9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 21‎ > ‎

19. Thánh Vương (Phần 2 và hết) - Trần Phú Hữu


THÁNH VƯƠNG

                                                                                        Trần Phú Hữu

(Phần 2 - Tiếp theo phần 1 trong TSTT Số 20).

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 21

 
         Ngày vui đã xế bóng, không nên say mê theo đời giả tạm, nên tìm thầy học Đạo, để ngày lập Hội hưởng nhiều phước lành. Hãy trau thân phận cho tròn trung hiếu. Sau nầy Đức Thầy sẽ thỏa dạ nơi Hội Mây Rồng vì có nhiều đệ tử tu hành đắc đạo thành công:

                 “Ngày vui tươi cũng đà lố bóng,

                  Cớ sao đời còn mãi say sưa.

                  Không tìm Thầy đặng hưởng phước thừa,

                  Ngày lập Hội tay vin nhành quế.

                  Trau thân phận rạng danh hiếu để,

                  Thỏa dạ Thầy nơi chốn mây rồng.

                  Đừng chia lìa Bắc tổ Nam tông,

                  Chỉ biết giống Lạc Hồng Thượng cổ.”

         Ngài khuyên nhơn loại từ gần đến xa, rán tu để sau nầy hưởng muôn ngày tươi đẹp. Lúc ấy có Phật, Thánh, Tiên và Minh Vương ra đời, an bang, định quốc, đất nước và thế giới thái bình. Đạo tôi chúa, thầy trò, cha con, chồng vợ, bạn bè đều tốt đẹp. Phải biết rõ đời nầy sắp xuất Thánh nhân ra đời trị quốc an dân thái bình:

              “Ngỏ lời khuyên nhơn-loại khắp gần xa,

               Rán tu tỉnh hưởng đời chung cực-lạc.

               Trên cửa Phật mùi hương thơm bát ngát,

               Dưới quân thần phụ tử khải hoàn ca.

               Ấy là xong bốn biển hiệp một nhà,

               Không ganh-ghét dứt câu thù hận oán.

               Trên kẻ trí lấy công-bình phân-đoán,

               Dưới vạn dân trăm họ được im-lìm.

               Trẻ với già gìn hai chữ từ-khiêm,

               Không còn thấy loạn-luân nền cang-kỷ.

               Đạo tôi chúa chặt gìn câu chung thỉ,

               Đạo thầy trò khắc cốt với ghi xương.

               Đạo cha con chặt-chẽ chữ miên trường.

               Đao chồng vợ thuận-hòa cho đến thác.

               Biết lễ nghĩa kính yêu cùng cô bác,

               Nội tông cùng ngoại tổ với cậu dì.

               Thêm kính nhường anh chị kẻ cố tri,

               Mắt chẳng thấy lũ gian phi xảo trá.

               Đạo bè bạn bất phân nhơn với ngã,

               Chữ nghĩa tình sắt đá mãi bền gan.

               Trên non Tiên văng-vẳng tiếng phụng-hoàng,

               Phật, Tiên, Thánh an bang cùng định quốc.

               Đời xuất Thánh tỏ bày câu tiêm-tất,

               Rán giữ-gìn kẻo mất giống hiền xưa.

               Những thói hư tật xấu phải răn chừa,

               Sau sẽ thấy người xưa tường tận mặt.

               Ta kể sơ ít điều cho vắn tắt,

               Ước mong đời xét kỹ đặng tu hành.

               Phật từ-bi đặng chữ cao thanh,

               Người lương-thiện hưởng muôn điều hạnh-phúc.”

         Ngài khuyên nên lánh thân ra khỏi cuộc đời, lo việc tu hành, để được thành Tiên, Phật, được gặp Thánh Vương sau nầy:

                 “Lánh thân ra khỏi kẻo mang tai,

                   Tầm nẻo cao siêu đến Phật-đài.

          Bến giác Thần, Tiên mau chực sẵn,

                   Bờ mê phàm tục phải cao bay.

                   Nợ duyên đeo-đắm nơi đời tạm,

                   Kiếp số luân chìm chốn gốc gai.

                   Rày gặp mưa nhuần ân Thánh-Đế,

                   Cam-lồ rưới tắt lửa trần-ai.”

         Lúc Đức Thầy bị người Pháp lưu cư tại nhà thương Chợ Quán năm 1940, Ngài tự nhủ lấy lòng nên ẩn nhẫn chờ hội Mây Rồng cũng chẳng còn xa. Lúc ấy thời vận hanh thông mặc sức tung hoành:

“Thôi thời lòng dặn lấy lòng,

Gẫm đây đến cuộc Mây Rồng chẳng xa.”

         Ngài khuyên nên ghi tâm, chạm dạ câu luân lý Tứ Ân. Khi sấm nổ sẽ thấy được đền vàng của Thánh Vương, nơi vùng Thất sơn núi Cấm:

                          “Câu quân lý Tứ Ân chạm dạ,

                           Nếu chẳng gìn phải đọa đừng than.

                           Chừng nào tiếng nổ sấm vang,

                           Thất sơn lộ vẻ đền vàng báu thay.”

         Ngài khuyên trong bổn đạo, từ gần đến xa, ghi nhớ bổn phận, hành đạo của mình. Nếu không thì xác phàm nầy, không thể sống còn để thấy hội Rồng Mây:

                          “Trong bổn đạo gần xa ghi nhớ,

                            Phải thi hành phận tớ cho xong.

                                Để sau đến việc long đong,

                    Xác thân khó thấy Mây Rồng hội kia.”

         Ngài cho biết, cảnh rừng núi có nhiều loại thú rất lạ. Nó trọng người hiền đức, sát phạt kẻ bất trung, bất hiếu:

                 “Cảnh Núi-Non nhiều thú dị-kỳ.

                  Nó trọng ai hiền-đức nhu-mì,

                   Sát phạt kẻ bội cha phản chúa.”

         Đức Diêm Chúa yêu mến người hiền đức, kính trọng người tu hành. Người hiền lại được gần Vua, coi các nước đến tranh giành châu báu sau nầy:

                 “Đức Diêm Chúa yêu người hiền thảo,

                   Trọng những ai biết niệm Di Đà.

                   Lại được gần Bệ Ngọc Long Xa,

                   Coi chư quốc tranh giành châu báu.”

         Ngài dạy rằng, miền Thất Sơn có rồng phụng xuất hiện chầu Vua và rất quí báu:

                 “Trên Năm Non rồng phụng tốt tươi,

                   Miền Bảy Núi mà sau báu quí.”

         Ngài nhắc lại những lời truyền dạy, trong Sấm Giảng Mười một hồi của Ông Sư Vãi Bán khoai: Minh Vương thương bá tánh vạn dân đang lâm nạn. Ngài cúi đầu lạy Phật cứu trần vì đang bị luật Trời trừng trị những việc làm sai lầm, tội lỗi đã gây ra:

                          “Chúng sanh ngang ngược làm liều,

                 Ngọc Hoàng Ngài muốn xử tiêu cho rồi.

                           Minh Vương khó đứng khôn ngồi,

                 Thảm thương lê thứ mắc hồi gian truân.

                           Trước đền mắt ngọc lụy rưng,

                 Quí yêu bá tánh biết chừng nào nguôi.

                           Làm sao cho dạ được vui,

                 Cúi đầu lạy Phật cầu xin cứu trần.

                           Lời khuyên xưa cũng một lần,

                 Nay mượn xác trần xuống bút ra cơ.”

         Vị Thánh Vương tuổi trẻ, tài cao, đức rộng, hãy rán tìm Ngài và rán tu hành chờ hội ứng thi, phò Thánh chúa:

                 “Nước non náo nức giống nòi Hồng,

                  Gắng chí kiếm tìm chủ nhân ông.

                  Tuổi trẻ đầu xanh khoanh tay rế,

                  Liệu lượng thâm tình tợ biển sông.

                  Thay cảnh đổi lòng nỗi biệt ly,

                  Muốn gặp bảng son với linh kỳ.

                  Noi sức bình sanh quanh nước lửa,

                  Có một ngày chờ hội ứng thi.”

         Các nước vì ham của báu, khi núi nổ lầu đài ngọc ngà châu báu của Vua chúa hiện ra, chúng kéo binh đến tranh giành, qui tụ tại Thất Sơn.

         Ngài khuyên tu để được coi chư quốc tranh giành châu báu và sống còn xem lập Hội:

                              “Phong trần dày dạn gió sương,

                    Chư bang ham báu hùng cường đua tranh.

                          Còn một cuộc chiếu manh giành xé,

                          Khắp hoàn cầu ó ré một nơi.

                          Dòm xem châu ngọc chiều mơi,

                          Sao đời không sớm tách rời cõi mê.

                          Để đến việc thảm thê thê thảm,

                          Mắt phàm trần tường lãm bi ai.

                          Cũng đồng cốt nhục hoài thai,

                          Nên ta rán sức miệt mài dạy khuyên.

                          Thơ với phú Thần Tiên giáng bút,

                          Bởi cơ trời đà thúc bên lưng.

                          Không tu chừng khổ cũng ưng,

                          Tu hành gặp cảnh vui mừng toại thay.”

         Ngài tiên tri cho biết cảnh thảm khổ sẽ đến nay mai nơi đất nước Việt Nam và khắp mọi nơi trên thế giới.

         Ngài khuyên nên lo việc tu hành, noi theo hạnh Trung Hiếu của các bậc tiền nhân, công hầu khanh tướng tận trung báo quốc, trong việc phò Vua giúp nước, nay còn lưu lại miếu thờ tôn nghiêm, khả kính:

                          “Cảnh thảm khổ chiều mai sẽ đến,

                           Sao dân còn tríu-mến trần-mê.

                           Mắt nhìn ngoại quốc thảm-thê,

                           Nam-bang cảnh khổ cũng kề bên tai.

                           Cuộc biến động nay mai nguy ngập,

                           Một hội nầy rán lập thân danh.

                                Kìa kìa các bậc công khanh,

                   Miễu son tạc để đành rành chẳng sai.”

         Đất nước Việt Nam sau nầy thật quí báu, vinh diệu. Nếu làm tròn Tứ Ân, ta sẽ được có tên trên bảng Phong Thần, phò Thánh Chúa:

                          “Đất với nước hậu lai vinh diệu,

                            Đạo lo tròn yểu điệu tấm thân.

                                   Một câu quân lý Tứ Ân,

                     Ta đừng phai lạt Phong Thần bảng ghi.

         Nơi phương Nam, miền Nam nước Việt có nhiều lầu đài, cung điện bằng vàng bạc, ngọc ngà châu báu, để ban thưởng cho người hiền đức trọn trung hiếu.

        Khi Thánh Vương xuất hiện, chúa tôi vui vầy:

                              “Phương Nam rạng ngọc chói lòa,

                 Lưu ly hổ phách mấy tòa đài cung.

                          Dành cho kẻ lòng trung chánh trực,

                          Quân cùng thần náo nức vui tươi,

                               Liên hoa đua nở nụ cười,

                    Rước tôi lương đống chào người chơn tu.”

         Ngài ra đời xưng danh hiệu Điên, nhưng không phải điên thật. Lúc nào Ngài cũng cầu thời đại tốt lành mau đến, cầu Thánh Chúa mau xuất hiện cứu nước, cứu nhân loại trên thế giới, vì đây là bậc Chuyển Luân Thánh Vương ra đời, mấy ngàn năm mới có một lần:

                          “Điên như ta vì Đạo vì dân.

                           Điên tu cầu Quân thánh rải ân,

                           Cho bốn biển dân lành được hưởng.”

         Tuy cảnh rừng núi ngày nay, thấy âm u, mù mịt, nhưng trong ruột núi Cấm có đền đài cung điện của Thánh Vương. Đây là kinh đô Việt Nam sau nầy, để ban thưởng cho người hiền đức:

                          “Rừng lâm cây đá thấy ngày nay,

                           Mà ruột Năm non có các đài.

                           Chờ đợi con hiền noi tục cổ,

                           Tới thời thượng cổ điểu hòa mai.”

         Ngài ước vọng bậc Thánh Minh sớm xuất hiện để ban phước lành cho nhơn loại thoát khỏi cảnh binh đao, khói lửa, chiến tranh, tạo thành thế giới hòa bình, an lạc:

                 “Vọng Thánh Minh đức rạng khắp nhơn loài,

                  Ban phước xuống dân lành cho bớt khổ”.

         Ngài lại mơ ước thời Thượng nguơn sớm trở lại, có Thánh chúa ra đời trị quốc, an dân, đất nước thái bình, dân chúng an cư, lạc nghiệp. Lúc ấy Ngài mới hoàn thành sứ mạng cứu đời:

                           “Ước mơ Thượng cổ hồi qui,

                 Thế trần no ấm phú thi an nhàn.

                            Quân thần phụ tử vinh vang,

                 Hết lo cay đắng Khùng an phận Khùng.”

         Đức Phật Thầy tái kiếp trở lại, cho biết nước Việt Nam sở dĩ chịu khổ đau lâu dài là vì không có lãnh đạo sáng suốt, không có minh quân trị quốc:

                          “Chẳng qua là Nam Việt vô Vương,

                           Nên tai ách xảy ra thảm thiết.”

         Thấy thời thế chiến xảy ra, dân chúng khắp nơi trên thế giới chịu nhiều thống khổ, lòng Phật Tiên bâng khuâng lo lường, luyến tiếc thời thái bình thạnh trị xưa, đời Lý-Trần trên ba trăm năm dân chúng sống trong tinh thần đạo đức, thái bình thạnh trị.

         Nay đời văn minh vật chất, cách mặt Thánh Vương, nền xưa nếp cũ đã thay đổi hết. Nên Ngài cúi đầu lạy Phật, cầu xin cứu trần, độ cho chư quốc, chư hầu tỉnh tâm, đừng gây chinh chiến hại dân, mà trở lại con đường đạo đức tốt đẹp, tầm kiếm Phật Tiên hưởng muôn điều hạnh phúc, trong ngày Thánh Vương xuất hiện:

                           “Liếc nhìn thế giới can qua,

                 Ngàn muôn binh tướng xua ra chiến trường.

                            Dốc lòng tranh bá đồ vương,

                 Đeo câu danh lợi lấp đường nghĩa nhân.

                            Gieo điều tàn khốc cho dân,

                 Khiến lòng tăng sĩ bâng khuâng lo lường.

                            Tiếc thay đạo nghĩa luân thường,

                 Thánh nhơn đã vạch sẵn đường từ xưa.

                            Để cho quân tử lọc lừa,

                 Ở ăn hợp lẽ rán chừa tiểu nhân.

                            Trên vua minh chánh cầm cân,

                 Dưới quan liêm tiết xử phân công bình.

                            Quyền cha quản xuất gia đình,

                 Dạy con phải phép vẹn gìn hiếu trung.

                            Từ ngày cách mặt cửu trùng,

                 Thay đời đổi cách bất tùng Thánh Tiên,

                            Bút lông dẹp với dĩa nghiên,

                 Thế vào bút sắt cùng viên mực tròn.

                            Lần lần thế đạo suy mòn,

                  Nền xưa nếp cũ hỡi còn mấy ai.

                            Nên ta thở vắn than dài,

                 Cúi đầu lạy Phật niệm hoài mấy câu.

                            Dứt trần mang bộ sồng nâu,

                 Trông ngày chư quốc chư hầu tỉnh tâm.

                            Đừng gây chinh chiến ù ầm,

                 Để gây hạnh phúc mà tầm Phật Tiên.”

         Đức Thầy với vai trò ông Tớ, ra đời cứu nước, muốn dụng kinh quyền, nhưng gặp lúc khó khăn, khổ nạn, lại Thánh Vương chưa xuất hiện.

         Ngài mong ngóng gặp mặt rồng, để thi thố tài năng, đem tài thao lược cứu nước đang bị đọa đày mấy mươi năm qua.

         Ngài cầu nguyện Phật Trời sớm mở hội Long Hoa để cho dân Việt theo ân đức sâu dầy của Phật Tiên. Lúc ấy có Thánh Vương ra đời trị quốc, an dân, gây cuộc hòa bình trong sanh chúng.

         Thánh Chúa vững ngai vàng, Ngài mới tròn sứ mạng cứu đời, trở về ngôi vị mới yên:

            “Hỡi ôi ! Trời đất mấy muôn trùng,

             Muốn dụng kinh-quyền đạt hiếu-trung.

             Ngặt nỗi thân phàm vương-vấn nạn,

             Trường thi chưa mở trống chưa thùng.

                                    

             Trống chưa thùng sĩ-tử vẫn chờ trông,

             Mong ngóng mau mau thấy mặt rồng.

             Bảng-hổ danh đề tên chí-sĩ,

             Đem tài thao-lược giúp non-sông.

                                    

             Giúp non-sông trong lúc chịu gian-truân,

             Thảm-lệ tràn tuôn mãi chẳng ngừng.

             Mịt mịt, mờ mờ mưa gió đạn,

             Phong-trần đày-đọa mấy mươi xuân.

                                    

             Mấy mươi xuân vắng chúa, trông hoài,

             Thân gởi nơi người nợ chẳng vay.

             Trời đất lẽ nào không xét đến,

             Để cho dân Việt khổ lâu dài.

                                    

             Khổ lâu dài nay sắp mãn hay chưa,

             Cầu nguyện Phật trời gội móc-mưa.

             Kíp mở Long-Hoa xây máy tạo,

             Cho dân Hồng-Lạc thọ ân thừa.

                                    

             Thọ ân thừa mà được cảnh nhàn-an,

             Trăm họ đầu đê trước Thánh-Hoàng.

             Nguyện giữ cang-thường gìn Phật Đạo,

             Giao-hòa mãi mãi với lân-bang.

                                    

             Với lân-bang sẽ dứt mối thâm thù,

             Trên dưới một lòng chí nguyện tu.

             Chẳng dám trễ-bê đường đạo-đức,

             Đặng mong chẳng vướng cảnh ao-tù.

                                    

             Cảnh ao-tù giờ vẫn phải còn mang,

             Nặng trịu trên đầu héo ruột gan.

             Chí dốc thoát-ly vòng xích-tỏa,

             Cầu trên Thánh-chúa vững ngai vàng.

                                    

             Chúa vững ngai vàng sãi mới yên,

             Rời ngay cảnh tục trở về Tiên.

             Chẳng còn tham-luyến nơi trần-thế,

             Vì cả thế-gian hết não-phiền.”

         Khi Minh Vương chưa ngự trị trên ngai vàng thì nước Việt Nam và thế giới còn khổ hoài. Trong thời gian chờ đợi Chúa tôi sum hiệp, Ngài dạy đạo cứu đời, dạy Tứ ân để phò chúa:

                           “Minh Hoàng chưa ngự đài mây,

                 Gẫm trong thế sự còn đầy gian truân.

                            Đò đưa cứu kẻ trầm luân,

                 Đặng chờ vận đến mới mừng chúa tôi”.

         Nay thời cơ đã đến, Minh Vương sẽ xuất hiện cứu nước:

                           "Thứ nầy đến thứ Minh Vương,

                 Nơi chốn Phật đường mặt ngọc ủ ê.”

         Đến khi nào chúng ta gặp được Thánh Vương mới là hết khổ. Ngài cũng là bậc nhân từ, đầy lòng hiếu thảo như Mạnh Tông:

                           “Chừng nào ta gặp Hớn Hoàng,

                 Chúng sanh mới hết phàn nàn số căn.

                            Mạnh Tông xưa cũng khóc măng,

                 Đất khô nẩy mục rõ lòng hiếu nhi.”

         Khi tứ linh long, lân, qui, phụng xuất hiện, cũng là lúc Ngài ra đời:

                          “Chừng trần gian kiến thấy phụng hoàng,

                           Sè cánh múa chào mừng Phật Thánh.”

         Lập Hội mới biết ai còn mất, mới phân biệt được chánh tà:

                          “Chừng lập Hội biết ai còn mất,

                           Giờ chưa phân chưa biết chánh tà.”

         Khi lầu đài lộ ra nơi núi Cấm vùng Thất sơn thì tới đời, người già hóa trẻ, là nhờ công đức tu hành và xem thấy được Phật Trời lập Hội:

                          “Chừng Bảy núi lầu son lộ vẻ,

                            Thì người già hóa trẻ dân ôi.

                                Tu hành ắt được thảnh thơi,

                     Lại xem được Phật được Trời báu thay.”

         Lập Hội, gặp Thánh Chúa mới khỏe, an vui:

                           “Đến chừng lập Hội mới mong,

                 Trở về Chúa cũ mới hòng xuê xang.”

         Khi Thất sơn lộ lầu đài, chừng ấy mới thấy nhiệm mầu của Phật Thầy, bây giờ nói người đời không tin:

                           “Thất sơn lộ vẻ đài lầu,

                 Chừng ni mới thấy nhiệm mầu của ta.”

         Khi sấm nổ, lầu đài, ngọc ngà, châu báu lộ ra, các nước trên thế giới đến thi công đức, để được hưởng của báu. Nhưng họ thiếu đức, chỉ tạo cảnh tranh giành, thịt rơi, máu đổ, thảm bại đau thương.

         Của báu Phật Trời chỉ để ban thưởng cho người hiền đức:

                           "Sấm vang thi lộ bảng vàng,

                 Chư nhu thế giới khắp tràng tới thi.

                            Chữ thi gần chữ sầu bi,

                 Bị ham của báu ly kỳ máu rơi.

                            Chừng đó mới trời ơi đất hỡi,

                 Mang khổ hình vì bởi chẳng tu.

                            Ham vui quyền quí dại ngu,

                 Chữ sang danh vọng như mù đi đêm.”

         Trước khi lập đời, phải trải qua năm năm sáu tháng cực kỳ khổ đau, vua mới xuất hiện, định quốc an dân bảy năm. Đức Vua lên ngôi, ngự trị nơi cung điện ở Thiên Cẩm sơn:

                          “Năm năm lục ngoạt cơ hàn thử,

                            Non lịch đài mây rạng tu mi.

                            Bảy niên hòa địa nhơn hiền thủ

                            Núi ngự hoàng sang tự Đỉnh Chi.”

         Vì nhơn loại đang thời mạt pháp, đầy khổ nạn. Phật Thầy mở Đạo cứu đời mong ước thế giới sớm được thái bình, để địa cầu được nhàn an.

         Lúc ấy khắp bốn biển đều tôn kính Phật Trời và Thánh Vương:

                          “Mong ước ngày kia được khải hoàn,

                            Địa cầu sanh chúng được nhàn an.

                            Bốn biển một nhà Cha: Phật, Thánh,

                            Thì là dân sự hết tàng ngang.”

         Ông Huỳnh Hiệp Hòa hỏi Đức Thầy chừng nào có hội vua tôi:

                          “Hà môn Giáp tý giáng lâm trần,

                            Đào tạo lương tâm khổ não dân.

                            Xuất hiện mạng chơn phi quyết chiến,

                            Cấu ai trị địa hội quân thần.”

         Đức Thầy đáp họa: năm ẤT (theo thập thiên can) vua tôi trùng phùng. Có phải chăng là năm ẤT MÙI 2015 ???

                          “Tam thiên lục bá giáng lâm trần,

                            Khóc tử lang tâm biến họa dân.

                            Tà quái hạ nguơn khai ác chiến,

                            Ất niên bình thự kiến quân thần.”

         Ngài cho biết còn không lâu nữa, lầu đài sẽ lộ ra nơi núi Cấm. Vì vậy Ngài mới khuyên tu gấp để ngộ Thánh Vương lại thấy được cảnh Tiên, Phật  ở thế gian:

                          “Lầu đài núi Cấm lộ nay mai,

                           Thức tỉnh chúng sanh mới tỏ bày,

                           Khuyên dạy dân tình minh đạo đức,

                           Tu hành được thấy cảnh Bồng Lai.”

         Khi thấy đưọc cơ đồ của Thánh Vương, con người mới hết khổ đau, lo sợ:

                           “Chừng nào thấy được cơ đồ,

                 Nhơn vô viễn lự gia vô nhơn đình.”

         Lúc thấy long, lân, qui, phụng xuất hiện chầu vua, thì Thánh Vương thành tựu được cơ nghiệp vĩ đai, hiển vinh:

                           “Chừng nào thấy được phụng hoàng,

                 Rồng chầu chớp nháng Hớn đàng hiển vinh.”

         Đối với người đời, nếu không giữ được khẩu nghiệp, phạm tội vọng ngữ, thì không toàn thây, khi Hội Long Vân khai mở:

                           “Thế gian chuyện có nói không,

                 Đến Hội Mây Rồng thân chẳng toàn thây.”

         Đức Minh Chúa tài đức song toàn. Ngài được ví như vua Võ Vương trong truyện Phong Thần. Khi Ngài xuất hiện trị vì thiên hạ, kẻ gian ác, buôn dân, bán nước, vong sư phản đạo, bất trung bất hiếu, sẽ bị gươm ba thước xử trị nơi pháp trường, người hiền đức thì được thảnh thơi:

                          “Đức Minh Chúa chẳng ai dám sánh,

                           Xưa mạt Thương phụng gáy non Kỳ.

                           Bởi Võ Vương đáng bực tu mi,

                           Nay trở lại khác nào đời trước.

                           Kẻ gian ác bị gươm ba thước,

                           Nơi pháp trường trị kẻ hung đồ.

                           Được thảnh thơi nhờ chữ Nam mô,

                           Khuyên bổn đạo rán mà trì chí.”

         Đức Thầy rất yêu quí Minh Vương, vì Ngài đầy lòng hiền đức như vua Nghiêu, Thuấn thời cổ xưa:

                          “Ghét bạo chúa là xưa Trụ Kiệt,

                           Mất cơ đồ lại bị lửa thiêu.

                           Thương Minh Vương bắt chước Thuấn Nghiêu,

                           Lòng hiền đức nào ai có biết.”

         Đức Minh Vương ra đời, ngự ở cung điện núi Cấm, nơi kinh đô miền Nam Việt Nam, phân xử kẻ bội cha, phản chúa, đầu cơ tích trữ, hại dân hại nước. Vậy hãy trau dồi trung hiếu, tiết nghĩa:

                          “Đức Minh Vương ngự chốn Nam thành,

                           Đặng phân xử những người bội nghĩa.

                           Trung với hiếu ta nên trau trỉa,

                           Hiền với lương bổn đạo rèn lòng.

                           Thường nguyện cầu siêu độ Tổ tông,

                           Với bá tánh vạn dân vô sự.”

         Đức Thầy với vai trò ông Tớ là ông Cử Đa kể từ khi theo Phật Thầy cứu đời, hay chầu chực kề cận bên Phật Thầy nơi đài mây núi Cấm. Ngài ở non Tần, bên Cao Miên, nay đã về Nam. Ngài là đại Tiên, mà nay nhiều người gặp được.

         Thời nầy trung, nịnh lẫn lộn, sau lọc lại, loại trừ gian nịnh, kẻ trung lương chánh trực mới được phò vua:

                            “Kể từ hầu hạ bên Thầy,

                 Vào ra chầu chực đài mây cũng gần.

                              Tuy là nương dựa non Tần,

                 Ngày sau thế cuộc xoay vần về Nam.

                              Qua sông nhờ được cầu Lam,

                 Tu hành nào đợi chùa am làm gì.

                              Bây giờ bạc lộn với chì,

                 Nửa sau lọc lại vít tì cũng chê.

                              Bớ dân chớ có say mê,

                 Trung lương chánh trực dựa kề đài mây.”

         Kẻ hiền đức sau nầy, được sum vầy với Thánh Vương, mấy ngày vui chơi, ca khúc khải hoàn. Lúc ấy Tam Hoàng xuất hiện, thưởng phạt công minh, chuyển qua đời Thượng Nguơn Thánh Đức.

         Ngài khuyến tu để được sống còn dựa kề vua chúa:

                            “Hiền lành chừng đó sum vầy,

                 Quân thần cọng lạc mấy ngày vui chơi.

                              Đến đó ta mới vui cười,

                 Nhìn xem Ngọc Đế giữa trời định phân.

                              Thiên Hoàng mở cửa Các Lân,

                 Địa Hoàng cũng mở mấy từng ngục môn.

                              Mười cửa xem thấy ghê hồn,

                 Cho trần coi thử có mà hay không.

                              Nhơn Hoàng cũng lấy lẽ công,

                 Cũng đồng trừng trị kẻ lòng tà gian.

                              Ấy là đến lúc xuê xang,

                 Tam Hoàng trở lại là đời Thượng Nguơn.

                              Khuyên dân lòng chớ có sờn,

                 Rán tu thì được xem đờn trên mây.

                              Người hung chết đất chật thây,

                 Nhìn xem bắt thảm ngày rày cho dân.

                              Mấy người còn được xác thân,

                 Thì là Đài Ngọc Các Lân mới kề.”

         Trong bài “Hố Kò Khoan”, Đức Thầy tiết lộ, cuối năm Thìn Ngài sẽ trở về cứu độ chúng sanh, mà Thìn nào, có phải 2012 chăng ??? sau những ngày ẩn dạng, vắng mặt.

         Đám Hố hò khoan vô thần, mắc kế Ngài, như Hạng Võ mắc kế Trương Lương. Lúc chưa tới thời hanh thông, Ngài ẩn dạng nơi thôn hương cho qua đời văn minh vật chất, giả dạng Khùng, Điên.

         Khi Thất sơn tiếng nổ, đã đến thời đại hanh thông, thuận cơ trời. Lúc ấy mười tám nước trên thế giới đến tranh giành của báu, gây cảnh thịt rơi, máu đổ. Ngài và Thánh Vương đứng ra định quốc, an dân, và thâu phục các nước làm chư hầu, tạo được nền hòa bình vĩnh cửu cho vạn quốc, chư bang, lại bất chiến tự nhiên thành, nhờ lòng từ bi sâu rộng ban bủa khắp mọi nơi:

                  “Huỳnh long lộ vĩ; Bạch-sĩ tiên-sanh,

                    Nam-quốc công-khanh; Ra đời cứu-tế;

                    Hò xang xự xế; Mắc kế Trương-Lương,

                    Tự-giác thôn-hương; Qua dương cơ-khí.

                    Lập chí hiền nhơn; Nên mới có cơn,

                    Thất-Sơn tiếng nổ; Qui cổ diệt kim.

                    Cửu cửu y nhiên; Tình riêng tham báu,

                    Đổ máu tuôn rơi; Khùng mới nói chơi,

                    Chư bang hàng phục.

                    Anh hố hò khoan; Tình lang xự xế,

                    Bỏ phế hương-thôn; Ác-đức vô môn.

                    Rồng-Mây hội yến; Ra đời bất chiến,

                    Nổi tiếng từ-bi; Lời lẽ rán ghi.

                    Thành-công êm thắm; Có lắm người yêu.”

         Vào cuối năm Thìn, thời cuộc bắt đầu thay đổi. “Xứ Hà Tiên” lộ cơ trời, xuất hiện cơ quan đặc biệt, linh hiển, lập được hội vua Chúa: Nhơn Hoàng, làm rạng rỡ, vang dội khắp miền Á Đông:

                          “Cuối năm Thìn sẽ lo vận chuyển,

                           Xứ "Hà-tiên" linh hiển cơ-quan.

                           Nhơn sanh sẽ hiệp một đàng.

                           Hết Thìn rồi lập Nhơn-Hoàng hội ra.

                           Khuyên sanh-chúng gần xa phân cạn,

                           Dựng Nhơn-Hoàng cho rạng Á-Đông.

                           Chúng-sanh phải tưởng giống-dòng,

                           Hiệp tâm hiệp trí cột đồng nhà Nam.”

         Trong một giáp lớn, sáu mươi năm, phải để ý đến thời cuộc, biết thiên cơ, biết suy tính tận tường.

         Nay sắp mở trường thi, có Minh Quân xuất thế, chọn người trung hiếu. Đến năm Thân, Dậu đã lộ cơ trời, thế giới trở lại thái bình. Thời kỳ nầy Phật Tiên và Thánh Vương ra đời lập Hội Long Vân, Long Hoa. Hết Hạ nguơn chuyển sang Thượng nguơn, thời Thánh đức, dân chúng hưởng sự thái bình, an cư lạc nghiệp:

            “Trong một giáp ân-cần suy tính,

             Muốn làm hiền rán nhịn đừng than.

                 Đến nay gần buổi khoa tràng,

         Minh-Quân xuất thế khắp tràng thảnh-thơi.

             Đến Thân Dậu cơ trời thấy lộ,

             Hết đao-binh qui cổ diệt kim.

                 Gia vô bế hộ im-lìm,

         Lập thành mối Đạo rõ điềm xưa kia.

             Thì dân-chúng danh bia hậu-thế,

             Phật, Thánh, Tiên kềm chế lập thành.

                 Diệt tà lập chánh đành-rành,

         Ba màu nắm chặt Nam-thành xử-phân.

             Trong tam giáo ân-cần mở Đạo,

             Trường ngoại-bang phục đáo như xưa.

                 Phật Tiên vận-chuyển lọc-lừa,

         Chúng-sanh rán nhớ muối dưa hội nầy.

             Trên cùng dưới sum-vầy một buổi,

             Dựng mười hai may rủi mới hay.

                 Làm cho rõ mặt râu mày,

         Thượng-nguơn hồi-phục là ngày an-cư.

             Cuối Thân Dậu y như Thượng-cổ,

             Thời nhơn-sanh hết khổ đến may.

             Đế-Vương xuất-thế là ngày,

         Dậu, Thân bình-trị trong ngoài âu-ca.

             Phân chỉ rành gần xa để dạ,

             Chớ đảo-điên phải đọa phải sa.

                 Nghĩ suy cho thấu mới là,

         Một bầy Hồng-Lạc nay đà thảnh-thơi.

             Khuyên sanh-chúng nhớ lời ta tỏ,

             Trước cùng sau chỉ rõ mối đàng.

                 Nhơn-sanh giữ phận chớ than,

         Minh-Vương xuất thế mới an dân lành.”

         Chung kết, ngày nào mà Phật Thánh Tiên không còn bôn ba đó đây, ngồi yên nơi ngôi vị, là ngày kết cuộc, lập đời.

         Lúc ấy các nước trên thế giới đến Việt Nam xin tùng phục Phật Trời, Thánh Vương. Thế giới trở lại hòa bình.

         Phật Thánh Tiên, định ngôi phân thứ các nước trên thế giới, lớn nhỏ theo thứ lớp, hòa thuận, nhường nhịn, tôn kính lẫn nhau, đã gây được cuộc hòa bình cho vạn quốc, chư bang.

         Việt Nam Thánh Vương tạo lập được nền móng ngai vàng vững chắc và chọn được các bậc tôi hiền, tận trung báo quốc.

         Lúc ấy tuồng hát của đời Hạ nguơn chấm dứt. Biết rõ ai là Phật Thánh, ai thảo hiền, và ai lỗi đạo nhà. Hoàn thành cuộc lọc lừa sàng sẩy.

         Kể từ đây về sau có Chúa hiền, tôi trung, cùng nhau cọng lạc miên trường, vĩnh cửu:

            “Ngày nào mà Phật Tiên tọa vị,

             Ấy thời lai bình trị muôn dân.

             Khắp các nơi chư quốc xưng thần,

             Trong bốn biển chúng dân lạc-nghiệp.

             Theo dõi gót người xưa mới kịp,

             Vừng mây lành ngũ sắc hào-quang.

             Phật, Thánh, Tiên, Đông-Độ lướt sang,

             Miền Nam-địa phân chia đẳng-cấp.

             Nước cờ mới nay đà khởi sắp,

             Trổ tài hay biển lấp non dời.

             Dưới cùng trên ảm-đạm khí trời,

             Cả thế-giới mưa hòa gió thuận.

             Tạo nền móng Thánh-quân đặt vững,

             Nơi triều-ca gầy-dựng tôi hiền.

             Giờ mắc câu thiên lý vị nhiên,

             Nên còn đãi thiên oai nấy lịnh.

             Tỏ tình đời ít câu cung thỉnh,

             Mong khán-quan vào cửa xem tuồng.

             Cỏ cùng cây điểu-thú chim-muông,

             Nhơn với vật huờn lai bổn-tánh.

             Đó mới biết ai là Phật Thánh,

             Ai thảo-hiền ai lỗi đạo nhà.

             Đồng hát câu phụ-tử khải-ca,

             Chúc trăm họ muôn nhà thạnh-thới.

                                NGÂM

                 Bồ-đào rượu thánh trà tiên,

         Muôn năm cọng lạc chúa hiền tôi trung.”

         Đến đời Thượng nguơn Thánh Đức, cảnh nhạc trời, tiêu thiều Phật Tiên hiện ra. Trên trời mây lành ngũ sắc bao phủ; dưới đất tứ linh xuất hiện vui mừng. Các liệt quốc, chư bang đến Việt Nam chúc tụng Thánh vương đã lập được đời mới thái bình miên viễn trường cửu:

                                  “Bao la cảnh Phật cõi Tiên,

                 Tòng mai liễu trúc hữu duyên khoe màu.

                                    Ngũ vân năm sắc năm màu,

                 Kìa qui nọ phượng lao xao vui mừng.

                                    Vang vầy sấm nổ chuyển luân,

                 Kiểng Tiên lộ vẻ vui mừng cha con.

                                    Bấy lâu nghĩa nọ tiêu mòn,

                 Ngày nay hiệp mặt hết còn thở than.

                                    Các nơi liệt quốc chư bang,

                 Chúc cầu bình trị trướng loan sum vầy.”./.

                                                                     Nam Mô A Di Đà Phật !

                                                             TRẦN PHÚ HỮU

Comments