9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 22‎ > ‎

16. Khuyên ăn chay - Phan Thanh Nhàn

KHUYÊN ĂN CHAY

                                                                    Phan Thanh Nhàn

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN số 22

 
         Trước khi bàn về việc vì sao chúng ta ăn chay, chúng tôi xin trích bài viết của bác sĩ D.P. Atukorale, MD.M.R.C.P "Có phải con người được tạo ra để ăn thịt", do cư sĩ Tâm Diệu chuyển ngữ (Dr.D.P.Atukorale là Bác sĩ  chuyên khoa về tim mạch, hiện là giáo sư Viện Đại Học Colombo ở Tích Lan và là cố vấn Trưởng khoa Tim Mạch Quốc Gia Colombo, Sri Lanka. Bài nầy và các bài nghiên cứu khác về y khoa và dinh dưỡng của ông được đăng trên tập san Y khoa Hiệp Hội Y Khoa Tích Lan và các báo Online Edition of Daily News và Sunday Observer ở Colombo).

         Một số người có nhận thức sai lầm rằng:

         a- Con người tạo ra để ăn thịt, và

         b- Việc ăn thịt là điều cần thiết giúp cho con người được khỏe mạnh.

         Hiện nay có hàng triệu người ăn chay trên thế giới sống lâu và khỏe mạnh hơn người không ăn chay. Riêng tại Hoa Kỳ, thống kê cho biết có chín triệu người ăn chay trong năm 1989 theo Hội North American Vegetarian Society (Christian Science Monitor,4-18-1990 ). Con số người ăn chay nhiều  nhất trên thế giới là Ấn Độ.

         Theo quan điểm của khoa cơ thể và sinh lý học thì cấu trúc của con người không phải để ăn thịt động vật theo các lý do sau đây:

         1- Răng hàm con người giống như loài động vật ăn rau cỏ, thuộc loại bằng, dùng để nhai nghiền thức ăn, không giống như loài động vật ăn thịt có răng nhọn và bén dùng để cắt xé thịt. Có một số người cho rằng sự tồn tại của răng nanh chứng tỏ rằng chúng ta thích hợp với việc ăn thịt. Những con khỉ đột và giống khỉ đầu chó là loài động vật không ăn thịt, răng nanh của chúng được dùng như khí giới để tự vệ, không phải để ăn thịt.

         2- Bàn tay của con người khác với bàn tay (chân) của loài động vật ăn thịt có những móng nhọn vuốt, sắc bén (dùng để chụp mồi bắt thịt).

         3- Dung dịch acid trong dạ dày con người và loài động ăn rau cỏ có nồng độ thấp, thích ứng với việc tiêu hóa các thức ăn rau quả; không giống như loài động vật ăn thịt có nồng độ acid rất cao (độ pH thấp) thích ứng cho sự tiêu hóa nhanh chất thịt.

         4- Hệ thống ruột của con người và loài động vật ăn rau quả rất dài nhằm thích hợp với sự tiêu hóa hoàn toàn loại thực phẩm rau đậu. Trái lại, loài động vật ăn thịt như cọp và sư tử có đường ruột rất ngắn cho phép bài tiết nhanh chóng những chất thải sẽ không được bài tiết ra ngoài nhanh chóng do đường ruột rất dài, vì thế sẽ gây nên nhiều chứng bệnh liên quan đến bộ phận tiêu hóa như ung thư biểu bì, ung thư ruột, thường thấy rất phổ thông trong số những người không ăn chay.

         5- Những người ăn chay và loài động vật ăn rau quả ra mồ hôi làm mát cơ thể, không giống như loài động vật ăn thịt phải thở mạnh (thở hổn hển) để làm mát cơ thể.

         6- Loài người uống từng hớp nước, không giống như loài thú ăn thịt liếm nước bằng lưỡi.

         7- Những người ăn chay và loài động vật ăn rau quả đáp ứng được nhu cầu Vitamin C từ nguồn dinh dưỡng chay. Tất cả loài động vật ăn thịt tự tạo ra Vitamin C cho chúng.

         8- Con người giống như loài động vật ăn rau quả có bàn tay nắm lại được và xử dụng khéo léo không giống như loài ăn thịt, không có bàn tay khéo léo.

         9- Loài động vật ăn thịt thường bài tiết ra ngoài các chất thải rất hôi thối, so với loài động vật ăn rau quả, các chất thải ít hôi thối hơn.

         10- Những người ăn chay và loài động vật ăn rau cỏ không nuốt chửng thức ăn, khác với loài ăn thịt nuốt gọn thực phẩm.

         11- Phần lớn những người ăn chay thích ngọt, không giống như loài động vật ăn thịt ưa thích ăn thực phẩm chất béo.

         12- Loài người có bộ óc lớn hơn, có khả năng hành động một cách hợp lý, trong khi đó loài động vật ăn thịt tỏ ra ít khả năng cư xử thích ứng.

         13- Những người ăn chay thường ít bị ung thư đường ruột, buồng trứng và tinh hoàn so sánh với người ăn thịt. Họ cũng ít bị các chứng bịnh kinh niên khác như cao áp huyết, tiểu đường, sạn mật, mập phì và các chứng tâm thần như nghiện rượu…

         14- Bệnh tim mạch là chứng bệnh gây chết người nhiều nhất ở Tích Lan và các quốc gia đã và đang phát triển, không mấy phổ thông trong số những người ăn chay, vì thực phẩm chay không có chất cholesterol, trái với thịt có nhiều cholesterol. Chế độ dinh dưỡng chay thường có loại chất béo không bão hòa giúp hạ lượng cholesterol, trái với chất béo bão hòa chứa trong thịt thường làm gia tăng lượng cholesterol trong máu. Theo sự hiểu biết thông thường thì lượng cholesterol cao gây nguy hiểm đến chứng bịnh tim mạch.

         15- Tiêu thụ thực phẩm rau, quả, ngũ cốc và hạt đậu chứa đầy đủ chất đạm, chất béo, chất khoáng, chất carbohydrates, fibre và vitamins cần thiết, là điều ưu tiên của chúng ta nhằm bảo vệ lâu dài sức khỏe và sống đời an vui cùng ngăn ngừa các căn bệnh kinh niên như bệnh tim, cao áp huyết, đột quỵ, tiểu đường và ung thư, thường hay xảy ra nơi những người ăn thịt.

         Vì thế con người được tạo ra là để trở thành người ăn các loại thực phẩm có nguồn từ thực vật.

         (Nguyên tác bằng Anh ngữ: Is man created to eat meat? By Dr. D. P. Atukorale, MD).

                                                                 *

                                                               *  *

         Chữ “ăn mặn” xuất xứ từ chữ “ăn mạng” mà ra. Sau nầy “ăn mạng” người ta quen nói riết thành ra ăn mặn cho dễ nghe. Thật ra ăn mặn tức là ăn mạng, nghĩa là ăn mạng con nầy, con kia, như thịt cá, đồ biển v. v…Nhà Phật khuyên đừng nên ăn mặn; chúng ta nên hiểu là đừng nên ăn mạng, chứ không phải là đừng nên ăn vị mặn.

         Trong kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Ăn thịt có thể tăng lòng ham muốn, người ăn thịt có tánh tham…Với bản năng bảo vệ và quý trọng thân mạng, không có sự khác biệt giữa người và súc vật… Mỗi chúng sanh đều tự mình sợ chết, làm sao có thể ăn thịt chúng sanh khác? Muốn ăn thịt, trước tiên phải nghĩ đến sự đau khổ của thân thể, rồi nghĩ đến sự đau khổ của mọi chúng sanh thì không thể ăn thịt”.

         “Nầy Đại Huệ, ở đời vị lai sẽ có một số người vô minh nói rằng nhiều giới luật Phật Giáo cho phép ăn thịt. Họ rất thích mùi vị thịt do thói quen ăn thịt trong quá khứ, họ nói những lời đó chỉ đơn giản theo quan điểm của họ. Nhưng thật ra Phật (Bậc khai ngộ) và Thánh không bao giờ nói thịt là thức ăn”.

         “Hiện nay trong kinh Lăng Già nầy, ta nói, vào mọi lúc, mọi loại thịt không được ăn, không ngoại lệ. Nầy Đại Huệ, ta cấm ăn thịt không phải chỉ một lúc, ý ta nói là trong hiện tại lẫn vị lai, ăn thịt bị cấm”.

         “Người ăn thịt có vô số tội lỗi, như vậy người ăn chay có vô lượng công đức”.

         Trong kinh Đại Niết Bàn, Tôn Giả Ca Diếp hỏi Đức Phật rằng: “Sao hồi trước Ngài cho phép Tỳ Kheo ăn “ba loại tịnh nhục” hoặc ngay cả “chín loại tịnh nhục?”. Đức Phật trả lời: “Ta định chế như thế vì sự cần thiết vào lúc đó, và để dẫn độ dần dần cho tới khi họ thật sự bỏ được thịt”.

         Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy: “Ai cũng sợ hình phạt, ai cũng sợ chết. Lấy lòng mình mà suy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết”.

         “Người sát hại sinh linh, đâu gọi là Hiền thánh. Không hại mọi hữu tình, mới gọi là Hiền thánh”.

         Chuyện Bên Thầy, dẫn chứng câu chuyện “Tu tiến chớ tu lùi” nói về ăn chay: “Lúc Đức Thầy ở Sài Gòn có hai bà Huỳnh Thị Cưỡng và em thứ tư là Huỳnh Thị Lịnh ở Tòng Sơn. Sau khi được quy y với Đức Thầy, hai bà về nhà cố gắng lo tu thân hành thiện. Hàng ngày thường xem Sấm Giảng của Đức Thầy là quyển kinh nhật tụng, khi đọc đến câu:

                          “Chay bốn bữa ấy là quy tắc,

                            Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng sanh.”

         Thì hai bà bàn tán với nhau. Bà Hai nói với Bà Tư:

         - Dì Tư à! Thầy bảo “Chay bốn bữa ấy là quy tắc”, mà mình ăn chay sáu ngày, lại ăn thêm mỗi năm ba tháng nữa, sợ e trái lời Thầy, có lỗi.

         Bà Tư nói:

         - À! Tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng từ khi chưa quy y mình ăn theo truyền thống của cha mẹ theo Thiền Lâm, bây giờ đã quy y theo Đức Thầy thì phải ăn lại bốn ngày, chứ ăn dư sợ có lỗi quá chị.

         Hai bà ngẫm nghĩ rồi nói:

         - Muốn biết rõ hơn, chị em mình nên đi lên Sài Gòn, trước thăm Đức Thầy, sau nhờ Thầy dạy cho mình biết, coi nên để y hay sửa lại.

         Bàn tán xong, vài ngày sau hai bà đến Sài Gòn. Khi ra mắt Đức Thầy, bà Tư lẹ miệng bạch:

         - Bạch Thầy, chị em con lên thăm Thầy và nhờ Thầy dạy cho chúng con biết một việc. Nguyên trước kia chưa quy y với Thầy, chị em con ăn chay theo Thiền Lâm, một tháng sáu ngày, với ba tháng Tam Nguơn. Nay Thầy dạy ăn bốn ngày, vậy bây giờ chúng con ăn bớt lại hay là ăn luôn, nhờ Thầy chỉ dạy.

         Nét mặt từ bi, Đức Thầy mỉm cười bảo:

         - Thuở nhỏ cô đi học lớp mấy trước nhứt?

         - Dạ Bạch Thầy, đầu tiên con học lớp Năm.

         Đức Thầy hỏi:

         - Rồi sau cô học lớp mấy?

         Bà Tư Bạch Thầy:

         - Năm sau con học lớp Tư.

         Đức Thầy dạy:

         - Ờ! Mới thì học lớp Năm, sau lớp Tư, rồi đến lớp Ba, Nhì, Nhứt. Nên nhớ là càng học càng lên, chớ không ai học xuống bao giờ. Sự tu cũng vậy, các cô ăn mỗi tháng sáu ngày, một năm ba tháng là tốt lắm, cớ sao đổi ăn bớt lại? Sở dĩ Thầy dạy chay bốn bữa là nguyên tắc đầu tiên của người sơ học, phải tùy trình độ của họ mà cho họ tập sự theo điều kiện tối thiểu. Rồi khi trình độ giác ngộ khá thêm sẽ từ từ tiến, chớ chẳng lẽ ở một chỗ hoài sao? Nên nhớ tu là phải tu lên chớ đừng tu xuống nhé! (Thuật theo lời của cô tu sĩ Lý Mỹ Phước, con gái bà hai Huỳnh Thị Cưỡng).

          Một hôm, ông Cò Tàu Hảo trong câu chuyện đàm luận đạo đức với Đức Thầy, ông nói:

         - Tôi thấy pháp môn của Ngài dạy tu giải thoát, còn bên Tam Kỳ người ta dạy tu Tiên nhưng ăn chay trường rất nhiều, còn Ngài dạy có bốn ngày sao giải thoát được?

         Đức Thầy trả lời:

         - Mình là người Đạo Phật rồi, sở dĩ tôi dạy tín đồ tôi ăn chay bốn ngày đó là quy tắc, tối thiểu là bốn ngày, rồi tự họ nhận thức cho rõ ràng sẽ tiến lên chứng bốn bực Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, vô số tính đếm. Còn nếu tôi bắt người ta ăn chay trường thì người ta làm không nỗi vì họ chưa nhận thức rõ từ chỗ bốn bữa, rồi họ nhận thức được từ từ tiến lên, cái đó mới là kết quả, còn bắt buộc sẽ không có kết quả ông ạ!

         Qua câu chuyện trên, ta thấy các đấng cứu thế bao giờ cũng tùy duyên hóa độ, cũng như đấng cha lành lúc nào cũng phải biết rõ cố tật của con thơ. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngày xưa khi hóa độ đệ tử, trước tiên Ngài cũng dạy cho hàng đệ tử tại gia ăn chay mỗi tháng có hai ngày là mùng một và ngày Rằm. Khi trình độ giác ngộ của họ tiến hóa, thì lòng từ bi cũng theo đó mà phát sinh và từ từ ăn sáu hoặc mười ngày, hoặc trường chay. Đó là diệu dụng của bậc Đại Giác thường hành tới phương diện giác tha về điểm nầy.

         Chúng ta có phước duyên được gặp chân lý siêu mầu của Thầy Tổ, nên cố gắng tu tiến chớ tu lùi.

NHỮNG LÝ DO KHUYÊN ĂN CHAY

         1/- Ăn mặn ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe. Theo thống kê cho biết tỉ lệ người ăn mặn bị bịnh nhiều hơn so với người ăn chay. Ngày nay người ta thường dùng hóa chất truyền vào cơ thể của con vật cho chúng mau tăng trọng lượng và tăng sản lượng. Chúng ta ăn thịt những con vật đó chẳng khác nào ta ăn độc tố hóa chất. Trong môi trường chăn nuôi không tốt cũng như con vật bị giết thường tiết ra độc tố mang nhiều chứng bịnh; như thời gian gần đây dịch cúm heo, cúm gà mà khi con người ăn thịt những con vật đó cũng sẽ bị bịnh hoặc cơ thể chứa những chất độc. Cá bị nhiễm chất chì, độc tố trong nước. Chim bị ảnh hưởng khí thải cũng như chất độc trong không khí. Nhiều thông tin gần đây cho chúng ta thấy cá chết nổi lên mặt nước, chim chết nhiều rơi xuống mặt đất.

         2/- Đức Phật là bậc Đại Trí Huệ biết rõ mọi thứ trong vũ trụ nên cho chúng ta biết về luật Nhơn Quả của vũ trụ để sống cho đúng theo lý Nhơn quả. Đức Phật khám phá ra luật Nhơn Quả của vũ trụ chớ không phải Ngài chế ra. Ở đây chúng tôi muốn đề cập đến nhơn quả trong ăn thịt mà thôi. Trong kinh Phật dạy: “Người chết tái sinh làm dê; dê chết tái sinh làm người”. Do nhơn quả, mình ăn mạng con nào đó thì nữa nó cũng ăn mạng mình lại hoặc nó khiến mình mang bịnh tật. Những tai họa chiến tranh, giặc cướp, lụt lội, hạn hán, tật bịnh liên miên đều do sát sinh mà ra. Những con vật mà mình ăn thịt chúng, mình tạo oan gia trái chủ với chúng; chúng theo mình khiến mình bị bịnh nầy bịnh nọ. Khi cơ thể mình yếu hoặc lúc sắp lâm chung, chúng nó có cơ hội trả thù làm cho mình đau đớn vô cùng. Sắp lâm chung mà đau đớn dễ nổi sân thì dễ rơi vào đường tái sanh xấu. Cũng có thể chúng sẽ báo oán mình ở những kiếp sau, làm mình phải trầm luân trong nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như làm con báo oán, làm kẻ thù hại mình, làm cho mình phải khổ sở trong cuộc sống. Thế nên mình không nên ăn thịt để tránh quả báo giết hại, đồng thời tạo oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp.

         3/- Không ăn thịt là tôn trọng sự sống của muôn loài. Chúng ta đừng nghĩ con vật vô tri, vô giác. Nó cũng ham sống sợ chết như con người. Để ý một chút, khi chúng ta bắt con vật nào, chúng cũng biết dẫy dụa tìm cách thoát khỏi, cũng như chúng cũng biết tỏ vẻ buồn hoặc chảy nước mắt khi ta sắp giết chúng. Hoặc khi chúng ta đánh đập con vật nào, chúng cũng biết kêu la, không khác gì con người. Chúng ta nên đối diện với lương tâm khi chứng kiến cảnh đánh đập hay giết hại con vật. Đừng nghĩ người ăn thịt con vật và người giết con vật không có gì liên quan với nhau. Nếu không có người ăn thịt thì không có người giết con vật. Con vật cũng có tình cảm, biết vui, buồn, chúng cũng có cha mẹ, anh em như con người, chỉ có điều dưới hình dạng khác. Con vật cũng biết buồn khổ, khi cha mẹ hay đồng loại của nó bị giết. Vì những lý do đó, chúng ta không nên ăn thịt.

         4/- Đức Phật là bậc đã Giác ngộ viên mãn. Ngài thấy chúng sanh, sanh tử luân hồi, thay hình đổi dạng, có khi sanh vào cõi trời, người, A-tu-la; có khi làm ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. Trong quá trình sinh tử luân hồi, chúng ta có không biết bao nhiêu cha mẹ, vợ chồng, con cái, quyến thuộc từ đời nầy sang đời khác. Khi sanh tử luân hồi cũng mang nhiều thân hình khác nhau, có khi sanh lại làm người, có khi sanh lại làm súc sinh… Đâu ai biết được thịt con vật mình ăn lại chính là cha mẹ, chồng vợ, anh em, con cái, quyến thuộc của mình nhiều kiếp trước. Vì lý lẽ đó, chúng ta ăn thịt chẳng khác nào chúng ta ăn người trong gia đình mình, cũng như quyến thuộc mình trong quá khứ.

         Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng nhắc nhở chúng ta phận làm người phải biết thương yêu nhau và giúp đỡ lẫn nhau trong cơn túng khó:

                          “Làng gần chí những Tỉnh xa,

                            Lúc xưa thì cũng ruột rà với nhau.

                            Ngày nay tốt phước sang giàu,

                            Xin thương kẻ khó giúp hào một khi.”

         Với cùng ý nghĩa thương người thì cũng thương loài vật.

         5/- Không ăn thịt, phải ăn chay để trưởng dưỡng tâm từ bi. Dù cho chúng ta là người theo đạo Phật hay không theo đạo Phật cũng cần phải trưởng dưỡng tâm từ bi. Theo nhà Phật, Từ là ban vui, Bi là cứu khổ. Nếu chúng ta ăn chay, không ăn thịt, có nghĩa là chúng ta đang ban vui, cứu khổ cho những con vật. Ta ban vui cho con vật là không làm cho nó sợ, bắt giữ chúng nó. Cứu khổ là không đánh dập, hành hạ, giết hại chúng nó.

         Chúng ta đừng vì lợi riêng của mình hay của nhiều người mà bắt giữ con vật, giết hại chúng nó để phục vụ chúng ta một cách không công bằng. Chúng ta cũng đừng vì ăn miếng thịt mà tiếp tay cho người khác giết những con vật, làm cho chúng phải đau đớn khổ sở, kêu la. Chỉ có dừng lại việc ăn thịt loài vật thì tâm từ bi chúng ta mới mở rộng, chúng ta mới từ bi được với những chúng sanh khác cho dù thân hay sơ khắp mọi nơi. Tâm từ bi là nét đẹp của con người luôn hướng thiện.

         Cổ nhân có câu: “Họa tùng khẩu xuất, bệnh tùng khẩu nhập”, nghĩa là mình mang họa cũng do miệng mình nói lời xấu ác, bệnh xuất phát cũng tại do miệng ăn đồ ăn có chứa độc tố. Mình không ăn thịt, nhiều khi đó là thuốc hay để trị bịnh. Còn mình ăn nhiều thịt, độc tố vô nhiều trong cơ thể, sau một thời gian bị sanh bịnh, rồi uống thuốc vào, nhưng thuốc cũng là con dao hai lưỡi, thuốc trị bịnh nầy xong, bị phản ứng phụ của thuốc lại sanh ra bịnh khác.

         Để biện hộ cho việc ăn thịt của mình, có người dựa vào câu “vật dưỡng nhơn”. Câu nầy nghe ra thật vô lý mà có người tin theo không chịu tìm hiểu sâu xa. Giả như có một người nào đó đi vào rừng gặp hổ, báo… hay lặn xuống biển gặp cá mập, sấu… mà mạnh dạn nói câu “nhơn dưỡng vật”, rồi tự đưa thân xác mình cho chúng ăn tươi nuốt sống không? Sở dĩ chúng nó không ăn thịt mình được là vì mình có trí khôn. Con người dùng trí khôn hoặc dùng sức mạnh hay dùng mưu trí tìm cách bắt giết chúng để ăn thịt, chớ có bao giờ chúng nó nằm yên để mình giết nó đâu.

         Lại cũng có người biện hộ cho hành động ăn thịt của mình không liên quan gì đến vấn đề giết con vật. Tôi ăn thịt chớ tôi đâu có giết hại con vật.  Người giết hại đổ lỗi cho người ăn, nếu anh không ăn thì tôi đâu có giết. Người không sát sanh mà ăn thịt, dù không trực tiếp nhưng cũng gián tiếp trong sát sanh nên cũng bị tội. Giả như mình không ăn thịt thì không có người sát sanh để bán thịt. Vậy người ăn thịt là tòng phạm, kẻ giết là chánh phạm. Nếu cân phân giữa hai người nầy đều có tội như nhau.

         Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Nếu không ai ăn thịt, sẽ không ai giết hại chúng sanh làm thực phẩm. Sát sanh là vì người mua, do đó người mua cũng giống như người giết. Do đó ăn thịt có thể ngăn trở Thánh Đạo”.

         Hiện nay việc ăn chay không chỉ có mặt trong cộng đồng Phật Giáo mà còn có mặt ở khắp mọi nơi không phân biệt tôn giáo và sắc tộc. Lý do ăn chay nầy vì muốn tôn trọng sự sống, không gây tổn thương đến mạng sống của loài vật hữu tình và làm giảm bớt đi những nỗi thống khổ đau đớn, chết chóc mà con người với trí khôn đã gây ra cho chúng.

         Ở Hoa Kỳ có tổ chức bảo vệ súc vật PETA, mục đích của hội là bảo vệ loài vật tránh sự ngược đãi, bạo hành của con người. Các thành viên của hội nầy tình nguyện ủng hộ tiền của, nhân lực và tự nguyện ăn chay vì lý tưởng của tổ chức. Họ cảm nhận được nỗi khổ đau của con vật, không thể nào ăn thịt chúng khi thấy chúng giẫy dụa trên các dây chuyền xẻ thịt biến chế thực phẩm.

         Dr. Jerome Bernard Pellet, bác sĩ người Pháp, chuyên đi thuyết trình kêu gọi mọi người ăn chay. Khi được hỏi “Ông là một bác sĩ, vậy vì lý do gì mà ông ăn chay?”

         Ông trịnh trọng trả lời như sau: “Ông, bà biết không, gia đình cha mẹ tôi làm nghề chăn nuôi súc vật để giết lấy thịt. Tôi đã thấy quá nhiều máu chảy và sự đau đớn. Tôi không còn ăn thịt được nữa”.

         Một trường hợp khác, thi hào Pháp Alphonse de Lamartine thế kỷ 19, ăn chay từ khi còn nhỏ, một hôm “…theo mẹ đi ngang một lò sát sinh, ông thấy máu chảy lênh láng ra đến tận đường đi, mùi tử khí và mùi máu hôi tanh không chịu nỗi. Khi về đến nhà, ông xin mẹ được ăn chay” (Đi nghe buổi thuyết trình về ăn chay của Bác sĩ Jerome Bernard Pellet của Hoàng Phong).

         Như vậy, có một tầng lớp ăn chay vì lòng từ bi của họ đối với loài vật hữu tình. Họ tin tưởng vào vật cũng có quyền sống và được đối xử như con người. Loài vật không phải là thức ăn cho con người. Loài vật cũng có bản năng ham sống sợ chết như con người. Một khi làm chúng bị tổn thương hay bị giết hại, chúng sinh khởi sợ hãi, phẫn nộ, oán hận, chống trả, có khác chi loài người giết hại lẫn nhau, đôi bên sẽ gây oán kết thù rồi mưu hại lẫn nhau đời đời kiếp kiếp chừng nào mới thôi./.

                                                                     PHAN THANH NHÀN


Comments