9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 21‎ > ‎

13. Thân thế và sự lâm phàm ĐHGC - Nguyễn-Phúc-Lạc


Thân-thế và sự Lâm-phàm Khai-sáng Đạo

của Đức HUỲNH GIÁO-CHỦ PGHH

                                                                                                        Nguyễn-Phúc-Lạc

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 21

 
         Đức Huỳnh Giáo Chủ quý danh là HUỲNH PHÚ SỔ, sanh ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi, nhằm ngày 15 tháng 1 năm 1920 (cấn qua tháng 1/1920 vì năm Kỷ Mùi nhuần hai tháng 7), tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là An Giang) thuộc miền Nam Việt Nam.

         Thân phụ là Đức Ông HUỲNH CÔNG BỘ, thân mẫu là Đức Bà LÊ THỊ NHẬM. Đức Huỳnh Giáo Chủ có năm anh chị em: hai trai, ba gái mà Ngài là con trai cả, đứng sau hai chị khác mẹ cùng cha; kế Ngài là một em gái và một em trai.

         Lúc thiếu thời Đức Huỳnh Giáo Chủ có đặc tính trầm ngâm, thích sống trong tĩnh lặng. Tới tuổi đi học thì Ngài cũng cắp sách đến trường như mọi người, nhưng chưa xong bậc Tiểu học thì gián đoạn vì đau yếu liên miên, chữa trị nhiều cách bằng thuốc thang đến phù phép đều bất lực. Có điều đặc biệt khác thường là tuy đau yếu thân xác ốm gầy mà sắc diện Ngài vẫn tươi tỉnh, tinh thần vẫn sáng suốt chớ chẳng có thẫn thờ, mê mệt. Chú Huỳnh Trung Thu, bạn của thân phụ tôi kể lại có lần Đức Huỳnh Giáo Chủ nói với một người rằng: “đó là thời gian súc lọ”. Cảm nghĩ theo lý nghĩa huyền diệu của Đạo pháp thì phải chăng đây là thời gian chuẩn bị chờ đến ngày đứng ra mở Đạo chỉ đường tu giải thoát cho chúng sanh và làm bổn phận công dân đối với Đất Nước sắp bước vào thời ly loạn, nhiễu nhương, đói khổ, nguy nan.

         Đức Huỳnh Giáo Chủ hoằng khai đạo pháp vào ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, nhằm ngày 4 tháng 7 năm 1939. Tính theo dương lịch Ngài vừa 19 tuổi, 5 tháng và 11 ngày. Ngày ấy, tự nhiên Ngài hết bệnh, tỏ ngộ, vừa thuyết giảng chơn lý tu hành, vừa chữa trị nhiều bệnh nan y, vừa viết ra Sấm Giảng nhằm lưu truyền rộng rãi khắp nơi vì dưới ách thống trị của thời Pháp thuộc, Ngài bị ràng buộc rất khó được tự do châu du thuyết pháp như thời Đức PHẬT THÍCH CA. Trong tín đồ đều am tường Đức Huỳnh Giáo Chủ đã phải chịu biết bao gian truân, khổ ải với chánh sách luân cư của chánh quyền Pháp buộc Ngài phải dời đổi đến nhiều nơi như: Sa đéc; nhà ông Hương bộ Thạnh ở kinh xáng Xà-No, thuộc làng Nhơn Nghĩa, tỉnh Cần Thơ; nhà ông Thơ ký Giỏi tại tỉnh Bạc Liêu; nhà thương Chợ Quán Saigon, v.v… Chánh quyền Pháp không ngờ các ông Hương bộ Thạnh, vợ chồng Thơ ký Giỏi, cả Bác sĩ Tâm ở nhà thương Chợ Quán đồng cảm kính phong cách của Đức Huỳnh Giáo Chủ, đều qui y trở thành tín đồ kiên cường của Phật Giáo Hòa Hảo. Sự kiện nầy quá diệu huyền phát khởi nếu kể ra chi tiết thì lắm dông dài. Dầu bị nhiều lần luân cư như thế, nhưng Đức Huỳnh Giáo Chủ đã thản nhiên bày tỏ:

                                  “Càng đi càng biết nhiều nơi,

                       Càng đem chơn lý tuyệt vời phổ thông.”

         Hay:

                          “Ấy cũng bởi thày lay ông Tạo.

                           Ông nhồi quả cho người hành Đạo,

                           Lúc nguy nàn thối chí cùng chăng?

                           Nếu bền lòng vị quả cao thăng,

                           Chẳng chặt dạ bỏ lăn Phật Thánh.”

         Hoặc là:

                          “Ta cũng chẳng lấy chi buồn bã,

                           Bởi sự thường của bực siêu nhơn.

                           Dầu gian lao dạ sắt chẳng sờn,

                           Miễn sanh chúng thông đường giải thoát.”

         Thời kỳ kế tiếp, từ sau đệ nhị thế chiến, vào mùa Thu năm Ất Dậu 1945, Đức Huỳnh Giáo Chủ dấn thân phục vụ Đất Nước, tham gia cùng các đảng phái, tôn giáo, đoàn thể đấu tranh giành lại nền độc lập cho Tổ quốc. Ngài đã trải qua lắm cam go thử thách với hiểm nguy, có lúc ẩn náu tại Sàigòn-Chợlớn; vào mật khu cùng sống vất vả, thiếu thốn bình đẳng như binh sĩ: một con khô sặc chia đôi cho bữa sáng, bữa chiều; một nồi canh rau với con cá nhỏ rỉa tan cho một bữa ăn của nhiều người (theo lời chú Huỳnh Trung Thu kể lại hồi ở trong rừng Chà Là với lực lượng Bình Xuyên). Đấu tranh chống Pháp mưu đồ trở lại đô hộ xiềng xích dân ta chưa xong thì Việt Minh Cộng Sản áp dụng chánh sách độc tài đảng trị nhằm tiêu diệt các đoàn thể chánh trị, các tôn giáo có khuynh hướng yêu nước khác với họ; đặc biệt là họ nhắm vào các nhà lãnh đạo lỗi lạc tài ba như: Nguyễn Văn Sâm, Tạ Thu Thâu, Bác sĩ Nguyễn văn Tâm, v.v… Đức Huỳnh Giáo Chủ là vị lãnh đạo tôn giáo cách mạng có uy thế nhứt ở miền Nam lúc bấy giờ đã bị họ mưu hại bí mật nhiều lần đều thất bại. Lần sau cùng họ đã dùng quỷ kế mời Đức Huỳnh Giáo Chủ họp bàn phương thức giải quyết xung đột giữa Cộng sản và tín đồ PGHH tại một vài nơi ở miền Tây Nam phần. Cuộc họp diễn ra tại Ba Răng, Đốc Vàng Hạ thuộc quận Thanh Bình, tỉnh Kiến Phong (Cao Lãnh), vào đêm 25 tháng 2 nhuần năm Đinh Hợi, nhằm ngày 16 tháng 4 năm 1947. Đức Huỳnh Giáo Chủ đã thọ nạn vào đêm hôm ấy. Nội cuộc  đã diễn biến thế nào không có bằng chứng xác thực, chỉ biết rằng trong đêm ấy có mấy cận vệ của Đức Huỳnh Giáo Chủ bị sát hại; một tín đồ thoát nạn là ông Mười Tỷ về thuật lại chừng ấy! Hầu hết tín đồ rất bùi ngùi xúc động, mãi phân vân hai lối: Đức Thầy thọ nạn hay Đức Thầy vắng mặt ???

         Tôi thầm suy nghiệm nhiều năm mà khó bề giải lý được minh bạch rõ ràng qua hai lối phân vân trên, vì:

         - Thứ nhứt: Thọ nạn, mệnh chung, thì mồ mả ở đâu ?

         - Thứ hai: Vắng mặt thì ai biết ẩn ngụ nơi nào ?

         Do đó, lắm đêm, tôi như bày tỏ lòng trắc ẩn, nguyện cầu xin Đức Thầy độ khiến cho tâm tôi phát nghĩ ra rốt ráo có căn bản. Rồi bỗng giữa một đêm thức giấc, tôi phát quyết “ĐỨC THẦY THỌ NẠN” bằng câu lý giải tóm gọn rằng: Theo Đạo Pháp Từ Bi, Đức Huỳnh Giáo Chủ “chấp nhận thọ nạn” để “gánh nạn chết thảm” cho đồng bào chủng tộc, như câu: “Ta chịu khổ, khổ cho bá tánh.”

***

         Nội tâm tín đồ ai cũng cầu mong ngày gặp lại Đức Thầy! Mong cầu nếu đạt thì đó chỉ là “sắc tướng” nhứt thời, trong qui luật vô thường. Luận theo lý nghĩa siêu thâm Phật Pháp thì Đức Thầy như trường cửu bên cạnh ta, vì trong tâm hồn trí não ta đã in sâu qua Sấm Giảng của Ngài hằng thuyết giáo dắt dẫn đời kiếp ta vào con đường Đạo ngời sáng giải thoát.

         Là tín đồ chơn chánh không bao giờ lơi lỏng tự kiểm điểm về các hành động, tác phong, thái độ, lời nói, cả đến trí nghĩ, tâm suy của mình. Đức Huỳnh Giáo Chủ đã giảng giải, hướng dẫn cặn kẽ bổn phận tín đồ phải giữ cho xứng đáng trong bài “ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI CHÚNG SANH”. Trích đoạn sau đây: … “Phật cũng yêu hết chúng sanh, dầu kẻ ngu người trí, yêu tất cả môn-đồ (dầu kẻ biếng-nhác với kẻ siêng-năng). Bởi tại duyên-nghiệp mỗi chúng-sanh chẳng đồng nhau, tu cao thấp khác nhau, nhưng mỗi chúng-sanh đều có Phật tánh. Vậy lòng từ-bi của Phật là vì thương xót chúng-sanh, lo dạy-dỗ chúng-sanh, nhưng mà sự gần gũi và ban phước-huệ vẫn có khác, vì phải tùy theo mỗi kẻ tín-đồ. Người tín-đồ nào hằng ngày vâng lời Phật dạy, rán lo học hỏi, tìm kiếm đạo mầu, quí trọng chuyện lành thì Phật thường gần-gũi hơn đứa đã dạy nhiều lần mà chẳng chịu nghe theo, và thường ban thưởng cho kẻ tín-đồ nào quí trọng kinh luật của Phật, chăm lòng giữ theo giới-luật, cẩn thận từ lời nói việc làm, đừng để cho người ta nhạo-báng Phật hay chê-bai Thầy của mình. Còn những kẻ tín-đồ dối tu, chẳng vâng lời dạy, chẳng giữ giới-luật thì trên là Đức Phật và dưới là ông Thầy của kẻ ấy chỉ lấy lòng từ-bi mà nhận sự trách-cứ của kẻ ngoại đạo, chớ không thế nào gần-gũi và ban phước-huệ cho kẻ chẳng thành-tín kia đặng.”

         Chúng tôi không đặt ra lý luận hóa, hay huyền thoại hóa về Đức Huỳnh Giáo Chủ bằng cách bịa bày văn tự hoặc ngôn từ (Đạo gọi là thinh, âm, sắc tướng) để tác động người vào Đạo mình cho đông, theo thường tình thế nhơn, nhằm tạo thành hậu thuẫn, phe cánh cho thế lực, địa vị, quyền uy, danh vọng. Lắng tâm, mở trí suy tìm ra nguyên nhân và sứ mạng lâm phàm của Đức Huỳnh Giáo Chủ vô cùng cao thâm. Trích dẫn phần tiết lộ do chính Ngài đã viết sau đây:

                                  “Hạ nguơn nay đã hết đời,

                       Phong ba biến chuyển đổi dời gia cang.”…

                                  “Thấy đời ly loạn bất an,

                       Khắp trong các nước nhộn nhàng đao binh.

                                    Kẻ thời phụ nghĩa bố kình,

                       Người thời trung hiếu chẳng gìn vẹn hai.”…

                                  “Điên nầy vưng lịnh Minh Vương,

                       Với lịnh Phật Đường đi xuống giảng dân.”…

                          “Ta thừa vưng sắc lịnh Thế Tôn,

                           Khắp hạ giái truyền khai Đạo pháp.

                           Tùy phong hóa dân sanh phù hạp,

                           Chấp bút thần tả ít bổn kinh.”…

                                  “Lời văn tao nhã hữu tình,

                       Bởi vưng sắc lịnh Thiên Đình sai ta.”…

         Và câu văn xuôi: “Tuy là nhơn dân mới rõ pháp mà tưởng rằng Ta thượng xác cỡi đồng chớ có dè đâu chuyển kiếp đã từ lâu chờ đến ngày ra trợ thế.”

                                   Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

                                                 Nam Mô A Di Đà Phật.

                                                    NGUYỄN PHÚC LẠC

Comments