9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 21‎ > ‎

18. Những hủ tục trong ngày Tết - Huỳnh Chi


Những hủ tục trong ngày Tết

                                                                                                    Huỳnh Chi

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 21

 
         Mỗi khi Xuân về Tết đến là người dân Việt dù đang ở nơi đâu hoặc trong hoàn cảnh thế nào cũng đều tất bật trong việc mua sắm áo quần, trang hoàng nhà cửa, lo tiền lo bạc trang trải nợ nần hay giải quyết những thú vui trong cuộc sống. Bên cạnh những sự tốn kém không thể thiếu đó, người Việt Nam còn có những hủ tục vẫn còn ít nhiều tồn tại, làm hao tổn rất nhiều tiền bạc một cách vô lý cần nên rứt bỏ, đó là: tục đốt giấy tiền vàng mã, tục rượu chè, cờ bạc, sát sanh để cúng kiếng Ông bà, Thần thánh…

1/- Tục đốt giấy tiền vàng mã:

         Tục đốt vàng mã đã xuất hiện từ rất lâu và đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội ở đất nước Việt Nam, nhất là vào các dịp lễ lớn như Tết Nguyên Đán, Lễ Vu Lan, lễ Thanh minh, tang lễ... Vậy tục lệ nầy bắt nguồn từ đâu? Nó có tác dụng như thế nào trong đời sống mọi người?

         Được biết, từ đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (105), ông Thái Lĩnh bắt đầu lấy vỏ cây dó và vải rách, lưới rách đem chế ra giấy. Khi đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo v.v... đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong khi tang ma, tế lễ. Sách Thông Giám cương mục chép: “Vì vua Huyền Tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan Thái thường Bác sĩ để coi việc chế vàng mã dùng trong khi nhà Vua có tế lễ. Do đó, chúng ta có thể liệt Vương Dũ vào hàng thủy tổ nghề vàng mã vậy”.

         Trong Phật giáo, Đức Phật Thích Ca không hề dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Tuy nhiên, vào ngày rằm tháng Bảy là ngày lễ trọng thể của Phật giáo, đã có rất nhiều tín đồ nhà Phật lại đốt rất nhiều vàng mã như giấy tiền vàng bạc, nhà lầu, xe hơi, quần áo (đều làm bằng giấy màu sặc sỡ) để kính biếu gia tiên? Điều nầy, chúng ta cần suy xét cho minh lý.

         Tìm hiểu về nguyên nhân có tục đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy là như thế này: Vào thời vua Đạt Tôn nhà Đường (762) bên Trung Hoa, nhằm lúc Phật giáo cực thịnh, một vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của người dân, vào tâu với nhà vua rằng: rằm tháng Bảy là ngày Diêm Vương ở Âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ, trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày rằm tháng Bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu cho các vong nhân dùng.

         Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đạo Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ. Thế là nhân dân Trung Hoa lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy để kính biếu gia tiên. Nhưng chẳng bao lâu lại bị giới Tăng sĩ Phật giáo công kích bài trừ, vì cho rằng việc đốt vàng mã vào ngày lễ trọng của Phật giáo đã làm cho cái lệ ngày Rằm tháng bảy không còn có chính nghĩa nữa. Phần lớn dân chúng Trung Hoa hồi đó đã tỉnh ngộ, cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã, làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề nghiệp vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là người tên Vương Luân, dòng dõi của Vương Dũ, đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã.

         Thất nghiệp, Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã. Một người giả bệnh mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài, đã có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn, nước uống. Đương khi xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với gia nhân và họ hàng của ông, đem cả hàng ngàn thứ đồ mã trong đó có cả hình nhân thế mạng ra cúng người chết. Họ bày đàn cúng các quan Thiên phủ, Địa phủ và Nhân phủ. Khi mọi người đương suýt xoa khấn khứa, bỗng trăm nghìn mắt như một, trông thấy rõ ràng cỗ quan tài rung động lên.

         Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài. Người giả chết kia cũng lò dò ngồi dậy, giả vờ lù đù, trông trước, trông sau, mới bước từ quan tài ra, với một điệu bộ như người chết đi sống lại, rồi thuật lại chuyện với công chúng rằng: “Các thần thánh trong tam, tứ phủ vừa nhận được hình nhân thế mạng cho tôi, với tiền bạc và đồ mã, nên mới tha cho ba hồn bảy vía của tôi được phục sinh về nhân thế”. Công chúng lúc đó ai cũng tưởng thật, cho rằng hình nhân có thể thế mạng được và thánh thần trong tam, tứ phủ cũng ăn lễ đồ mã mà giảm tội và cho tăng thêm tuổi thọ. Từ đấy các nghề hàng mã lại được phục hưng một cách nhanh chóng vì không những linh hồn các gia tiên dùng vàng mã, mà đến cả thiên, địa, quỷ, thần trong tam, tứ phủ cũng tiêu dùng đồ mã, thì tự nhiên là vàng mã phải đắt hàng. Chuyện này còn chép rõ ràng ở sách “Trực Ngôn Cảnh Giáo”.

         Như thế, chúng ta nên thẳng thắng nhìn nhận rằng: “Bịa đặt ra tục mê tín, dị đoan, làm hình nhân thế mạng vào lễ tam, tứ phủ để đầu độc sự mê tín đến ngày nay là bắt đầu từ thời Vương Luân. Người Trung Hoa đã bị cái bả mê tín vàng mã do Vương Luân đầu độc mà dân tộc Việt Nam chúng ta thì mê tín cũng chẳng kém gì. Phong tục của người Trung Hoa như thế nào, người mình cũng rập theo đúng khuôn khổ như vậy, bất luận hay, dở, phải, trái, chánh, tà. Đó là do cái tính cẩu thả, phụ họa của người mình vậy.

         Nếu chúng ta đã thừa nhận tinh thần của dân tộc Việt Nam đều nhờ Phật giáo và Nho giáo đào tạo nên, vậy thì xin hỏi: có ai tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào không? Nếu không tìm thấy, chúng tôi xin thiết tha yêu cầu người Việt Nam hãy bỏ tục đốt vàng mã đi và khuyên mọi người nên cùng bỏ tục ấy.

         Đặc biệt kể từ năm Kỷ Mão (1939), Đức Huỳnh Giáo Chủ đã đứng ra làm một cuộc cách mạng lớn trong Đạo Phật. Ngài nhận thấy đồng thời với các tệ đoan khác, hủ tục đốt giấy tiền vàng bạc, đốt xá phướn lầu kho được xâm nhập cửa Thiền một cách công nhiên, nên đã mạnh dạn bài trừ, đả phá. Trong khi người dân quê tin rằng những xá hạc, xá ngựa có thể bay về Trời hoặc về Tây Phương mà thưa xin, cầu khẩn phúc lợi cho mình, thì Ngài chỉ rõ trong Quyển 2 (Kệ Dân của người Khùng) rằng:

                          “Xá với phướn là trò kỳ quái,
                            Làm chay đàn che miệng thế gian.
                            Kẻ vinh hoa phú quý giàu sang,
                            Mướn tăng chúng đặng làm chữ Hiếu.
                            Thương bá tánh vì không rõ hiểu,
                            Tưởng vậy là nhơn nghĩa vẹn tròn.
                            Thấy lạc lầm đây động lòng son,
                            Khuyên bổn đạo hãy nên tỉnh ngộ.”

         Hoặc Ngài gióng lên tiếng chuông thức tỉnh nhân sanh trong Quyển 4 (Giác Mê Tâm Kệ):

                          “Phật chẳng qua dụng chữ tín thành,
                            Chớ nào dụng hương đăng trà quả.
                            Làm chay đàn tạo nhiều xá mã,
                            Bay về Tây nói những chuyện gì ?
                            Thấy chúng sanh làm chuyện quái kỳ,
                            Ta khuyên mãi cũng không chịu bỏ.”

         Đồng thời, giữa lúc đa số người Phật tử tin rằng giấy tiền vàng bạc có thể tiêu dùng được ở cõi Âm phủ thì Ngài đã mạnh dạn bài xích:

                          “Những giấy tiền vàng bạc cũng thôi,
                            Chớ có đốt tốn tiền vô lý.”
(Quyển 2)

         Hay:

                          “Thấy chúng sanh lầm lạc đáng thương,
                            Cõi âm phủ đâu ăn của hối!”
(Quyển 2)

         Theo kinh Phật: Âm Phủ tức là cảnh giới Địa ngục, do Diêm La Vương cai quản rất công bình ngay chính. Những kẻ ở thế gian làm điều tội lỗi có khi qua mắt được pháp luật, nhưng lúc chết tới trước Diêm Vương, không dấu được điều nào cả, thế thì làm sao hối lộ cho được. Đức Thầy bảo:

                          “Khi nhắm mắt hồn lìa khỏi xác.

                            Quỉ Vô Thường dắt xuống Diêm đình.

                            Sổ sách kia tội phước đinh ninh,

                            Phạt với thưởng hai đường tỏ rõ.” (Quyển 2)

         Đã tu hành thì ai cũng muốn cho mình và Ông bà Cha mẹ được về cõi Tiên Phật, tại sao lại lo gởi tiền của, áo quần xuống nơi Địa ngục. Tu là để đi lên mà tâm nguyện thì đi xuống, thử hỏi có trái ngược và vô lý không? Đức Thầy còn giác tỉnh thêm:

                          “Dân chúng chớ nên đốt giấy tiền,
                            Bởi vì Diêm-chúa chẳng tình riêng.
                            Phán-quan tả hữu không dùng hối,

                                     Nên phải dạy dân bỏ giấy tiền.

                                            *

                                                          *   *

                            Vàng bạc bởi tay khách trú làm,
                            Phật, Thần, Tiên, Thánh chẳng dùng ham.
                            Giấy quần giấy áo không nên đốt,
                            Nghĩ chuyện dối ma chẳng đáng làm”.

                                                                        (Hai mươi chín tháng chạp)

         Sở dĩ Đức Thầy khuyên dân chúng chớ nên đốt giấy tiền, vàng bạc, hay giấy quần áo bởi vì Diêm Vương rất công bình, không có vị tình riêng, tả hữu Phán quan cũng không dùng hối như trên thế gian. Bởi tất cả thứ nói trên do người khách trú làm ra để lừa bịp dân chúng.

         Một lần nữa, Đức Thầy xác nhận Phật, Tiên, Thần, Thánh là bậc công minh không có dùng của thế. Tất cả đều là trò ma mị. Vậy chúng dân chẳng nên làm theo.

         Và Ngài lại giải thích rành rẽ trong Tám điều răn cấm: “Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cõi Diêm Vương không bao giờ ăn hối lộ của ta, mà cũng không xài được nữa. Hãy để tiền lãng phí ấy mà trợ cứu cho những người lỡ đường, đó rách, tàn tật.” (Điều răn thứ Sáu). Thử nghĩ, suốt cuộc đời của con người, số tiền dùng vào việc mê tín nói trên quả là không ít, nên Đức Thầy khuyên nhân sanh đừng làm nữa; hãy để dành số tiền lãng phí đó dùng vào việc phước thiện (Bài Khuyên người giàu lòng phước thiện):

                                           “Muốn cho rắn đặng hóa cù,

                          Xả thân làm phước Diêm Phù vượt qua”.

         Và:

                                  “Kẻ nghèo khó hụt tiền thiếu gạo,

                                    Mở lòng nhơn tiếp rước mới là”.

         Hoặc là:

                                  “Nếu đã xả thân tầm Đạo đức,

                                    Mở lòng bố thí ngộ thần ca”.

         Chủ đích điều răn cấm thứ sáu, Đức Thầy dạy người tín đồ phá óc mê tín Tà kiến, hãy rèn luyện cho mình được Chánh tín, đúng với chơn lý và mở lòng Bố thí, hoặc Vun trồng cội phúc chờ mùa trổ bông”.

2/- Rượu, trà, cờ, bạc:

         Như mọi người đều biết RƯỢU, TRÀ, CỜ, BẠC là bốn thứ dễ say nghiện. Đây là một họ của Tứ đổ tường làm con người nghèo khổ và trở thành vô liêm sỉ. Ai lỡ sa vào, khó mà bước ra được. Tuy nhiên, rất nhiều người trong sanh chúng lợi dụng dịp nghỉ ngơi, vui vẻ trong ba ngày Tết mà tổ chức những bữa tiệc linh đình, ăn nhậu phỉ tình, say sưa quá trớn để rồi sau đó sanh ra gây gổ, đánh nhau, lời qua tiếng lại làm mất đi hòa khí trong tình huynh đệ, nghĩa xóm diềng… Hoặc còn bày ra những hình thức cờ bạc khác nhau như: bài cào, bài xì phé, bài tứ sắc, xập xám, đá cá, đá gà… gọi là “bói quẻ đầu năm” để rồi sanh ra nợ nần, cướp giựt, lận lường, trộm cắp… làm lắm điều xấu xa trong xã hội.

         Chính vì vậy, Đức Huỳnh Giáo Chủ không quên nhắc nhở:

                                  “Nhắn-nhủ khắp nơi hỏi một bài,
                                    Ba ngày xuân nhựt bởi nơi ai?
                                    Rượu-trà, cờ-bạc, ôi phung-phí,
                                    Chẳng biết lệ xưa của ai bày?”

         Theo thông lệ, ngày Xuân là dịp để cúng kiếng Ông Bà và đi chúc thọ hai bên nội ngoại. Còn rượu trà cờ bạc là phong tục hủ bại phát sinh từ số người chơi bời trác táng, họ chỉ biết hơn thua và lợi lộc trước mắt. Họ đâu ngờ thành thói quen và đưa dân sinh đến mầm trụy lạc sa đọa nhất là việc phung phí tiền bạc và có hại cho sức khoẻ. Đức Thầy nhìn thảm trạng nầy mà lòng Ngài vô cùng đau xót! Vậy ai là người có tâm Đạo, hãy cương quyết tránh xa hay chừa bỏ, hành y theo lời Đức Thầy chỉ dạy trong lời răn thứ nhứt: “Ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm…”

         Phải tuyệt đối xa lánh Tứ đổ tường tức: tửu, sắc, tài, khí, vì nếu ai còn đắm mê các món đó thì sẽ sống cuộc đời hư hỏng, bê tha vất vả, trụy lạc, hoang đàng, trà đình tửu điếm, rồi nảy sanh muôn điều tội lỗi khác:

                          “Sa bốn vách mang điều nhơ nhuốc.”

         Bằng ai tránh được nó, tức chận đứng được các hột giống tội lỗi trở thành con người tốt đẹp, vượt trên người thường như Đức Thầy từng dạy:

                          “Người tu hành phải trừ nghiệp chướng,

                            Với bốn ma mới đặng an nhàn.”

3/- Sát sanh để cúng kiếng:

         Theo tục lệ Ông Bà ta ngày xưa để lại, trong ba ngày đầu Xuân thường hay sát sanh cúng tế. Nhứt là ngày mùng Ba ra mắt thường làm gà vịt cúng tế tổ tiên, tỏ cho thiên hạ biết mình là con có hiếu. Tuy nhiên, theo quan niệm “Chữ Hiếu” của Đức Thầy không phải đợi đến ngày Tết mà thường ngày trong hai bữa cơm, có chi cúng nấy, nguyện vái Ông Bà Cha Mẹ quá vãng về ăn cơm với mình là đủ rồi. Điều cần nhứt là lo tu cầu và nuôi cha dưỡng mẹ lúc còn sanh tiền. Đó mới thật là đạo hiếu.

                          “Chúc mừng năm mới, mới buổi qua,

                            Bỏ bớt dị-đoan chẳng cúng gà.

                            Tre nêu phơ-phất không còn thấy,

                            Ra mắt tiêu mòn bữa thứ ba.”

         Ở đây Đức Thầy khuyên ta bỏ bớt những điều dị đoan mê tín, tức là không nên sát sanh hại vật mà cúng tế một Thần thánh, hay cúng kiếng Ông Bà trong ba ngày Xuân nhựt. Vì đó là việc cổ hủ, trái với luật lệ công bằng của tạo hóa, vì chơn lý của đạo Phật là giết người phải đền mạng, chém một dao trả một dao. Đằng này, cúng tổ tiên quá vãng lại sát sanh hại vật. Đó là do dị đoan mê tín, do tà thần cám dỗ.

         Trong điều răn thứ năm, Đức Thầy có dạy: “Ta không nên sát-sanh hại vật mà cúng Thần Thánh nào, vì Thần Thánh không bao giờ dùng hối-lộ mà tha tội cho ta...’’ Bởi vì các bậc Thần Thánh ở cảnh giới siêu hình chẳng có xác thể như loài người, và mọi cảnh giới đều có thức ăn riêng, đâu dùng vật thực như chúng ta. Hơn nữa, các Ngài từ nơi có lòng ngay thẳng công bình yêu dân ái quốc mới thành. Các Ngài có bổn phận ủng hộ chúng sanh, chớ đâu có vì ăn đồ cúng kiếng mà ban phước, hay thiếu lo lót mà giáng họa:

                          “Đấng thần minh công bình trực dạ,

                            Đâu ăn lo đổi họa làm may.”

         Thêm vào đó, tre nêu cũng là tục lệ của ông bà xưa chịu ảnh hưởng của người Tàu. Ngày xưa vào dịp tết Nguyên Đán, người ta buộc “bùa nêu” vào cây tre thật cao dựng trước cửa nhà, bắt đầu vào ngày 23 tết (cũng là ngày rước Táo Quân về Trời) và đến ngày mùng 7 mới hạ nêu. Ngày nay xã hội văn minh, phong tục Nho giáo đã lùi về dĩ vãng, những tập quán cổ hủ người dân Việt cũng bỏ bớt lần lần. Vấn đề dựng nêu và hạ nêu không còn thấy ai làm nữa. Đức Thầy đã khẳng định “Ra mắt tiêu mòn bữa thứ ba” tức nói ngày mùng ba là đã hết Tết, không cần phải kéo dài đến ngày mùng bảy cho thêm hao tốn.

         Tóm lại, nhờ có sự chỉ dẫn rất xác đáng và sự cực lực hô hào của Đức Huỳnh Giáo Chủ mà những hủ tục kể trên mặc dù đã ăn sâu gốc rễ trong xã hội Việt Nam từ ngàn xưa nay đã được chấn chỉnh ngay tại các gia đình người tín đồ PGHH.

         Không những người tín đồ PGHH không còn tin theo các hủ tục đốt giấy tiền vàng bạc, làm xá phướn lầu kho, hay từ bỏ các thói hư tật xấu như rượu chè, cờ bạc, sát sanh, hại vật... mà họ còn tự nhận có trách nhiệm phải gắng sức truyền bá ý niệm tiến bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ ra khắp nơi trong quần chúng.

         Nếu trước kia, đa số người dân trong nước chìm sâu trong giấc mộng mê lầm, mỗi khi có làm tuần làm đám, có Tết nhứt, giỗ chạp; đều phải dành ra một số tiền quan trọng cho việc mướn thầy cúng, làm các việc dị đoan... thì khi PGHH ra đời, trên hai triệu người đã bài trừ những hủ tục trên, xây dựng nhiều điều tốt đẹp cho xã hội trên đà tiến bộ. Một phí khoản to tác và vô lý được chấm dứt để dành cho các công tác từ thiện đáng làm như lập nhà thuốc Nam, cất cầu, bồi lộ, mở các Trạm cơm miễn phí, xây nhà tình thương… để nâng cao giáo nghĩa Từ Bi và tinh thần Chánh Tín của Đạo Phật mà Đức Huỳnh Giáo Chủ đã dày công hoằng hóa.

         Nhân dịp đầu năm Quý Tỵ (2013), xin thành tâm kính chúc chư quý đồng đạo cùng gia quyến được Vạn sự Kiết tường, Muôn điều Hạnh phúc và Ngàn nẻo Hanh thông trên bước đường hành Đạo để đáp đền công ơn Phật Tổ, làm rạng rỡ danh Thầy./.

                                                            Nam mô A Di Đà Phật !

                                                                HUỲNH CHI

Comments