9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 21‎ > ‎

12. Tại sao ta phải Tu học? - Mai-Văn-Mến

Tại sao ta phải Tu học ?

                                                                                                   Mai văn Mến

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 21

 
         Trước hết, xin được giới hạn đề tài Tu Học trong phạm vi Đạo Phật.

         Bàn việc tu học của Đạo Phật, tưởng cần hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử và căn bản tư tưởng Đạo Phật.

         2.600 năm trước tại Ấn Độ, giai cấp Bà-la môn nắm giữ vai trò chính truyền bá tư tưởng, đạo đức, lễ nghi cho xã hội. Dựa trên kinh Vệ-Đà cổ xưa, trên nền tín ngưỡng Thần quyền, học thuyết Brahman, ngoài việc giết vật cúng tế Thần linh, Bà-la môn còn diễn dịch nhiều điều phi lý như cho rằng Brahman là then chốt - chủ quản, sáng tạo. Coi con người sinh ra từ Brahman, số phận do Brahman định, chết sẽ về lại Brahman. Người nếu sanh ra từ miệng Brahman thì được là giai cấp Bà-la môn thế hệ nầy qua thế hệ khác… Cũng luận điệu như vậy, đã tạo nên cho xã hội 4, 5 giai cấp gây ra bao chia rẽ bất công vô cùng khắc nghiệt.

         Sau 6 năm xuất gia tầm Đạo, tu học, chịu khổ hạnh, sau cùng qua Thiền định, Đức Phật đạt giác ngộ. Ngài bác bỏ tư tưởng Thần quyền Brahman qua câu: “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn.” Trên trời dưới đất con người là cao quí, là gốc. Con người có Phật tính, bình đẳng nhau. Mọi người đều có khả năng thành Phật. Cá nhân làm chủ bản thân số phận mình. Hãy tin vào chính mình. Tự mình đốt đưốc lên mà đi.

         Tư tưởng nầy ngày nay được gọi là tư tưởng nhân bản, nhân chủ. Đạo Phật gọi là Đạo nhân bản. Nền giáo dục xã hội văn minh ngày nay cũng là nền Giáo dục nhân bản.

         Sau lần chuyển Pháp luân đầu tiên cho nhóm bạn tu học cũ Kiều Trần Như về đường Trung Đạo và Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo thể hiện lòng Từ Bi cứu khổ. Đức Phật thu nhận đệ tử. Qua 3 khả năng tự có: Bi (Tình thương), Trí (Trí tuệ), Dũng (Ý chí) của mỗi người. Ngài hướng dẫn Thiền định tu học, thành lập Tăng đoàn để truyền bá Đạo từ bi cứu khổ  - Nhân bản - Nhân chủ - Giác ngộ Giải thoát mà Ngài đã đạt được.

         Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, đến kỳ kết tập Kinh điển lần 2, Tăng đoàn phân phái ra Thượng Tọa bộ và Đại chúng bộ, rồi về sau tạo thành các Trường phái tu học:

         1.- Trường phái đầu tiên gọi là Nguyên thủy hay Tiểu thừa với 4 quả vị: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán.

         Mục tiêu cầu Phật Đạo cho bản thân qua Thiền định:

                  - Giác ngộ: tìm hiểu biết rõ bản thân, đời sống, mọi sự vật…

                  - Giải thoát: vô minh phiền não (tức vượt qua ngu dốt tự thân, tin lầm nơi kẻ khác, giải phóng sợ hãi, nô lệ, áp bức, bất công…)

                  - Đạt cứu cánh Niết bàn.

         2.- Trường phái Đại thừa với 3 quả vị: Thinh văn, Duyên giác, Bồ tát. Có hai mục tiêu:

                  a)- Thượng cầu Phật đạo cho bản thân qua Thiền định hay các Pháp môn khác:

                          - Giác ngộ,

                          - Giải thoát,

                          - Cứu cánh Niết bàn. (như trên)

                  b)- Hạ hóa chúng sinh, hành Bồ tát đạo:

                          - Dạy dỗ, cứu giúp đời.

         3.- Trường phái Đại thừa gom chung 3 quả vị trên thành một, gọi là Nhất thừa hay Phật thừa. Với Bi, Trí, Dũng tự có:

                  - Không lập quả vị, cứ gắng Tu học theo 2 mục tiêu à Đắc quả Phật.

         (Xin mở dấu ngoặc ở đây để nói thêm về chút khác biệt gây tranh luận giữa 2 trường phái Tiểu thừa và Đại thừa.

         Tuy cùng xuất phát từ tư tưởng Từ bi cứu khổ, nhân bản, nhân chủ… của Đạo Phật, nhưng:

         - Tiểu thừa tức cổ xe nhỏ - chở ít người, thì: Việc tu học lấy tự lực là chính và chỉ học hỏi bàn luận các vấn đề hiện thực liên quan tới giảm đau khổ, tạo an lạc hạnh phúc đời sống mà không bàn đến các vấn đề xa vời vô ích… (như Đức Phật thời tại thế từ chối trả lời các câu hỏi siêu hình).

         - Đại thừa tức cổ xe lớn - chở nhiều người, thì việc tu học chấp nhận cả tự lực lẫn tha lực và sẵn sàng vượt qua hiện thực đời sống để bàn đến các vấn đề siêu hình…

         Ngưỡng mong các cuộc tranh luận vì khác biệt nói trên là để cầu tiến, tạo hài hòa, chớ đừng gây phân hóa suy thoái đoàn thể Phật tử !).

         Trong ba trường phái Tu học sơ lược kể trên, phần đông dành cho Tăng Ni, hầu như không có Cư sĩ hay có rất ít (chẳng hạn như Duy Ma Cật, Tuệ Trung Thượng Sĩ).

         Hàng nam nữ Cư sĩ đa số chỉ hưởng ứng, ủng hộ, cúng dường cho Tăng Ni tu học mà thôi. Phần đông thỉnh thoảng đi chùa là để lễ Phật, cúng dường, cầu phước, cầu tài, cầu con, xin xâm, bói toán, xin bùa phép, cúng sao giải hạn hay cầu siêu, cầu an cho thân nhân…

         4.- Một số nam nữ Cư sĩ tại gia cao nhất là thọ Tam qui, Ngũ giới, Thập thiện.

         Đó là 4 hình thức Tu học của Tăng Ni và Cư sĩ ngày trước.

         5.- Hoàn cảnh lịch sử, cơ duyên khai mở Đạo Phật Giáo Hòa Hảo:

         Thập niên 20, 30 của thế kỷ trước, sau 70 năm bị Thực dân Pháp cai trị, vùng đất mới miền Nam Việt Nam vừa phải dốc sức cung ứng tài nguyên nhân lực cho Đệ I thế chiến (1914 - 1918), tiếp đến tác động Đại khủng hoảng kinh tế (1930) cùng chiến tranh Hoa-Nhật tại Mãn Châu (1937) rồi Đệ II thế chiến lố dạng nơi trời Âu (1939); tôn giáo truyền thống Phật-Nho-Lão suy yếu từ trước, nay suy đồi tận gốc.

         Ngay cả hệ phái Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương (BSKH) quanh vùng Thất sơn, 80 năm trước một thời hướng dẫn tu hành, đùm bọc dân chúng khai hoang lập ấp, ổn định cuộc sống, có lúc đứng lên khởi nghĩa chống xâm lược Pháp thì nay hầu như tàn tạ. Đa số nông dân nghèo đói thất học lại càng nghèo đói hơn. Xã hội khủng hoảng niềm tin chân chánh vì thế tín ngưỡng nhân gian càng lúc càng đượm màu đa thần tạp nhạp. Nhiều người bỏ làng mạc lên non, vào rừng ẩn tu cầu tìm hỗ trợ Chư vị Thần linh…

         Trước cơ duyên ấy, ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939), Đức Huỳnh Giáo Chủ khai Đạo Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH) “Đạo Vô vi của Phật ân cần, Nối theo chí Thích Ca ngày trước.” (Quyển 4) nhằm chấn hưng Đạo Phật theo đúng truyền thống Từ bi cứu khổ… cùng dựng lại nền móng Bửu Sơn Kỳ Hương (BSKH) thành một nền Phật Đạo nhập thế thời đại trao truyền cho đa số nông dân Nam bộ, tổ chức thành đoàn thể tu học gồm hầu hết là Cư sĩ tại gia với Pháp môn Học Phật Tu Nhân cùng thuyết Tứ Ân và niềm tin Long Hoa Hội.

         Học Phật: là học lời Phật dạy. Tu Nhân: là áp dụng lời Phật vào đời sống – Để làm người có nhân cách cao quý.

         PGHH như Đức Thầy nhiều lần xác nhận là đạo Phật nên Giáo lý PGHH phần lớn xuất phát từ lời Phật dạy, từ Phật pháp, từ Kinh điển (tư tưởng Khổng, Lão, Tây phương… là phụ) nhưng Phật pháp khi đến với PGHH, qua tuệ giác của Đức Thầy, thường được phát triển ý nghĩa ứng hợp với đời sống văn hóa Dân tộc và thời đại, chẳng hạn như:

  • Pháp Tứ Ân, một trong muôn ngàn Phật pháp trong Kinh điển ít được quan tâm. Khi đến BSKH thì thành pháp tu hành hằng ngày. Khi đến PGHH thì ý nghĩa được triển khai thành thuyết tu hành thường trực, ứng hợp với con người, đời sống văn hóa Dân tộc và xu thế thời đại, có giá trị toàn cầu vượt thời gian nhiều thế kỷ sau (xin xem Tứ Ân trong quyển Sáu).

  • Thọ ký Phật về thời Mạt pháp: - Phật Di Lặc giáng thế - Lập Hội Long Hoa – cùng Chuyển Luân Pháp Vương - tạo dựng cõi Tịnh độ nhân gian tươi sáng. Khi đến BSKH thành niềm tin tu học. Khi đến PGHH thì không chỉ là niềm tin tu học mà còn là niềm tin lạc quan qui luật vận động cuộc sống “cùng tắc biến, biến tắc thông” ắt đến. Thật sự đã đến đó đây xa gần trên thế giới qua bao chuyển biến đổi đời - dầu có đôi lúc lệch chiều – mà rốt cuộc luôn hướng về Công bằng, Nhân đạo – Chân Thiện Mỹ. Người có niềm tin trong sáng về Long Hoa hội cảm nhận như vậy. Cho nên qua ngày tháng tu hành người tín đồ PGHH nghe thấy thời cuộc thế giới, thời thế xa gần nơi nầy chỗ nọ, xem đó là dấu hiệu, là hình thức Long Hoa hội trước mắt. Nhắc nhở mỗi tín đồ luôn đoàn kết thương yêu nhau, cần chuyên tu hành, chung vai góp sức cùng đoàn thể mình và các đoàn thể Xã hội chân chánh khác để xây dựng “một xã hội công bằng và nhân đạo” ngày càng rộng lớn hơn, một Tịnh độ nhân gian hiện thực của Phật Di Lặc.(*)

  • Cách Tu học của tín đồ PGHH xét ra thì như hàng Cư sĩ tại gia nói trên (như phần số 4), vừa kiên định tinh thần Từ bi cứu khổ - Nhân bản - Nhân chủ - Giác ngộ giải thoát - vừa phát triển vốn Bi, Trí, Dũng - Tự do - Bình đẳng, thực hành hạnh Tứ Ân với niềm tin Long Hoa Hội nên dù không Tu học Đại thừa mà lòng chiêm ngưỡng hai mục tiêu trên tròn đủ.

             Đạo Phật dầu đề cao cá nhân tuyệt đỉnh nhưng không quên vai trò thiết yếu con người gắn liền với xã hội. Cách Tu  học  song  hành 2 mục tiêu nói trên của Tổ  Thầy là vô

    cùng cần thiết không thể lệch. Bởi vì con người sống là sống với sống cùng, không ai có thể sống một mình được. Sống là sống với vợ chồng con cái, sống với cha mẹ ông bà, thân bằng quyến thuộc, sống với bạn bè hàng xóm láng giềng, sống với đoàn thể, cộng đồng xã hội, sống với dân tộc quốc gia, sống với nhân loại chúng sinh thế giới. Cá nhân, xã hội, môi trường tương tác ảnh hưởng vô cùng !

             Đức Huỳnh Giáo Chủ dạy rằng: “Ngày giờ nào còn có kẻ trong chúng sanh chịu khổ thì ta cũng phải  khổ vì họ vậy.” (Chánh Tinh Tấn, Quyển 6).

             Giáo lý PGHH chỉ là một phần nhỏ Phật pháp trong muôn ngàn pháp của đạo Phật nhưng chính là phần chủ yếu ứng hợp với hàng Cư sĩ tại gia, lại được Đức Thầy khai triển ý nghĩa hợp với Văn hóa Dân tộc và thời đại. Vì vậy, nếu chuyên cần học hỏi tu hành chắc chắn nhân cách được nâng cao. Một đặc điểm khác là đạo Từ bi cứu khổ khi kết hợp với thuyết Tứ Ân và niềm tin Long Hoa Hội thì tính Từ bi cứu khổ kỳ diệu ấy được nâng lên gấp bội, rực sáng lòng người, lan tỏa thành cao trào đáp ứng nguyện lực sâu dày của Đức Thầy:

                      “Biết làm sao gieo Đạo khắp đại đồng,

                       Đưa nhơn loại đi vào vòng hạnh phúc”.

                                                                                                   (Không buồn ngủ)

    Tường trình bên trên là nói về cách tu học và tư tưởng căn bản của Đạo Phật. Sau đây, chúng tôi xin trở lại chủ đề “Tại sao ta phải tu học ? Không tu có được chăng ?”

             Trước hết, người Cư sĩ hiểu chữ Tu Học đơn giản như sau:

             - TU là sửa đổi tật tính xấu xa thành tốt đẹp, hoán cải nghiệp nhân bất thiện, thay đổi nghiệp quả khổ đau, rèn luyện thân tâm, nâng cao nhân cách.

             - HỌC là tìm hiểu biết rõ ràng tới nơi tới chốn, con người, cuộc sống, chánh trị, kinh tế, luật pháp, văn hóa giáo dục, xã hội và mọi sự vật liên quan… từ Kinh điển lẫn ngoài (không có điều gì cấm kỵ).

             Có hiểu rõ con người cuộc sống, có cái nhìn bao quát theo lý duyên khởi thì “tâm chủ trì” mới có điều kiện hướng ta vào đường tu hành, đưa đến Chánh nghiệp, Chánh mạng. Tu học hạnh gắn liền nhau.

             Đức Thầy đã chỉ rõ:

                              “Địa ngục cũng tại Tâm làm quấy,

                               Về Thiên đàng Tâm ấy tạo ra.

                               Cái chữ Tâm mà quỉ hay ma,

                               Tiên hay Phật cũng là tại nó.”

                                                                         (Quyển 4, Giác Mê Tâm Kệ).

             Nghiệm rằng trong con người ta có 2 phần:

             - Phần vô minh, ác tánh.

             - Phần sáng suốt, Phật tánh.

             Nếu không lo tu học để phát triển phần sáng suốt Phật tánh hầu thu hẹp dần phần vô minh ác tánh thì vô tình để cho vô minh ác tánh nảy nở, lấn áp hiện hình thành Ma. Lẽ nào ta chịu làm Ma ! Vậy dứt khoát ta phải tu học để được lợi ích :

             1/- Lìa Ma gần Phật, đạt nhân cách cao quí, được thương yêu quí trọng.

             2/- Bớt khổ thêm vui, đạt hạnh phúc như bản tính, mục tiêu đời sống con người.

             3/- Cố đạt lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ của nhân loại.

             4/- Phát huy tiềm năng Bi, Trí, Dũng - Tự Do – Bình Đẳng tự tánh vốn là các viên ngọc quí trong thân tâm con người.

             5/- Hiểu được lý Duyên khởi và Nhân quả nghiệp báo của nhà Phật.

             6/- Làm chủ và trách nhiệm hành vi (Biệt nghiệp) mình và cuộc đời (vận mạng) mình chớ không buông xuôi cho rằng Trời định như niềm tin cổ đại.

             7/- Liên đới trách nhiệm đường lối (Cộng nghiệp) đoàn thể xã hội và hiểu rõ tương tác qua lại giữa Biệt và Cộng nghiệp không thể rời nhau, tuy hai mà một.

             8/- Biết rằng con người chẳng những có khả năng làm chủ xây dựng đời mình mà còn có khả năng xây dựng xã hội mỗi ngày một tốt đẹp văn minh hơn.

             Chẳng những vậy, tu học còn để đền ơn đáp nghĩa, vốn là tình cảm không thể thiếu nơi con người:

             a)- Để đền ơn Tổ tiên cha mẹ,

             b)- Để trả ơn Đất nước,

        c)- Để đáp ơn Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng (theo nghĩa rộng),

             d)- Để biết ơn Đồng bào nhân loại,

             e)- Để tạo phước duyên ân đức cho thế hệ mai sau,

             g)- Để bảo vệ môi sinh muôn loài,

        h)- Để cầu Việt Nam nhân quyền dân chủ, Thế giới hòa bình.

             Tóm lại, ta phải tu học, nên tu học. Vì tu học chẳng những đem lại lợi ích tốt đẹp cho bản thân mà còn có thể làm lợi ích tốt đẹp cho gia đình, đoàn thể, cộng đồng, xã hội, quốc gia dân tộc và thế giới nhân loại nữa.

             Tuy nhiên cần lưu ý đâu đây lời dạy của Tổ Thầy:

        - TU tỉnh giác hiểu biết sự thật chớ không TU mê lầm, mê tín dị đoan.

        - TU khai phóng, cởi mở chớ không TU cố chấp tín điều, giáo điều.

        - TU nhập thế cứu đời, chớ đừng TU xuất thế trốn đời.

             Cầu nguyện ơn trên hộ độ toàn thể chúng ta được “vững bền cội tu”.

             Kính mong Quí đồng đạo góp ý sửa chữa, bổ khuyết, xin chân thành biết ơn./.

                                                                         Mai Văn Mến (11-11-2012)

    ____________________

    (*) Bên cạnh niềm tin Long Hoa Hội, tín đồ BSKH và PGHH còn lạc quan tin tưởng thuyết Tam Nguơn: Hạ Nguơn, Trung Nguơn, Thượng Nguơn; mô tả vận động Lịch sử do các hiền triết, sử gia Đông Tây tổng kết sau nầy.


Comments