9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 20‎ > ‎

23. Làng Hòa-Hảo trong tôi - Dư Thị Diễm Buồn


                                  LÀNG HÒA HẢO TRONG TÔI
                                                                                        Dư Thị Diễm Buồn

        Ông Hai Cừ thẩn thờ nhìn dòng nước từ Biển Hồ muôn đời xuôi ngược theo con nước lớn, nước ròng chảy ngang qua làng Hòa Hảo. Trên bờ sông trong cái nhà cất theo hình bánh ú để cho khách che nắng che mưa chờ đò qua lại bến Năng Gù đi các nơi, hoặc những dân trong làng đi đâu, hay họ trở về, hoặc khách thập phương đến thăm viếng Thánh Địa Hòa Hảo…

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 20

        Không nói lời nào với vài người đứng ngồi gần đó, ông Hai đưa mắt nhìn trời xa, lòng chợt buồn vời vợi. Có những chuyện xa xưa đã mấy mươi năm, tưởng chừng đã quên mất rồi, nhưng nó vẫn nằm trong ký ức ông. Để có dịp sống lại và cuồn cuộn trở về trong lòng, như chuyện xảy ra ông thấy, ông biết mới vài tuần hay tháng trước đây thôi.

        Từ ngày thôi vợ đến giờ cũng ngoài hai mươi năm, ông Hai Cừ chưa hề nghĩ đến mình sẽ bước thêm bước nữa. Tuy nhiên cũng có một vài thiếu phụ đi qua đời ông, nhưng chỉ là lúc mua vui qua đường giữa sự thỏa thuận của đôi bên mà thôi, vì chưa người đàn bà nào làm ông động lòng mà nghĩ đến sẽ kết tóc se tơ thêm lần nữa! Bởi hình ảnh dịu dàng hiền hậu của má con Hiền, vẫn còn lởn vởn trong lòng từ dáng dấp, cử chỉ cho đến giọng nói, tiếng cười hay cái thở dài thườn thượt của Đèo, vợ ông.

        Tình nghĩa vợ chồng keo sơn gắn bó! Có khi nửa đêm trở giấc mà nhớ đến bả thì không tài nào ông Hai ngủ ngay lại được! Đó là dấu ấn của cuộc đời, có lẽ tròn kiếp nầy không làm sao lu mờ, hay nhạt nhòa trong tấm lòng yêu thương vợ của ông Hai được.

        Hoàng hôn bóng ngả, cơn gió mát từ sông lồng lộng hù hù thổi vào. Những con chim bắt cá bay trên vòm trời trong, in những vầng mây ngũ sắc vàng, xanh, tím, đỏ… phản chiếu mặt nước sông chấp chóa đưa đẩy những giề lục bình, rau mát lờ lững trôi theo dòng nước. Đã sống lâu trong cái làng nhỏ như hải đảo, mây nước thanh cảnh êm đềm, nhưng ông Hai Cừ vẫn thích bầu trời về đêm hơn, bởi sát nhà ông, con sông dài ngút ngàn uốn quanh. Gần bờ, đèn xuồng câu ghe lưới ẩn hiện lác đác xa xa. Thường chừng mười một, mười hai giờ đêm ghe thương hồ vầy đoàn qua các tỉnh thành chạy ngang. Tàu kéo máy nổ xìn-xịt, chạy chậm rì, nhưng rồi cũng qua và khuất sau doi đất có cây cối rậm rạp.

        Trong đêm khuya thanh vắng, ông Hai nghe văng vẳng: “Hò ơ, ơ, ơ… Gió đưa gió đẩy về rẩy ăn còng, về sông ăn cá về đồng ăn cua/ Hò ơ, ơ, ơ…  Chớ anh về để áo lại đây, để khuya em đắp gió tây lạnh lùng…”  Giọng hò của thiếu phụ từ ghe chở hàng lanh lảnh trên sông dài... Rồi giọng hò nam đáp lại: “Hò ơ, ơ, ơ… Gió đẩy gió đưa sao vừa lòng bạn? Hò ơ, ơ, ơ… Chớ cái sông Giang Hà chỗ cạn chỗ sâu/ Hò ơ, ơ, ơ… Lạnh lùng lấy mùng mà đắp, xin em hãy trả áo để anh về/ Trả áo anh về kẻo vợ anh trông hò ơ, ơ, ơ…”.

        Nhớ đến đó ông Hai lắc đầu mỉm cười, ngồi xề xuống lấy gói thuốc rê mở bành để trên băng ngồi. Ông xé miếng giấy quyến trắng cở bằng bốn ngón tay nhập lại, đặt bên dưới, dùng tay chụm lá thuốc xắt nhuyễn phơi khô để vào giấy. Từ từ và nhẹ tay một chút, ông vấn thuốc lại thành điếu có đầu lớn đầu nhỏ. Ông lè lưỡi liếm mí giấy quyến bên ngoài, rồi lấy ngón tay trỏ vuốt kéo nhẹ một đường. Giấy mỏng có nước nên mí giấy dễ dàng dính lại, ông tự nhiên để đầu thuốc nhỏ vào miệng, bật lửa đốt hút.

        Ông hít một hơi dài rồi phà khói trắng. Nhìn theo khói thuốc bay chờn vờn, nét mặt ông thống khoái vô cùng. Nhưng như nhớ lại chuyện gì, ông Hai lật đật tóm gói gọn bì thuốc nhét vô túi, theo con đường đất trở về cái nhà nhỏ của mình gần đó, bởi ông nhớ đã gần đến ngày phải chuẩn bị hương đăng trà quả cúng cầu siêu cho má ông.

        Mấy năm sau ngày bà thân sanh ông Hai Cừ qua đời, nghe theo lời khuyên của con gái, ông khăn gói đến thăm thôn Hòa Hảo một chuyến. Trở về không bao lâu ông quyết định dời đến sống ở đây, để sáng chiều được nghe tiếng ngâm sấm giảng, nghe lời khuyến tu của Đức Thầy để hướng đạo tâm lành… sống cho hết kiếp nhân sinh còn lại của mình.

        Làng Hòa Hảo cảnh sắc êm đềm, hiền hòa. Thôn dân không đua đòi, không mua quan bán chức, không ham gấm lụa giàu sang, không nhà lầu, không “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” giống nhiều thôn khác. Làng Hòa Hảo cũng không phải là thế ngoại đào viên. Đây chỉ là một làng bình phàm, ở tận cuối trời nước Việt, gần biên giới các nước láng giềng. Nhưng làng Hòa Hảo là nơi sản sanh ra Đức Huỳnh Giáo Chủ, sau nầy khai sáng đạo Phật Giáo Hòa Hảo, một nền Đạo phát sinh từ lòng dân tộc.

        Thôn dân nhờ sự dẫn dắt hướng đạo tâm lành, khuyên người đời chuyên tâm tu hành, niệm Phật theo Giáo lý của Đức Thầy, nên những ai sống trong làng Hòa Hảo không ganh đua, không tranh giành… Họ không giàu có, chỉ đủ ăn, đủ mặc…nhưng người dân sống trong làng Hòa Hảo tu tâm dưỡng tánh, ăn hiền ở lành, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau khi tắt lửa tối đèn dù chỉ là chòm xóm. Họ có cuộc sống an bình, tâm hồn lương thiện, thanh thản luôn bằng lòng với những gì mình hiện có. Như vậy là họ đã tạo cho chính mình có một gia tài khổng lồ phước đức, hưởng hoài không hết.

        Đã qua bao nhiêu thăng trầm của quê hương. Rồi sau cuộc đổi đời tang thương cho một miền Nam tự do, và nước Việt Nam hoàn toàn bị nhuộm đỏ bởi Cộng sản, đã khiến cho đứa con gái Bùi Thị Hiền của ông Bùi Văn Cừ và vợ là bà Võ Thị Đèo giờ ở xa lắm! Con gái Hiền xa ông hơn nửa vòng trái đất. Lúc vợ chồng thôi nhau, thì con Hiền của ông chưa đầy bốn tuổi, cái tuổi của một đứa bé cần tình thương yêu chăm sóc của cha lẫn mẹ để khôn lớn!

        Năm nay ông Hai Cừ cũng đã ngoài chín mươi, ở cái tuổi gần đất xa trời bất cứ lúc nào. Tuy giờ đây lòng già dằng dặc nhớ thương con, nhưng ông không hề lo ngại hay sợ sệt cô đơn cho chuyện sẽ đến với mình. Mấy chục năm qua, sống ở làng Hòa Hảo sớm chiều được nghe tiếng Sấm giảng ngâm vang,  ông cảm thấy tâm hồn yên ổn thoải mái, an vui bình thản để đi hết quãng đường đời còn lại của mình.

          Năm đó, cũng đã lâu lắm rồi, Hiền được ba cho cùng các bạn mướn nhà ở gần trường, để đi học cho tiện. Nhà mướn nằm sát bờ ngoài vàm sông Cái Bè. Sông Cái Bè không biết bắt nguồn từ đâu, nhưng dòng sông chạy ra nhập vào nhánh Tiền Giang rộng mênh mông và dài ngút mắt. Nước ở khúc sông nầy trong xanh, về mùa nước rong màu nước trở nên đục ngầu vì có nhiều phù sa. Nước ở đây vẫn ngọt suốt tháng quanh năm đời nầy qua đời khác. Vì Cái Bè vốn ở xa biển Tân Thành (Gò Công), cũng xa các cửa biển thuộc lãnh thổ Bến Tre, nên dù gặp mùa gió chướng, nước biển chảy vào nhưng cũng không làm sao lên tới để pha lợ dòng nước ngọt muôn đời của sông Cái Bè.

        Về mùa mưa, khi bầu trời trở màu u ám vì mây khói đèn bốn phương kéo về giăng phủ. Giông gió thổi mạnh làm cây cối ngả nghiêng, oằn oại. Những tia chớp vội sáng lòe rồi phụt tắt! Sấm đùng đùng tưởng chừng như trời long đất lở, gò nỗng cũng bay lên. Mưa nhiều thì nước sông dâng cao hơn bình thường, và sóng lớn vỗ vào bờ ầm ầm.

        Nhà Hiền mướn ở thuộc vùng đất cao, nên nước chỉ văng tung tóe bởi sóng to gió lớn chớ không tràn lên bờ được. Thế cho nên tấm vách sau gần mé nước luôn được chủ nhà thay, vì bị nước ngấm dễ bị mục. Chủ nhà gỡ bỏ ván đi, xây bằng gạch tấm vách ở phía bờ sông. Họ trổ thêm cái cửa sổ có song sắt, và hai cánh cửa lá sách cho gió mát và ánh sáng tràn vào nhà, hoặc đóng lại khi gặp trời gió lớn, mưa to.

        Những buổi chiều về trời yên mây tạnh, Hiền thường ngắm mặt trời hình tròn dài như cái trứng gà, có màu vàng cam treo lơ lửng ở phía tây, áng lưa thưa là những vầng mây mỏng tím, hồng, vàng, xanh… Càng về chiều mặt trời khuất dần sau những ngọn cây cao bên kia bờ sông. Nắng hoàng hôn lóe những màu sắc pha trộn trải lấp lánh trên ngọn sóng nước bồng bềnh trong tầm mắt cô.

        Thiên nhiên đã cho Hiền một cảm giác nhẹ nhàng, thơ thới như nhìn bức tranh hoàng hôn khổng lồ bảng lảng chấp chóa trên sông, phản chiếu ánh sáng những màu sắc lộng lẫy diễm tuyệt của buổi hoàng hôn gần tắt nắng.

        Cái Bè là một quận trong những quận trù phú, thuộc địa phận của tỉnh Mỹ Tho. Huyện nầy có ruộng lúa mênh mông, vườn ăn cây trái, như: Xoài cát đen nổi tiếng ở Hòa Lộc thuộc làng Mỹ Lương và các làng lân cận, Cam hồng mật ở Mỹ Đức Tây, Ổi xá-li, bòn bon, chôm chôm… ở An Hữu, Hòa Khánh, Mỹ Thiện… Thủy sản nổi tiếng Ốc gạo ở Cái Thia, cù lao và các loại cá phèn, cá trèn bầu, tôm càng xanh… Nếu lọt vào từ Xa-cảng miền Tây đến giáp ranh biên giới Việt-Miên, hễ đi về đến đâu cũng có cây lành đơm trái ngọt, tôm cá đầy sông, khoai củ hàng đống, lúa nếp đầy bồ… của một miền Nam Cộng Hòa phồn vinh.

        Hiền sanh ra và lớn lên ở làng quê. Ba má cô thôi nhau, nhưng cô sống với cha. Ông cho cô ra huyện học lớp nhì, để sau bốn lần thi Lục cá nguyệt (lớp nhì và lớp nhứt) đủ điểm thì sẽ được bằng Tiểu học.

        Rồi cô thi đậu vào trường Trung học Cái Bè năm 1959 mới thành lập. Năm đó trường mở niên học đầu tiên, gồm có hai lớp Đệ thất 1 và Đệ thất 2. Mỗi lớp có khoảng 50 học sinh: Lớp Đệ thất 1 có 40 nữ và 10 nam sinh nhỏ (nhỏ con, nhưng đủ tuổi vào Trung học). Toàn nam sinh học lớp Đệ thất 2. Hiệu Trưởng của Tiểu học ông Võ Văn Thể kiêm nhiệm Hiệu Trưởng Trung học tạm thời, để chờ Bộ Giáo Dục bổ nhiệm Hiệu Trưởng thực thụ cho trường Trung học Cái Bè.

        Hiền nhớ ba ông thầy giáo đến dạy trường Trung học Cái Bè đầu tiên là thầy: Nguyễn Thanh Hiền là người Nam, thầy Nguyễn Hữu Phúc, và Trần Duy Khang người miền Bắc.

        Nữ sinh Bùi thị Hiền có dáng cao ráo, mái tóc dài óng mượt. Khuôn mặt cô phúc hậu, mũi cao, mắt to với bờ mi dài và buồn vời vợi mỗi khi bắt gặp cô ngồi trầm ngâm một mình! Không buồn sao được? Ba má Hiền vẫn còn khỏe mạnh mà vì hoàn cảnh gia đình ba cô hiếu thảo với bà nội,  đành phải chia lìa mỗi người một nơi. Để cho cô gần mẹ thì xa cha, gần cha thì xa mẹ! Cho đến khi khôn lớn Hiền mới biết cha mẹ mình vẫn còn thương yêu đối phương lắm!

        Bốn năm giồi mài kinh sử biết bao nhiêu là kỷ niệm với sân trường, lớp học, bạn bè, thầy cô ở quận lỵ bé nhỏ hiền hòa Cái Bè. Hết năm Đệ Tứ Hiền phải theo gia đình người cậu, xin vào học Đệ nhị cấp ở trường nữ Trung học Đoàn Thị Điểm Cần Thơ. 

        Mỹ Tho đã hiền hòa trong mắt Hiền, giờ Tây Đô còn có nhiều cảnh sắc nổi tiếng, và nhiều thứ khác trội hơn, lại là nơi sản sanh nhiều kiều nữ, nhiều tài hoa nổi tiếng vang bóng một thời về Giáo dục, Văn hóa, Xã hội, quân nhân, công chức trong các cơ quan Chánh quyền… Nét đặc-thù đó đã khiến cho người một lần đến thăm Cần Thơ thì khó quên, bởi vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh trái ngọt cây lành và dân tình hiền lương giàu lòng nhân nghĩa đó mà!

        Về Cần Thơ học, Hiền có dịp cùng nhóm sinh viên học sinh trong đoàn Thanh Niên Thiện Chí tổ chức đi cắm trại ở miền quê. Nhờ đi cắm trại lần đó Hiền được đến và mới biết vùng Thánh Địa Hòa Hảo.

        Trên đường Long Xuyên qua Châu Đốc, Hiền cùng ba người bạn (một nữ hai nam) với Hiền nữa là bốn người, ghé bến Năng Gù đi đò chèo qua sông vào làng Hòa Hảo.

        Bọn Hiền qua sông khệ nệ xách túi nải lên bến, ngồi ở nhà nghỉ chờ anh đại diện vào trình với Xã-trưởng và báo cho họ biết, trong hai ngày sắp tới sẽ có thêm khoảng mười người nữa đến đây. Mục đích của đoàn chúng tôi là vừa du ngoạn, vừa giúp địa phương tu bổ trường học, đường, cầu, đình chùa… Nói tóm lại những nơi công cộng trong làng cần được tu sửa với khả năng của đoàn sẽ giúp đỡ về nhiều mặt nếu có thể.

        Hiền phóng tầm mắt nhìn quanh. Làng Hòa Hảo giống như một hải đảo giữa vùng trời nước bao la, và hết sức yên tịnh. Sau nầy Hiền mới biết, trong khi bọn họ lơ ngơ chờ anh trưởng toán vào gặp Trưởng làng chưa được nửa giờ, thì dân từ đầu đến cuối thôn đều biết, có toán bốn thanh niên lạ mặt đã vào làng! Ðiều nầy chứng tỏ trong làng về an ninh được bảo đảm chặt chẽ. Truyền tin được nhanh chóng như vậy, là nhờ bắt đầu từ nhà ở đầu làng, rồi nhà nầy gọi truyền báo cho nhà kia biết…

        Bốn sinh viên nầy đến đây trước để chờ đón các bạn xuống đủ rồi cùng nhau bắt tay làm việc. Họ được dân làng vui vẻ tiếp nhận và đưa đến ở tạm trong trường học (thời gian nầy học trò nghỉ hè).

        Từ ngày thành lập đạo Phật Giáo Hòa Hảo đến nay, đa số các quán ăn tại Thánh Địa Hòa Hảo ít khi bán các món ăn mặn, chợ búa chỉ bán các động vật như gà, heo, tôm, cá… tuyệt đối không thấy bán thịt các động vật lớn như bò, trâu, ngựa,... Sau khi cả bọn lo việc chỗ ăn ở tạm xong thì trời cũng về chiều. Vì mới đến, nên chiều hôm đó bốn cô cậu ra tiệm ăn hủ tiếu chay.

        Chạng vạng đỏ đèn, thì bóng đêm cũng từ từ buông xuống. Phương đông, vầng trăng ngạo nghễ nhú lên phá tan màn tối của đêm. Trăng tỏa ánh sáng vàng thanh thoát trải xuống muôn loài. Cơn gió mát từ sông, từ khoảng đồng xa thổi vào thôn xóm. Cây lá va chạm vào nhau rào rào ở đám phi lau ven bên vàm sông như lả lơi, cợt đùa cùng trăng thanh gió mát.

        Nhìn dòng sông dài ngút ngàn, càng về khuya càng vắng tàu bè. Xuồng bơi, ghe chèo nhanh tay, hoặc chiếc có gắn máy đuôi tôm chạy rè rè vụt qua như đi đâu về muộn, hoặc chiếc tàu lớn kéo những chiếc ghe chài chở khẳm mía, gạo, cá, đồ gốm… hướng về miệt chợ tỉnh, chợ thành.

        Hiền thích thú lắng nghe từ đoàn ghe thương hồ xuôi dòng nước, tiếng hò lơ giọng nữ lanh lảnh ngân nga quyện trong gió: “Hò ờ, ơ, ơ…Chiều nay em bơi xuồng trên sông dài sóng dữ/ Nhớ người cô lữ, em muốn tự tử cho rồi/ Sống làm chi mà biệt ly quân tử/ Thác cho rồi, cho trọn chữ thủy chung…”. Giọng trầm bổng phấn khởi của giọng nam hò đáp lại: “Hò ơ, ơ, ơ… Mặt trời vừa lặn, mặt trăng vừa ló/ Nè em Hai ơi, anh xin bày tỏ với nàng/ Con gái ông Bang, con gái ông Phủ anh cũng không màng/ Chỉ thương con bạn ngọc, biết đá biết vàng nầy thôi…”.

        Những giọng hò đối đáp của nam nữ chuyền từ ghe thương hồ nầy qua ghe kia, tạo cho đêm trăng sáng trên sông thêm phong vị hữu tình.

        Lúc đầu hôm, Hiền và các bạn hứa theo bà Năm (dân kỳ cựu, ở gần trường học) đi chợ làng. Sáng gà gáy mấy hiệp còn nằm nướng, Hiền đã nghe tiếng ngâm Sấm giảng trên loa phóng thanh vang vang, rền vọng đó đây. Với giọng ngọt ngào, ấm áp đưa vào thấm nhuần tâm hồn người. Lời Sấm giảng khuyên người đời nên ăn hiền ở lành, tích phước đức để tránh tai nạn có thể đến trong kiếp nầy và được hưởng phước lộc trời cho ở kiếp lai sanh…

        - Cô Hiền và mấy thầy cô thức chưa, đã sẵn sàng để cùng đi chợ chưa? Tui đây, tui là dì Năm đây…

        Hiền giựt mình hoảng hồn, thấy như có bóng mập mờ đến gần sát mùng! Nghe tiếng thì ra bà Năm, cô tung mền ngồi dậy kẹp lại mớ tóc và gọi bạn cùng thức.

        Nghe gọi vực giọng, có đứa còn mê ngủ lè nhè:

        - Sao sớm quá vậy, khuya lơ khuya lắc thì có chợ búa gì đâu mà đi?

        Bà Năm đứng chờ xen vào:

        - Đây là chợ quê, chợ làng quý thầy cô ơi! Giờ nầy chợ đã nhóm rồi, mặt trời mọc là tan. Nếu đi hãy lẹ lên, chậm chạp thì không kịp dự phiên chợ sáng hôm nay đó…

        Hiền chạy ra lu nước rửa mặt qua loa, vào mặc chồng thêm cái áo dài tay, quơ vội cái nón vải đội lên đầu rồi lớn tiếng cố tình đánh thức các bạn thêm lần nữa:

        - Mấy người nằm nướng thì đi sau để quét chợ và lượm rác nghe… Tui đi trước với bác Năm đó. Thiệt tình, đã ngủ mấy chục năm chưa đã sao mà giờ còn thèm ngủ dữ vậy?

        Vừa nói, Hiền vừa cười hí hí bước theo sau bà Năm. Chu đáo bà Năm đưa cho Hiền cái giỏ xách bằng tre đương, còn bà thủ sẵn cái thúng giê. Hai bóng người mờ ảo trong trời còn tối hù, xăng xái đi lần ra cổng đình rồi quẹo phải thẳng đường ra chợ làng. Trong khi ba con sâu lười biếng bạn của Hiền trở mình rồi tiếp tục giấc ngủ “Mơ tiên mắc đọa/ Chuột sạ đầu thai” Nghĩ như vậy, cô bật cười thành tiếng vì tự nhiên mình nhớ đến câu đó đã nghe ai nói từ lâu lắm rồi!

        Gió sáng mát lạnh, bà Năm mặc bên ngoài chiếc áo bằng the cũ, màu măng cụt mỏng te lồ lộ chiếc áo túi lỡ bên trong màu trắng thấy rõ có mấy miếng vải vá trên vai.

        Trên trời, những chòm sao vẫn còn chi chít trên trời cao đen ngòm ngòm. Vài nhà thức sớm đã có ánh đèn le lói, và làn khói trắng bay trong bếp lửa hồng đun cơm. Những cây ăn trái trồng theo đường đi, theo gió đùa cọ quẹt vào nhau buông âm thanh rào rào, và cây cau hoa nở rộ đâu đây tỏa hương ngọt ngào.

        Từ xa, Hiền đã thấy chùm nhum nhiều ánh đèn măng-xông (manchon) sáng chói từ nhiều nhà vách liền san sát vào nhau. Đó là khu phố chợ của dân làng Hòa Hảo. Dọc theo hai dãy tiệm cũng đầy đủ các quán hàng bán: cháo, cà-phê, hủ tíu, bánh canh, bánh mì… bánh xèo, bánh khọt. Lác đác có tiệm nhổ răng, tiệm may, tiệm chụp hình, tiệm hớt tóc. Tiệm hàng xén bán những vật dụng gia vị thường ngày nấu ăn, có tương, chao, dầu lửa, thuốc và giấy hút thuốc. Có bánh kẹo, và một cái kệ chứa thuốc trị các bệnh thông thường như nhức đầu, nóng lạnh, có cao đơn, huờn tán, dầu cù-là Mác-su, dầu Nhị Thiên Đường, thuốc đỏ, thuốc tím…

        Bên ngoài một khúc đường dài là chợ chồm hổm. Những thúng nhỏ, thúng lớn, xề lớn, xề nhỏ, nia, sàng, cần xé… đựng trái cây, bắp, khoai, rau, cải, đậu… mía, khóm ở địa phương và các nơi chở về bán đầy chợ không thiếu món chi, đậu hủ các loại, chao, tương hột, nước tương… Đến hàng bánh, các loại: bánh bò, bánh đúc, bánh cúng, bánh da lợn, bánh chuối, bánh bèo, bánh ít, bánh tét nhưn chuối nhưn đậu, bánh ú, bánh tráng, bánh phồng… Sôi nếp than, sôi vò, sôi bắp, sôi đậu đen…

        Rẻ lắm chỉ năm mươi xu một gói, mua ăn mệt nghỉ! Cứ mua mười thì được tặng thêm hai. Còn trái cây một chục đủ đầu mười sáu, hoặc mười tám trái. Hiền mua lủ khủ đựng cả giỏ xách, mua ăn trừ cơm trưa cả cơm chìều cho ba người bạn còn say giấc điệp ở nhà.

        Nhưng Hiền chỉ mua có ngày đầu thôi, ngày thứ hai và suốt thời gian sau nầy, dân trong làng không cho bọn Hiền tự nấu, hay ra quán ăn nữa. Họ chia mấy người đến một nhà, ăn cơm chay và nghỉ ngơi trong suốt khoảng thời gian đến giúp cho làng Hòa Hảo.

        Ba tuần lễ qua nhanh, đoàn Thanh Niên Thiện Chí nhờ có sự tiếp tay của dân làng cất được một trường có hai lớp học cho trẻ em, và bắc cây cầu cao có tay gượng, có thang bước xuống chiếc đò ở bến, thay cho cây cầu nhủi trơn trợt bám sình đất phù sa theo nước lớn nước ròng.

        Những ngày ở đây, Hiền biết được dân sống ở làng Hòa Hảo cũng đi ra ngoài làm thuê làm mướn, buôn bán, hoặc là công chức… Thường họ có công ăn việc làm ở các tỉnh thành gần như: chợ Châu Đốc, Long Xuyên… Sáng đi làm chiều về, hoặc cuối tuần họ trở về. Có những người làm ruộng làm rẫy, trồng cây ăn trái ở địa phương. Cũng có người không ăn nhưng cũng đi chài lưới, bắt tôm cá bán, hoặc trao đổi với những ghe thương hồ, bạn hàng những vật dụng cần thiết cho gia đình…

        Làng Hòa Hảo thuở đó có nhiều phụ nữ, trẻ em học Tiểu học và cả người lớn tuổi. Đa số dân sống trong làng đều ăn chay trường. Ở chợ, các hàng quán… phần lớn đều bán những món ăn chay. Sáng trưa chiều được nghe sấm giảng, nghe cầu nguyện trước bàn thờ Ông bà và niệm Phật trước ngôi Tam bảo…

        Bà Năm ở đây lâu rồi, hôm đó rỗi rảnh qua nhà bà đãi chuối Xiêm nướng nếp, khoai nướng chan nước cốt dừa.

        Bà đã tâm sự với Hiền:

        - Gia đình ba má tôi ở Long Xuyên. Tôi được gả về đây sống cũng mười chín hai mươi năm rồi cô, bao nhiêu năm nay sống ở nơi nầy chưa ai nghe tiếng súng nổ. Cũng không nghe ai đôi chối, chưởi bới nhau hay ăn cắp vặt… thì nói chi đến trộm, hoặc cướp. Dân ở đây học theo lời Sấm giảng, sự dạy dỗ của Đức Thầy nên ăn ngay ở thẳng, chí tình, chí nghĩa, thương mến, giúp đỡ lẫn nhau như con một cha. Nên dân làng Hòa Hảo thiệt tình, hiền lành chân chất, đùm bọc thương yêu nhau lắm.

        Hiền cười cảm tình nhìn bà Năm:

        - Bác không nói ra, cháu cũng đoán biết được dân làng hiền lương, thật tình và có lòng giúp đỡ kẻ khác. Điển hình thấy hai bác và gia đình mấy người con bác là chúng cháu biết ngay mà! Hôm anh bạn trong nhóm cháu vô tình làm rớt cây búa đứt chân chảy máu quá chừng. Bác trai và các con bác đã thay phiên võng anh đến trạm y tế. Cả làng chạy đến thuốc men, chăm sóc, giúp đỡ, hỏi han đủ điều. Nếu ở nơi khác, thành thị khác, ngoài người thân ra chỉ còn có nước tự vào bệnh viện cấp cứu thôi bác à.

        Làng Hòa Hảo là một làng nhỏ ở miền Tây, gần cuối nước Việt. Nơi đó có cảnh sắc yên vui êm đềm, dân tình thật thà chơn chất làm ăn. Họ sống đời bình đạm trường chay, không gian tham, không ganh ghét, đua đòi, tị hiềm hay tranh giành quyền lợi, như xa cõi phàm trần, mặc dù thành phố phồn thịnh, đô hội, bon chen như Châu Đốc, Long Xuyên không xa cho lắm.

        Có được một nơi an bình thánh thiện như làng Hòa Hảo là nhờ ân duyên trời định cho sản sanh một Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ để dìu dắt dân lành. Cũng là bước khởi đầu gieo mầm truyền đạo Phật Giáo Hòa Hảo trường tồn cho đến ngày nay.

        Quê hương giờ quá xa với những người Việt bôn đào ra hải ngoại để tỵ nạn Cộng sản. Hiền cũng không ngoại lệ, dòng thời gian đã đưa cô xa, xa tít mãi… Mỗi lần nhớ về quê hương là nhớ về Hòa Hảo, nơi cha của Hiền mấy mươi năm sống vui khỏe, an ổn tâm hồn. Nơi đó đã cho niềm hy vọng, và đức tin có Ơn Trên, có Thánh Thần làm thiện tích phước, và hiểu biết thẩm thấu hơn luật nhân quả tuần hoàn“Trồng cây lành vị quả thơm tho, Tuy không thấy mà sau chẳng mất” để có được sự an nhiên, thanh thản ở tâm hồn trên đường đời mà kiếp người vốn phải dấn bước …

        Nếu ai đã nói trên thế giới duy nhứt có Làng Mai, Làng Hồng nào đó ở Pháp, ở Anh là nơi tịnh tâm và trường chay. Như vậy hãy còn thiếu sót, vì từ lâu, lâu lắm rồi, có hơn bảy mươi (70) năm trước, nước Việt Nam đã có một làng, nhờ sự dìu dắt của Đức Thầy mà thôn dân phát nguyện: tu tâm, dưỡng tánh, hướng thiện, tâm lành, “Tích thiện tùng thiện/ Tích phước tùng phước”, trường chay. Đó là Thánh Địa Hòa Hảo ở miền Nam nước Việt dưới Chánh thể Cộng Hòa.

        Quê hương nay trong tay Cộng sản vô thần! Chúng đã dùng mọi thủ đoạn chèn ép, bắt bớ tất cả các tôn giáo chớ không riêng gì Phật Giáo Hòa Hảo. Chúng có thể làm nhục thể xác, bần cùng hóa con người bắt vào tù cải tạo, khảo tra, đọa đày…trong vòng kiềm tỏa của chúng. Nhưng không làm sao chúng nhốt được tâm linh của con người. Nhân quả tuần hoàn:“Trời cao có mắt/ Lưới trời lồng lộng/ Sẽ có người giết hắn thay ta.” hay như trong Sấm giảng, Đức Thầy có dạy: “Luật nhơn quả thật là cao viễn, Suốt cổ kim chẳng lọt một ai.”  Hãy chờ mà xem, kim ngôn đó không bao giờ thay đổi!

                “.............

                Qua đò Năng Gù, vào làng Hòa Hảo,

                Ngắm Cửu Long mở vàm rộng thênh thang.

                Hai bên bờ, cây xanh ngút bạt ngàn,

                Đón nước ngọt Biển Hồ sang xứ Việt.

                Làng Hòa Hảo dân chân tình mật thiết,

                Chuyên tu tâm dưỡng tánh với trường trai.

                Sống an nhàn, chăm cấy lúa trồng khoai,

                Giáo lý “Tứ Ân”... làm lành tích thiện.  

                Vùng trời hiền hòa, an bình vang tiếng,

                Có trường tồn trong vận nước nổi trôi?

                Và Thánh Địa Hòa Hảo của tôi ơi!

                Tôi mong ước có ngày về thăm lại...”

                                                (Trích từ Thi tập: QHNEL 2000)

                                                California, mùa xuân 2012

                                                Tệ xá Diễm Diễm Khánh An

                                                          DƯ THỊ DIỄM BUỒN
 
Bàn Tiếp-Tân trong Hội trường Đại Lễ Khai Đạo.

Bàn Tiếp-Tân trong Hội trường Đại Lễ Khai Đạo.

 
Comments