳng có thì có phải là mộng chăng?

         Vạn cảnh ở cõi đời này bởi có là nhờ ngũ quan, nếu khi ngũ quan đã mất hay không còn phân biệt nữa thì ai sẽ là mộng?

         Vậy thì cái mộng trước nhất là cái thân của mình, chính thân mình mộng thì vạn vật hiện hữu ở đời này nào có cái thật. Nên Đức Thầy chúng ta dạy:

                 “Gẫm cuộc thế chẳng qua tuồng mộng ảo,

                   Cuộc tri hoan thường giết khách tài hoa.”

                                                                                                                (Cảm Tác)

         Xét nét cho kỹ từng phương diện nếu lấy tâm người tu mà nhận ta phải kết luận rằng đời là cõi mộng, chính cái mộng là không thật nên Phật gọi vô thường tức không có gì bền chắc lâu dài, tất cả đều phải đi theo định luật để trở về cái không và ta không chấp nhận cái không ấy thì gọi là khổ, ngay bản chất mọi vật đó cùng cái khổ nó cũng chẳng có tự tính, có cái này sinh ra cái kia, cái kia sinh ra cái nọ nên gọi là vô ngã, ấy là tứ pháp ấn.

         Ta hãy trở lại với cái nhìn của người tu Phật ta sẽ nhận rõ rằng cái không thật ấy từ đâu đến, có phải do sự kiến chấp rồi sanh ra có hay không, do cái có này mà bao bụi mờ bám vào, từ đó ta phải nhìn từng hạt bụi và chỗ bám để thấy rằng cả bụi và đồ bị bám cũng chẳng có bằng vô thường hay là mộng để đi vào chỗ nhất chơn.

Trong Cảnh Cách, Tổ Quy Sơn có nói:

                                  “Huyễn trung vật sắc

                                    Tiền tế vô cùng

                                    Hậu tế minh khắc

                                    Xuất thử một bỉ

                                    Thăng trầm bì cực

                                    Vị miễn tam luân

                                    Hà thời hưu tức?

                                    Tham luyến thế gian

                                    Ấm duyên thành chất

                                    Tùng sanh chí lão

                                    Nhất vô sở đắc

                                    Căn bản vô minh

                                    Nhân tư bị hoặc

                                    Quan âm khả tích

                                    Sát na bất trắc

                                    Kim sanh không quá

                                    Lai thế trất tắc

                                    Tùng mê chí mê

                                    Giai nhân lục tặc

                                    Lục đạo vãng hoàn

                                    Tam giới bồ bặc”

                                  (Thân huyễn nhà mộng

                                    Vật sắc trong không

                                    Khoảng trước không cùng

                                    Khoảng sau đâu biết?

                                    Thoát đây chìm kia

                                    Lên xuống cực nhọc

                                    Chưa khỏi ba luân

                                    Bao giờ ngừng được?

                                    Tham luyến thế gian

                                    Ấm duyên thành chất

                                    Từ sanh đến già

                                    Không được gì cả

                                    Căn bản vô minh

                                    Vì nó sai lầm

                                    Thì giờ đáng tiếc

                                    Phút chốc khó lường

                                    Đời này trôi không

                                    Kiếp sau bế tắc

                                    Từ mê đến mê

                                    Toàn vì lục tặc

                                    Qua lại sáu đường

                                    Lăn lóc ba cõi)

         Phải nhận kỹ quyết tu, vượt qua trở ngại lấy tinh tấn làm đầu, thắng các chướng duyên, bằng không thật tâm hành đạo, không phát đại nguyện thoát ly tam giới, e một ngày phải vướng lụy khổ đau.

         Đức Thầy dạy:

                          “Kẻ vô tình chẳng có chí bền,

                            Phải sa ngã theo nơi mộng ảo.”

                                                                                                                (Sa Đéc).

Thực!

         Tức là sự thiệt, cái đúng không bị dời đổi hay mất đi cái tự tính chân thật của nó, các bạn cùng tôi bàn thử xem sau nhé.

  1. Cái mộng là cái hiện có trong đời vạn vật vạn cảnh là giả nên gọi mộng, nhìn ở phần này ta thấy cõi thế với tâm niệm đem ra mà gẫm đều không thật có:

                              “Tâm chánh niệm thường thường suy nghĩ,

                                Vật ở trần như bọt nước làn mây.

                                Thân ta còn rài đó mai đây,

                                Của ấy cũng khi tan khi hiệp.”

                                                                                                           (Quyển Năm)

             Vậy nhờ cái suy nghĩ trên tinh thần thánh niệm, nên ta đã nhận ra và trong kinh Kim Cang Phật cũng bảo:

                                      “Nhất thiết hữu vi pháp

                                        Như mộng huyễn bào ảnh

                                        Như lộ diệt như điện

                                        Ưng tác như thị quán”

             (Tất cả pháp hữu vi như chiêm bao, như bọt nước, bóng, như sương mai, và cũng như làn điện chớp, phải thường quán xét như vậy).

             Vậy quán cũng là suy nghĩ, thì cái suy nghĩ trước nhất của ta, thì đời không thật, từ cái không thật này làm hoàn cảnh tâm niệm ta tìm ra cái thật, cái thật ấy không rời cái giả, đứng về mặt tu tập mà nhìn thì ta cần phải chuyển hóa đời ta trên mọi phương diện để được cái thật. Từ phàm thân mà đổi lấy chơn thân.

             Khi nhận ra cái không thật của đời ta, phải quyết chí hành đạo, một lòng tiến tu đoạn nghiệp, tách khỏi ta bà để cầu sanh Tịnh Độ, ấy là người nhận ra cái mộng, tìm được cái thật.

             Vậy cái thật ấy là cõi Tây Phương nơi thuần vui không khổ, nhưng muốn về cảnh ấy thì ta cần phải buông bỏ cố chấp, quyết tu để thành tựu.

             Đại Sư Liên Trì dạy rằng: “Nguyên tắc yểm ly Ta Bà. Hân cầu Cực Lạc” (Nguyện thì chán bỏ xa lìa Ta Bà, vui mừng cầu về Cực Lạc)

             Nếu vậy cảnh thật ấy phải là cõi an dưỡng, nhân cái mộng mà tìm đạt cái thật.

  2. Cái thực ấy không ngoài cái mộng, cái mộng ấy là thực, lìa cái mộng tất không tìm được cái thực.

             Mọi phiền não hay ảo ảnh cũng chính từ tâm sanh thì ngay đây phải từ tâm diệt, soi phủng mọi bản chất của hạnh phúc khổ đau đều là dụng, thể nó nằm ngoài sự đối đãi ấy, nhân đó ta tìm ra cái thực.

             Xưa nay biết bao người đã nhận ra lẽ thực này, nó chẳng đâu xa, vốn ngay đây mà ngộ nên Đức Lục Tổ nói rằng:

                              “Hà kỳ tự tánh bổn tự thanh tịnh

                                Hà kỳ tự tánh bổn bất sanh diệt

                                Hà kỳ tự tánh bổn tự cựu túc

                                Hà kỳ tự tánh bổn sự động diệu

                                Hà kỳ tự tánh năng sanh vạn pháp”

                              (Chẳng dè tánh mình vốn sẵn thanh tịnh

                               Chẳng dè tánh mình vốn chẳng sanh diệt

                               Chẳng dè tánh mình vốn sẵn đầy đủ

                               Chẳng dè tánh mình vốn chẳng động lay

                               Chẳng dè tánh mình hay sanh muôn pháp)

             Ngài Hư Vân hòa thượng năm 30 tuổi bỗng một hôm Ngài làm rớt bể cái chén, Ngài nhận ra được thế nào là thật nên Ngài ngâm lên bài kệ:

                                      “Lở tay bể chén tôi

                                       Tiếng vang động xa xôi

                                       Hư không tan mất cả

                                       Tâm mê dứt hết rồi”

             Ấy không phải thật là gì? Thật ấy là vô sanh, vô sanh là người thật của mình nên Đức Thầy đã nói:

                                      “Trổi bước tìm cuộc vô sanh,

                              Đến nơi sáng suốt tịnh thanh Niết Bàn.”

                                                                (Những Câu Chú Thường Niệm)

             Ở đây ta hiểu Niết Bàn là một cảnh sống khác với cảnh sống của tâm ta nên gọi là thật.

    Mộng hay thực!

             Hai điều này cũng chưa có thể khẳng định, mà do cái thấy của mọi người, chính sự giác ngộ của tâm nhận ra qua quá trình tu tỉnh cao hay thấp mà thấy được mộng hay thực. Nếu mọi người không kiên trì hành đạo không nhận rõ ra tự thể của cõi đời thì cách sống của thế gian có khác nào người chiêm bao mà trò chuyện trùng hợp.

             Một hôm ghé thăm nhà một người bạn, ông ấy kể rằng: Ở xóm ông có hai bà ngủ chung trên một chiếc chõng vào lúc ban trưa, khi mà mọi người chung quanh còn đang trò chuyện bỗng một lúc hai bà nói chuyện cùng nhau rất ưng ý tưởng đâu còn thức, khi mọi người nhìn kỹ thì vẫn đang ngủ, kêu hai người tỉnh giấc hỏi về cuộc trò chuyện trong khi ngủ, hai người bàng hoàng không biết gì cả. Nghe kể đến đây tôi có cảm tưởng như mình là người đang ngủ và những cái giao tiếp ở cuộc đời chỉ là một sự trùng hợp của nghiệp lực mà thôi chớ nào phải là của ta. Tôi chợt nhớ một câu thơ đâu đó mà tôi đã đọc:

                     “Người đang mộng hay chính tôi đã mộng,

                       Cõi mông lung lãng đãng giữa hư không.”

    Chấp thân mộng!

             Thân ta cũng nằm trong quy luật tự nhiên sanh già bệnh chết, có bệnh chết chi đâu, đã là huyễn hóa thân thì làm sao thật được, chỉ người có cái nhìn sâu sắc đã cảm nhận được điều đó, song biết nó không thật là một chuyện, còn buông nó ra càng khó hơn.

             Có người mãi chấp vào tự thân là yêu quí, dồi mài tích trữ mọi thứ cho nó, ai đụng hay làm tổn hại nó thì nỗi lên sân hận đùng đùng phản đối, và cho ta và của ta, mọi bản chất ở đời chẳng phải ai và của ai, tùy duyên mà sở hữu đến và đi, ta cứ mãi chấp theo ý định riêng của mình thì ta là người khổ đau.

             Nếu bảo thật thân này là của ta, sao ta bảo nó không nghe lời. Thân ơi! Đừng già nhe, già xấu lắm, già không? Đừng bệnh nhe! Bệnh không? Đừng chết nhe! Chết không? Vẫn già vẫn bệnh vẫn chết thì có cái gì là thật thân ta đâu, thế mà ta vẫn cố chấp, tự nhận thân này là thật, rồi mọi cái ở thế gian này thật, tất cả một người như thế, hai người như thế nhẫn, đến nhiều người, muốn sở hữu riêng mình gì đó nên phải trải qua hơn thua tranh giành, chém giết lẫn nhau, cũng bởi chấp thân thật.

             Trong ngũ uẩn, sắc uẩn thuộc về thân mà có thân mới sinh ra các niệm, từ niệm mới chi phối sinh lại thân, nhân đó mà sinh tử luân hồi, đứng về mặt này mà bàn đều do chấp ngã tham đắm yêu thương thân là trọng yếu, nhận thế mới tham đắm các cảnh. Dứt được tham, xem như tự tại, mà cái tham lớn nhất thuộc về thân, ai không muốn mình giàu sang, đẹp sáng, nói chung mọi thứ tốt lành đều phần mình, ấy không phải tham là gì, vậy ngũ uẩn muốn đoạn trước phải nhận ngay tham thân là đầu mối, nhân đó đoạn các thứ tham khác, nên Đức Thầy dạy:

                              “Phá ngũ uẩn rứt lần tham ái,

                                Cội sân si cũng phải tảo trừ.”

                                                                                   (Cho Ông Cò Tàu Hảo)

             Đây là một phương pháp để đối diện với tham chấp để diệt trừ ngũ uẩn, để căn cơ của mọi chúng sanh có thể cảm nhận được mà hành trì.

             Theo kinh bát nhã thì dùng phép quán, quán tự tại Bồ Tát đã phủng được cái không của ngũ uẩn nên thoát khổ, mà hễ thoát khổ thì sống trong tự tại an vui, vui được hiểu nghĩa theo Sấm Giảng là mừng cười một cách thoải mái tự tại giải thoát nên Đức Thầy dạy:

                              “Diệt năm tên được mới mừng cười,

                                Vô pháp tướng mới là thật tướng.”

                                                                                                             (Quyển Tư)

    Chấp Thực!

             Bản chất của thực nó vốn tự nhiên, chẳng cần có gì nó cũng thực, thực ấy là cái thiệt của tâm, tâm ấy là chơn không, làm muôn việc mà không vướn mắc vào bất cứ việc nào ấy là diệu hữu, vẫn hành động như bao người mà cái thấy ấy lúc nào cũng tịnh mới gọi chơn không.

             Chấp vào thực của tâm cho tâm chẳng có gì cả cứ thế mà suy luận sống thật với mình. Không cúng lạy chẳng gìn giới luật, thẳng tay nói về không mà chẳng hành động gì gọi là tu hành, ích mình lợi người, thì chỉ là đầu môi chót lưỡi thì người này là giả chớ nào có thực, người xưa dạy rằng:

                              “Khẩu đầu thuyết đất thiên ban diệu,

                               Cước hạ nan vong nhứt điểm trần.”

                              (Ngoài mồm chỉ lão ngàn lời thánh,

                               Dưới gót chưa ly một chút phàm.)

             Người xưa bảo tri hành hiệp nhất, nói và làm như nhau, đây là cách thể hiện của một người đúng đắng đúng với hành động và lý trí, thì người ta ích ra phải như vậy lời nói lúc nào cũng đi đôi với thực hành thì dù cảnh là mộng cũng có thể hiểu là thực, bởi có làm có công phu hành đạo, nhân mộng chuyển thực, thế thì ta bước thêm bước nữa để thấy cái không khác, không dời đổi chẳng nhơ sạch, tự tính ngàn đời vẫn vậy của tâm thì đây thực là chủ nhơn ông, nhận ra nơi này ta mới sống thực, còn chỉ nói thì ta chấp vào thực.

    Chấp Mộng và Thực!

             Mộng và thực là bản chất tự nhiên của cái gọi là chơn, giả. Phật, chúng sanh thánh phàm, đây là đường để chúng ta dễ phân biệt chớ nào có chơn vọng thánh phàm. Vì chúng sanh tăm tối không nhận ra mới có như vậy, đến khi đạt được lý nhất chơn thì lìa cả hai cái này.

             Trong Tinh Vân Thiền Thoại có câu chuyện để nói lên nghĩa ấy:

             Thiền sư Duy Khoan đang ngồi có một học tăng đến hỏi Ngài:

  • Con chó có Phật tánh không?

  • Có, Ngài đáp.

  • Thiền sư có Phật tánh không?

  • Ta không có.

  • Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh sao riêng Ngài không có?

  • Ta chẳng phải chúng sanh như ông tưởng.

  • Ngài chẳng phải chúng sanh là Phật chăng?

  • Cũng chẳng phải.

  • Thế Ngài là gì?

  • Ta chẳng phải là một cái gì?

             Học tăng cuối cùng hỏi rằng:

  • Thế thì chúng con có thể nhìn thấy tưởng đến được chăng?

  • Chỗ ấy chẳng thể suy nghĩ và tưởng bàn đến được.

             Bởi có chúng sinh mới có Phật, bởi có mê nên mới có ngộ, ấy là đường hướng để chúng sinh nhận để quyết tu, như Thiền sư Duy Khoan đã đến chẳng thể nghĩ bàn thì Phật để làm gì, thì lúc ấy chỉ có ta là ta chớ nào có mộng và thực, nhận rõ điều này ta tự tại an vui, lìa bỏ tất cả cho dù đó là Phật, ta cũng chẳng kiến chấp, mà đã không kiến chấp thì là gì? Nói cách khác chẳng phải chúng sanh? Thì ta là ai?

             Khi tâm ta hoàn toàn không chấp ấy cũng gọi giải mộng, khi đáp lời ông Nguyễn Thanh Tân, Đức Thầy đã nói lên nghĩa này như sau:

                              “Mộng sầu tan giấc hiệp liên đàn,

                                Hai chữ từ bi thẩm nghiệp an.”

    Kết Luận

             Nếu đã là chúng sinh thì còn kẹt vào chỗ thấy biết, hễ còn phân biệt là cái thấy khác nhau, chấp vào ấy mà tham sân si, có như thấy cành hoa đẹp khởi tâm yêu mến là tham, cầm bằng chán ghét chê bai là sân, hoa không thật mà nhìn là thật, khởi tâm mong lung nên gọi là si. Thôi thì cái kiến chấp nhỏ cũng đủ luân hồi, lìa bỏ tất cả, vượt khỏi kiến chấp, ấy mới là cái thấy chánh chơn không sai biệt, một cái thấy không vướn mắc thì đâu có mộng và thực. Kinh Lăng Nghiêm dạy rằng:

             “Nhược ly tiền trần hữu phân biệt tánh tức chơn như tâm” (Xa lìa vọng tưởng cái thấy biết điên đảo mà vẫn có công năng phân biệt đó là thiệt tâm).

             Vậy chúng ta thấy biết tất cả mà không vướng mắc vào tất cả ấy là ta đã thấy.

             Nói gì thì nói, nhưng trước nhất ta phải nhìn cõi đời này là không thật, để ta buông bỏ yên tâm tu tiến.

             Hám Sơn Đại Sư đã dạy:

                              “Nhìn kỹ trong thế gian

                                Như việc trong huyễn mộng

                                Lời dạy của chư Phật

                                Thật không hề vọng dối

                                Nhìn lại nửa đời người

                                Chỉ như trong cảnh mộng

                                Bao phiền não chất chứa

                                Trong tâm tan như khói”

                                                         (Trích “Đường mây qua cõi mộng”)

             Để kết thúc bài này xin tất cả quí bạn hãy bình tâm lại để nhận rõ cõi đời, hầu có sự giác tỉnh sâu sắc về cõi mộng với câu giảng của Đức Tôn Sư:

                                      “Cõi trần đừng đắm ngựa xe,

                     Đeo tuồng mộng huyễn lập lòe sắc hương.”

                                                                                                           (Quyển Năm)

             Nam Mô A Di Đà Phật.

                Trần Văn Lợi


Comments