9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 22‎ > ‎

13. Đạo PGHH trong lịch-sử - Trần Gia Phụng


ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO

TRONG LỊCH SỬ

                                                                                         Trần Gia Phụng

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN số 22

 
Kính thưa Ban Trị sự Trung ương PGHH

Kính thưa các bậc Trưởng thượng,

Thưa quý vị Quan khách,

         Trước hết tôi xin cảm ơn Ban Tổ chức Đại lễ năm thứ 74 Ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng nền đạo Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH) đã tạo điều kiện cho tôi phát biểu về đề tài ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO TRONG LỊCH SỬ.  Phần trình bày của tôi giới hạn trong vòng 15 phút, gồm ba phần: Đạo Phật vào Nam, Sự khai sáng đạo PGHH, và PGHH trong lịch sử.

1.-  ĐẠO PHẬT VÀO NAM

         Khi chiến tranh giữa hai họ Trịnh và họ Nguyễn xảy ra vào thế kỷ 17, các chúa Trịnh tuy lấn quyền vua Lê nhưng vẫn tôn vua Lê làm vì để giành lấy chính nghĩa.  Các chúa Nguyễn chống lại chúa Trịnh nên chẳng đặng đừng lâm vào thế chống lại vua Lê.  Vì vậy, chế độ các chúa Nguyễn ở Đàng Trong không thể dựa trên ý thức hệ Nho giáo là một triết lý chính trị hậu thuẫn cho nền quân chủ.  Các chúa Nguyễn liền dựa trở lại trên ý thức hệ Phật giáo như các thời Lý Trần trước kia.  Các chúa Nguyễn cho dựng chùa nhiều nơi ở Đàng Trong.  Thậm chí có vị chúa Nguyễn lấy tên là Sãi Vương (cầm quyền 1613-1635) tức vua thầy chùa, ăn bận theo lối tăng sĩ Phật giáo.

         Khi vào Nam, người Việt tiếp xúc với người Chiêm Thành (Chăm) và người Chân Lạp (Cao Miên).  Nếu người Việt theo tam giáo Phật, Nho, Lão, thì người Chiêm cũng theo tam giáo là Bà La Môn giáo, Hồi giáo và Phật giáo, và người Chân Lạp đa số theo Phật giáo (Nam tông).  Như thế, giữa người Việt và người Chiêm, người Chân Lạp cùng có một mẫu số tâm linh chung là Phật giáo. 

         Phật giáo là tôn giáo không thờ thần và không thờ nhất thần, nên người Việt rất dễ tiếp xúc, hòa đồng và sống chung với những người theo các tôn giáo khác, chứ không phải chỉ riêng với người Chiêm hay người Chân Lạp.  Từ đó, người Việt dần dần tiến xuống phương Nam mà không gặp tranh chấp tôn giáo, và đạo Phật cũng theo người Việt phát triển nhanh về phương Nam.

2.-  SỰ KHAI SÁNG ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO

         Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương:  Khi di dân đi khai canh miền Nam càng ngày càng đông, nhu cầu tâm linh của di dân càng ngày càng quan trọng.  Di dân rất cần một điểm tựa tinh thần để vững tin trên bước đường khai phá.  Trong khi đó, làng mạc mới được tổ chức, chùa chiền ít oi, có nơi chưa được xây dựng.

         Đáp ứng nhu cầu nầy, năm 1851, Đoàn Minh Huyên (1807-1856) dựa trên nền tảng giáo lý nhà Phật, khai sáng tông phái Phật giáo mới là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (Núi qúy hương kỳ diệu) tại làng Long Kiến, Chợ Mới, An Giang.  Ngài chủ trương giản dị hóa nghi thức Phật giáo cho phù hợp với đời sống nông dân, không có tăng sĩ, không xây chùa mà tổ chức khẩn hoang cho nông dân vừa sản xuất, vừa tu học.  Ngài kêu gọi bài trừ mê tín dị đoan, khuyến khích dân chúng luôn luôn đền đáp  TỨ ĐẠI TRỌNG ÂN (bốn ân lớn) là ÂN TỔ TIÊN CHA MẸ, ÂN ĐẤT NƯỚC, ÂN TAM BẢO, ÂN ĐỒNG BÀO VÀ NHÂN LOẠI.  Ngoài tứ đại trọng ân, căn bản đạo Bửu Sơn Kỳ Hương vẫn tu tập theo Phật giáo cổ truyền.  Vì vậy đạo Bửu Sơn Kỳ Hương còn được gọi là Phật Giáo Tứ Ân (PGTÂ).

         Phật Thầy Đoàn Minh Huyên tịch diệt năm 1856 tại chùa Tây An (trên núi Sam, An Giang).  Ngài có 12 đại đệ tử gọi là Thập nhị hiền thủ, trong đó nổi tiếng nhất là Trần Văn Thành và Nguyễn Văn Thới.  Trần Văn Thành thường được gọi là Cố Quản, giữ chức chánh quản cơ, nổi lên chống Pháp ở Láng Linh (An Giang) cuối năm 1872, nhưng thất bại và mất tích năm 1873.  Nguyễn Văn Thới, thường được gọi là Ba Thới, tác giả bộ Kim cổ kỳ quan, chú giải và khai triển giáo lý PGTÂ.  Giai đoạn Ba Thới và bộ Kim cổ kỳ quan có thể được xem là thời kỳ chuyển tiếp từ PGTÂ qua một tông phái mới là PGHH.

         Đạo Phật Giáo Hòa Hảo:  Đạo Phật giáo Hòa Hảo do Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ khai sáng tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang) ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (4-7-1939).  Ngài là con trai đầu của Đức ông Huỳnh Công Bộ và bà Lê Thị Nhậm, một gia đình trung nông.

         Tiếp nối Phật Thầy Đoàn Minh Huyên, Đức thầy Huỳnh Phú Sổ, dựa trên PGTÂ và giáo lý nhà Phật, sáng tác những bài kệ giảng và thuyết pháp , khuyên người cố gắng tu hành để thoát khỏi những tai ương do thời cuộc đưa đến.  Những kệ giảng của Đức Thầy thuần túy bằng tiếng Việt, vừa giản dị, vừa có vần điệu, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ nhớ và dễ lập lại hằng ngày trong đời sống nên rất dễ phổ biến.  Từ năm 1939 đến năm 1942, Đức Thầy đã sáng tác 5 quyển kệ giảng, gồm tổng cộng 3,602 câu thơ.

         Đạo PGHH chủ trương cải cách đạo Phật theo đúng với đời sống thực tế của nông dân, không thành lập cấp tăng lữ, không tổ chức giáo quyền, không tích lũy giáo sản, không chú trọng đến hình thức, không làm chùa nguy nga, không tạc tượng, không đúc chuông, không đốt vàng mã, khuyến kích các nghi lễ giản dị trong việc thờ phụng, cưới hỏi, tang lễ.

3.-  ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO TRONG LỊCH SỬ

         Từ khi thành lập, đạo PGHH trải qua bốn thời kỳ lịch sử:

         Thời Pháp thuộc:  Đạo PGHH càng ngày càng phát triển rộng rãi, khiến nhà cầm quyền Pháp lo ngại.  Pháp giải Đức Huỳnh Phú Sổ từ làng Hòa Hảo về Châu Đốc ngày 18-5-1940 để điều tra, rồi di chuyển Ngài đi Sa Đéc, và về làng Nhơn Nghĩa, rạch Xà No, tỉnh Cần Thơ quản thúc ngày 23-5-1940.  Được tin nầy, tín đồ PGHH tìm đến thăm.  Vì vậy, 3 tháng sau, Pháp an trí Ngài Huỳnh Phú Sổ ở nhà thương điên Chợ Quán, Sài Gòn.  Vẫn chưa yên tâm, Pháp di chuyển Đức Thầy đến Bạc Liêu ngày 5-6-1941.  Do sự can thiệp của quân đội Nhật Bản, Đức Thầy được thả và được đưa về Sài Gòn từ tháng 10-1942.

         Do tình hình chính trị, từ năm 1942, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ bắt đầu dấn thân vào con đường hoạt động chính trị.  Năm 1944, Ngài thành lập Bảo An Đoàn PGHH tại một số tỉnh miền Tây.  Năm 1945, trước những thay đổi chính trị thế giới và Việt Nam, Đức Huỳnh Phú Sổ kiện toàn tổ chức PGHH.

         Về mặt đạo học, Đức Thầy thành lập Ban Trị sự các tỉnh hội PGHH, xuất bản sách Cách tu hiền và sự ăn ở của một người bổn đạo bằng văn xuôi, minh giải về “tứ ân, tam nghiệp, thập ác, bát chánh” trong đạo Phật, và giảng về nghi thức thờ phụng, cúng lạy, tang lễ, hôn nhân... 

         Về mặt chính trị, Đức Thầy lập ra Việt Nam Vận Động Hội để tranh đấu đòi độc lập và thống nhất cho xứ sở.  Có thể nói, từ đây Đức Thầy tham gia tích cực vào cuộc vận động chính trị cho nền tự do dân chủ của đất nước.

         Thời Việt Minh:  Năm 1945, tình hình chính trị thế giới thay đổi.  Đồng minh thắng trận.  Nhật Bản đầu hàng ngày 14-8-1945.  Hồ Chí Minh cùng Việt Minh (VM), mặt trận chính trị ngoại vi của đảng Cộng sản Đông Dương, cướp chính quyền tại Hà Nội ngày 2-9-1945.  Tại Sài Gòn, VM lập Ủy Hành Chánh Nam Bộ Lâm Thời tức Lâm Uỷ Hành Chánh (LUHC) ngày 25-8-1945 và mời Đức Thầy hợp tác.

         Ngày 7-9-1945, Đức Thầy nhận làm cố vấn LUHC của VM, nhưng hai ngày sau (9-9-1945), VM cho người bao vậy bắt Đức Thầy tại văn phòng ở Sài Gòn.  Đức Thầy thoát được.  Để tiếp tục chống Pháp, Đức Thầy thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, gọi tắt là Dân Xã Đảng, rất được dân chúng miền Tây ủng hộ.  Giữa Dân Xã Đảng và VM có nhiều mâu thuẫn và xô xát.

         Ngày 16-4-1947, Bửu Vinh, chi đội trưởng Vệ Quốc Quân và Trần Văn Nguyên, thanh tra chính trị VM ở miền Tây, mời Đức Thầy đến họp để giải quyết xung đột giữa hai bên tại Sa Đéc.  Nhân đó, Đức Thầy bị VM tấn công tại kênh Đốc Vàng Hạ, thôn Tân Phú, Kiến Phong.  Việt Minh đưa Ngài đi mất tích.  Tín đồ PGHH tin rằng Ngài chưa chết...

         Sau khi Đức Huỳnh Phú Sổ mất tích, Đức ông Huỳnh Công Bộ đứng ra lãnh đạo PGHH cả về mặt đời lẫn mặt đạo.  Lực lượng PHH lúc đó vừa chống Pháp, vừa chống VM.  Cũng có khi quân PGHH liên kết với Pháp chống VM.  Lúc đó, lực lượng PGHH do bốn nhân vật chính chỉ huy: 1) Trần Văn Soái (Năm Lửa) ở Cái Vồn, Cần Thơ và Vĩnh Long. 2) Nguyễn Giác Ngộ ở Chợ Mới, An Giang.  3) Lê Quang Vinh (Ba Cụt) ở An Giang và Cần Thơ. 4) Lâm Thành Nguyên ở Châu Đốc và Hà Tiên.

         Thời Việt Nam Cộng Hòa:  Lúc đầu, lực lượng PGHH ủng hộ và tham gia chính phủ Ngô Đình Diệm, nhưng khi ông Diệm ban hành nghị định 41-NV ngày 27-1955 cấm Dân Xã Đảng không được hoạt động thì các nhân vật PGHH trong chính phủ rút lui.  Từ đó, sự rạn nứt giữa chính phủ Diệm và các giáo phái miền Nam càng ngày càng trầm trọng.

         Chính phủ Diệm mở chiến dịch Đinh Tiên Hoàng từ 5-6 đến 29-12-1955, rồi chiến dịch Nguyễn Huệ từ ngày 1-1-1956 để bình định miền Tây.  Ngày 2-3-1956, tướng Trần Văn Soái tuyên bố ra hợp tác với chính phủ.  Ngày 13-4-1956, tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) bị bắt bởi quân đội chính phủ ở Chắc Cà Đao gần Long Xuyên và bị tuyên án tử hình.  Ông bị hành quyết ngày 13-7-1956 ở Cần Thơ.

         Sau khi chính phủ Diệm bị sụp đổ năm 1963, PGHH tái phục hồi hoạt động, bầu lại Hội đồng Trị sư trung ương và các Ban Trị sự địa phương.  Ngày 12-7-1965, Uỷ Ban lãnh Đạo Quốc Gia ban hành Hiến chương chính thức thừa nhận PGHH, và không còn bị ràng buộc theo Dụ số 10 năm 1950.  Từ đó cho đến 1975, các vùng có mặt tín đồ PGHH tương đối yên tĩnh.  Đặc biệt, tỉnh An Giang, địa bàn chính của PGHH, là tỉnh duy nhất trên toàn quốc, hoạt động của du kích cộng sản hoàn toàn bị chận đứng.

         Thời sau năm 1975:  Từ sau ngày 30-4-1975, nhà cầm quyền CSVN giải tán và cấm hoạt động Hội đồng Trung ương và các ban Trị sự địa phương PGHH.  Tổ đình PGHH bị cô lập.  Cộng sản còn bắt giam, tù đày, ngược đãi và giết hại những nhà lãnh đạo PGHH chính thống, kéo dài cho đến ngày nay.  Trong khi đó, CSVN thành lập giáo hội PGHH quốc doanh, đặt dưới sự điều khiển của CS.

         KẾT LUẬN

         Trong dòng lịch sử dân tộc, PGHH xuất hiện đúng lúc theo nhu cầm tâm linh của người dân miền Tây nam Việt Nam.  Hàng triệu nông dân miền Tây đã hưởng ứng đông đảo và PGHH phát triển rất nhanh chóng.  Tuy hệ thống tổ chức đơn giản, không chùa chiền, không tăng sĩ, không nghi lễ xa hoa, PGHH đã đưa cả một hệ thống triết lý cao siêu là đạo Phật đến tận từng gia đình, từng mái nhà và trở thành kim chỉ nam cho đời sống tâm linh cũng như đời sống xã hội cho hàng triệu nông dân miền Tây, để mọi người cùng sống đạo, cùng thực hành đạo pháp và đóng góp xây dựng đất nước.

         Từ khi thành lập, đạo PGHH là tôn giáo gắn liền với lịch sử miền Nam nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung.  Sau năm 1975, đạo PGHH cũng cùng chung số phận với dân tộc Việt Nam.  Hiện nay, xã hội VN dưới chế độ CS đang bị xuống cấp về nhiều mặt trầm trọng hơn bao giờ cả, nhất là về đạo đức.  Chắc chắn chế độ CS có lúc sẽ bị đào thải.  Khi đó, đạo PGHH chẳng những sẽ tái hoạt động mạnh mẽ mà còn sẽ giữ vai trò quan trọng trong việc phục hưng nền văn hóa, luân lý và đạo đức cổ truyền dân tộc.

                                                                     TRẦN GIA PHỤNG

                                                                     (Toronto, 30-6-2013)

 

Cựu Dân Biểu VNCH Nguyễn-Văn-Tiết, Hội Trưởng BTS.TƯHN. Nguyễn-Trung-Hiếu, và Đ/đ Bác-Sĩ Mã-Xái.

Comments