9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 20‎ > ‎

21. Biết là Sống - Hồng Liên Cư Sĩ

BIẾT LÀ SỐNG

                                                                                   Hồng Liên Cư Sĩ

                          “Ai biết tri việc phải cứ làm,

                          Sau mới biết ai Phàm ai Thánh.”

                                                              (Giác Mê tâm kệ, Q.4)

        Hôm nay chúng tôi xin mạo muội trình bày về đề tài: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết là sống.” qua sự nghiên cứu, hiểu biết của mình. Theo chúng tôi nhận xét, ở trong đời có bốn hạng người là:

                1.- Hạng khôn dại,

                2.- Hạng khôn ngoan,

                3.- Hạng ngu đần,

                4.- Hạng giả ngu.

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 20

1.- HẠNG  KHÔN DẠI

                         “Khắp cùng thành thị hương thôn,

                          Vì khôn quá thế nên tồn lại ngu.”

                                                                        (Thiên lý ca)

        Nói đến khôn dại là hạng người có trí mà không có tâm, hay xảo trá gạt lường:

                         “Học chữ nghĩa cho thông cho thái,

                          Đặng xuê xang đài các xe tàu.

                          Tiếng chào mừng cửa miệng làm màu,

                          Trong tâm ý mưu mô đủ thế.”

                                                                        (Giác Mê tâm kệ, Q.4)

        Thông thường ở trong đời, người ta có chút hiểu biết hay học thức nên tự cho mình là người khôn ngoan, rồi xem Thiên-hạ chẳng ra cái gì cả; cũng có hạng người gặp được thời vận làm nên sự nghiệp, rồi cho người làm ăn thất bại là kẻ ngu hèn.

        Theo chúng tôi nhận xét, hạng người học thức mà ỷ mình tự cao tự đại rồi xem thường thiên-hạ, chỉ biết sống cách mưu mô xảo trá, gạt lường, thì những hạng người này, sẽ gánh lấy một hậu quả chua cay. Còn hạng người làm nên sự nghiệp rồi khinh dể người làm ăn thất bại, thì người đó chắc chắn hậu quả sẽ bị người đời khinh dể lại.

        Ca dao Việt Nam có câu:

                        “Cười người chớ khá cười lâu,

                Cười người hôm trước, hôm sau người cười.”

        Sống ở đời, chúng ta phải biết tôn trọng lẫn nhau thì sự sống mới được êm đẹp và an vui. Biết kính trọng lẫn nhau mới kéo dài được sự sống cho mình và cho cả mọi người, sự sống như vậy mới có ý nghĩa, nếu sống chỉ biết xảo trá lường gạt lẫn nhau, tinh thần không lúc nào yên ổn. Thế nên thân xác không được thọ mạng lâu dài, nhiều khi phải gánh lấy tai vạ, sống ỷ mình khôn ngoan, coi thiên hạ chẳng ra gì, thì thiên hạ không ủng hộ, mặc dù có tài cán cũng không làm cái gì nên thân, sống như thế có ý nghĩa gì đâu; đó là người sống theo kiểu khôn mà dại. Như vậy sống mà như đã chết:

                        “Khôn ngoan thời những chuyện gì,

                         Cũng là lừa dối vậy thì dân quê.”

                                                                        (Sám giảng, Q.3)

        Khôn như Bá-Hỉ lại phản bội gạt lừa Vua Ngô-Phù-Sai, cuối cùng tên gian thần này bị Việt-Câu-Tiển giết chết. Mưu lược như Hàn-Tín giúp cho Hán Lưu-Bang thành công, lại không chịu trí-sĩ an phận như Trương-Lương, mà còn đòi cắt đất phong Vương, nên ông phải chết trong tay Lã-Hậu. Trương-Ban-Xương và Tần-Cối là hai tên gian thần mãi quốc cầu vinh, mưu hại Trung-thần Nhạc-Phi và vua Tống Khâm-Tôn, về sau hai tên gian thần này bị Ngột-Truật giết chết. Dương-Tu hiểu thấu lòng dạ của Tào-Tháo nhưng ông không biết giữ kín miệng, nên phải chết vì tánh đa nghi của Tào-Tháo. Văn-Chủng giúp Việt-Câu-Tiển thành công, không nghe lời khuyên của Phạm-Lãi để ra đi mà ở lại nên phải chết trong tay Câu-Tiển.

        Phụ chú:

        - “Cao điểu tận, lương cung tàn (Chim trời không còn, cung bị bẻ).

        - Giảo thố diệt, cẩu tẩu phanh (Thỏ rừng hết, chó săn bị làm thịt).

        - Địch quốc phá, mưu thần vong.” (Dẹp giặc xong, mưu thần phải vong mạng). Lời của Phạm-Lãi.

        Nói tóm lại, những kẻ tự cao, tự đại chỉ biết mình không biết người, cho mình là kẻ khôn ngoan khinh thường mọi người, rồi cuối cùng rước lấy thất bại chua cay nên trở thành kẻ ngu, đây là hạng khôn mà dại, sống cũng như chết:

                        “Kẻ tự cho mình khôn là dại,

                         Người bị cho là dại lại khôn.”

                                                                        (Thanh Sĩ)

                        “Danh tiếng lẫy lừng, danh tiếng hại,

                         Tuổi tên lộng lẫy, tuổi tên trù.

                         Bao nhiêu bay nhẩy, bao nhiêu dại,

                         Mấy trận tài khôn, mấy trận ngu.”

                                                                        (Nguyễn công Trứ)

2.- HẠNG KHÔN NGOAN

                         “Đấng nam nhi ẩn nhẫn tùy thời,

                          Vậy mới gọi khôn ngoan hữu chí.”

                                                                        (Q.4, Giác mê tâm kệ)

        Hạng người khôn ngoan là người sống có trí và tâm. Họ không lường  gạt ai cũng không bị ai lường gạt, biết mình và biết người, không tự cao tự đại, luôn hạ mình khiêm nhượng, không ỷ mình chê chúng. Cho nên họ vượt qua tất cả trở ngại, mọi việc gút mắc đều được gở suôn bởi vì được sự ủng hộ của mọi người. Vì vậy, mọi việc làm nào cũng được thành công, đó mới gọi là hạng người khôn mà ngoan, khác với kẻ khôn mà dại.

        Sách xưa có câu: “Minh trí khả dĩ thiệp gian nguy” (Sáng suốt khôn ngoan vượt qua mọi gian nan nguy hiểm).

        Người khôn ngoan sống là biết tùy thời, chớ không sống xu thời. Có một số người thường hay hiểu lầm câu mà người ta thường nói: “Nắng bề nào che bề nấy” là biết sống tùy thời. Theo sự hiểu biết của chúng tôi đó là lối sống chỉ biết xu hướng nịnh bợ kẻ hung sùng, có uy quyền thế lực mà thôi, chớ không phải cách sống biết tùy thời, tùy thời là tùy cơ ứng biến, như Đức Thầy, chống giặc Tây mà ở gần với người Tây để tìm cách chống Tây, để bảo vệ dân tộc quốc gia, mới đúng với câu: “Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách thắng.” (Biết người biết ta trăm trận trăm thắng).

        Khi thất thủ thành Hạ-Bì, Quan-Công định tử tiết, Trương-Liêu là mưu sĩ của Tào-Tháo, biết rõ ý định của Quan-Công liền đi vào gặp Quan-Công tìm cách dụ hàng. Quan-Công thấy Trương-Liêu bất ngờ vào, liền hỏi: Ngươi vào gặp ta để dụ hàng phải không? Trương-Liêu đáp: Hôm nay tôi đến thăm ông vì tình bạn năm xưa, không phải đến đây để dụ hàng, và vì sợ tánh nghĩa khí của ông khi thành bị thất thủ mà tuẫn tiết nên tôi rất uổng cho một Hiền Tài, nếu ông chết đi ông có 3 cái tội lớn:

        1/- Tội thứ nhứt là thân hữu dụng cho nhà Hán, ông chết đi khi Quốc Gia cần đến thì đâu còn mà nhờ,

        2/- Tội thứ hai, ông chết rồi ai phò tá cho nhị Tẩu,

        3/- Tội thứ ba là Huynh trưởng còn thất lạc khi chưa tìm được.

        Quan-Công nghe Trương-Liêu phân trần có lý, liền hỏi: Như vậy ta phải làm sao? Trương-Liêu mừng thầm, liền đáp: Người Nam nhi có chí cả là phải biết tùy thời, vậy lúc này anh nên qua ở tạm với Tào-Tháo để chờ cơ hội, việc này tôi sẽ giúp dùm cho. Quan-Công suy nghĩ hồi lâu rồi trả lời: Thôi cũng được, nếu ta về với Tào-Tháo, ta cũng xin có ba điều, nếu chấp nhận ta sẽ về ở với Tào-Tháo, nếu không được thì thôi. Đây là cách khôn ngoan của Quan-Công để tìm con đường sống.

        1/- Ta đầu Hán chớ không đầu Tào,

        2/- Lấy lương bổng của anh ta chu cấp cho nhị-Tẩu,

        3/- Khi ta biết Huynh trưởng ở đâu, ta sẽ về không được ngăn cản.

        Trương-Liêu về thuật cho Táo-Tháo nghe đầu đuôi tự sự. Lúc đầu Tào-Tháo không chấp nhận, Trương-Liêu mới phân trần cho Tào-Tháo biết rằng Quan-Công là người sống có nghĩa khí, khi y thọ ơn là nhớ ơn, nếu Thừa-Tướng dùng y mà luôn ban ơn thì y không bao giờ vong ơn. Tháo nghe lời phân trần của Trương-Liêu có lý nên cuối cùng chấp nhận ý kiến của Trương-Liêu.

        Nói tóm lại, tuy Quan-Công về ở với Tào nhưng không đầu phục Tào, lúc nào ông cũng nuôi chí chờ cơ hội găp lại Huynh trưởng để gầy dựng lại cơ-đồ. Đây là lòng trung cang nghĩa khí của ông, dù ông có chết đi thì ông cũng là người sống mãi.

                         “Cuộc gian nan như Lưu Hoàng Thúc,

                          Qua ở nhờ Viên-Thiệu dung thân.

                          Quan-Công Hầu gìn chặt nghĩa ân,

                          Vượt năm ải về thăm Huynh trưởng.

                          Kẻ nghĩa khí thiên kim vạn lượng,

                          Lũ nịnh Thần sách sử nào khen.”

                                                          (Diệu pháp quang minh)

                        “Trương Tiên tá Hớn phi thần Hớn,

                          Quan-Thánh cư Tào bất đê Tào.”

                         (Trương-Lương giúp Hán không tôi Hán,

                          Quan-Thánh ở Tào bất phục Tào).

        Vào ngày 25 tháng Hai nhuần năm Đinh Hợi (nhằm ngày 16/04/1947) Đức Tôn Sư thọ nạn tại Đốc Vàng, PGHH phải lâm vào cảnh gà con mất Mẹ nên lúc đó đồng đạo chỉ biết nương tựa lẫn nhau trong hoàn cảnh lưỡng đầu thọ địch, buộc ông Trần Văn Soái tự Năm Lửa phải hợp tác với Pháp để bảo vệ đồng đạo, đây là biết sống tùy thời, chớ không phải ông ra hàng giặc Pháp như nhiều người lầm tưởng.

        Hoàn cảnh của PGHH lúc bấy giờ giống như hoàn cảnh của 3 anh em Lưu Quan Trương thời Tam-Quốc. Như vậy, ông Năm Lửa đã làm cho PGHH sống mãi đến ngày nay và mãi mãi mai sau.

                         “Sĩ điềm tịnh tiểu nhơn lấn lướt,

                          Thời-vận hèn dụng nhược thắng cang.”

        Hoặc:

                        “Muôn năm Trời định khắc kỳ,

                        Ngặt ông thất thủ Hạ-Bì khó toan.”

                                                       (Xuân hạ tác cuồng thơ)

        Cái khôn ngoan của Lạn-Tương-Như làm Tần Chiêu Vương phải nể mặt, khi lãnh trách nhiệm từ nước Triệu đi sứ sang Tần đem Ngọc đổi Thành. Khi đem ngọc dâng lên cho vua Tần, ông ra điều kiện là đúng 7 ngày không đổi thành thì Tần phải hoàn ngọc lại cho Triệu. Ngoài dịch xá chờ đúng 7 ngày mà không nghe vua Tần nói gì việc đổi Thành hay trả Ngọc, ông đi thẳng vào Kim-Loan điện triều kiến Chiêu Vương, liền tâu: Tâu Bệ- Hạ hôm nay đã 7 ngày đúng kỳ hẹn để không đổi thành phải trả ngọc. Tần Vương định khất lời, nói gạt Lạn-Tương-Như rằng Ngọc hiện giờ còn ở trong Hậu Cung. Lạn-Tương-Như liếc thấy Ngọc đang để trên Án liền tâu với vua Tần rằng: Tâu Bệ-Hạ, ngọc tuy quý nhưng đã bị khờn mẻ rồi. Vua Tần liền cầm ngọc lên hỏi Tương-Như: ngọc khờn mẻ chỗ nào? Tương-Như thừa dịp lấy Ngọc lùi lại và tâu rằng: Bệ Hạ nên biết rằng ngọc Biện-Hòa là Quốc-Bảo của Triệu, Chúa của hạ thần rất quý, trước khi đem ngọc sang Tần, phải ăn chay nằm đất 5 ngày, còn Bệ-Hạ là người không biết quý Ngọc, khi được Ngọc ai muốn xem thì lấy xem. Thần hôm nay quyết bảo vệ ngọc quý, thà chết quyết không giao ngọc cho Tần.

        Những lời xấc xược, hỗn hào của Tương-Như làm  Bá quan Văn Võ điều hừng hực lửa căm phẫn chỉ chờ lịnh là phân thây Tương-Như cho hả dạ. Vua Tần bình tỉnh hạ giọng: Thôi được, trẩm xin hứa vì quý ngọc, trẩm phải ăn chay, nằm đất 5 ngày, để nhận ngọc đổi thành. Tương-Như giả đò xin hứa. Vua Tần truyền lịnh cho sứ trở lại dịch xá, 5 ngày sau phải y hẹn giao lại ngọc. Về đến dịch xá, Tương-Như liền sai tùy tùng giả thường dân đem Ngọc lén về Triệu.

        Đúng 5 ngày y hẹn, Tương-Như tay không vào triều kiến Vua Tần, ngày đó Chiêu Vương mời chư hầu chứng kiến cảnh lấy Ngọc đổi Thành rất đông. Nhìn thấy Tương-Như đi vào tay không, Chiêu Vương liền hỏi: Ngọc đâu sao Trẩm không thấy? Tương-Như tâu: Ngọc đã về Triệu, lý do thần không còn tin tưởng Bệ-Hạ vì “Thiên Tử bất hý ngôn” (Nghĩa là Thiên Tử dù một lời nói chơi cũng không có) mà Bệ-Hạ lại xem thường lời hứa, nên thần không thể giữ đúng lời hẹn với nhà Vua được. Hôm nay, Thần đem thân hèn này chấp nhận cái chết để đổi Ngọc quý, nên Bệ Hạ muốn phân thây hạ thần xin hạ chỉ, có sự chứng kiến của Chư Hầu vì Ngọc mà chém sứ.

        Vua Tần nghe qua những lời đầy nghĩa khí của sứ Triệu trong lòng rất khâm phục, vả lại Ngọc đã về Triệu rồi, giết sứ mang tiếng mà cũng không được gì, liền ra lịnh đãi yến tiễn sứ.

        Theo chúng tôi nhận xét, những lời khôn ngoan của Lạn-Tương-Như đã:

        1- Bảo tồn được quốc thể,

        2- Bảo tồn được quốc bảo,

        3- Bảo tồn được danh dự,

        4- Bảo tồn được khí tiết,

        5- Bảo tồn được thân mạng,

        6- Bảo tồn được tấm gương anh-hùng và làm cho Chư Hầu cùng Tần bang phải kính nể.

        Nói tóm lại, những cái khôn ngoan từ cổ chí kim, đã làm tấm gương cho chúng ta học hỏi, để tùy thời vượt qua những chông gai thử thách, hầu làm cho chúng ta trở thành người khôn ngoan. Không nên xu thời vì xu thời là cái bản chất của kẻ tiểu nhân, cái lòng dạ của kẻ nịnh bợ, cái chí của kẻ thất phu là “ích kỷ, xu phụng kẻ giàu sang phụ người khó” còn người khôn ngoan sống tùy thời là có ích lợi cho mình và cho mọi người cùng vạn vật.

        Còn sống xu thời là cách sống ích kỷ hại nhân, họ chỉ sống bằng lối a dua nịnh bợ tư tâm, sống tùy thời là không ủng hộ kẻ phá đạo hại đời, ngược lại ủng hộ kẻ phá đạo hại đời là kẻ sống xu thời, nói rõ hơn là kẻ nịnh bợ.

                        “Thấy quyền quí chúng hay dựa mé,

                          Đặng bợ bưng những kẻ hung sùng.”

                                                                        (Q.4, Giác mê tâm kệ)

                                “Khôn thì lánh chốn đau đòn,

                           Dại thì lòn cúi đồ ngon ăn thừa.

                                  Hai lòng uốn lưỡi đẩy đưa,

                          Ỷ hơi Hạng-Võ mắc lừa Trương-Lương.”

                                                                        (Từ giã bổn đạo khắp nơi)

        Người biết tùy thời, theo ông THANH SĨ cho biết:

                        “Khi mềm như tiếng chim oanh,

                     Khi hùng như chúa rừng xanh thét gầm.”

                                                                        (Thanh Sĩ)

                          “Khôn ngoan nghe nói ngẩn ngơ,

                           Ngu si thì tưởng như thơ biếm đời.”

                                                                        (Q.3, Sám giảng)

 3.- HẠNG NGU-ĐẦN

                        “Vướng nghiệp trần-hoàn bởi quả nhân,

                          Gây ra kiếp số chịu phong trần.

                          Nay nhờ đuốc Huệ soi đường tối,

                          Đặng dứt cái ngu lẫn cái đần.”

        Người sanh ra ở trong đời nếu không học Đạo, thì không biết đâu là tội, phước, nhân, quả, nên mạnh ai nấy sống theo thói quen của mình, làm khỏi cần suy nghĩ, hành động gây tội lỗi chẳng biết, tạo hết cái lỗi nầy đến lỗi nọ, gây ra tội nầy đến tội kia.

        Cái tối tăm ngu dốt khiến cho ta trở thành kẻ đại gian ác, hiện tại thế gian bị tù tội hình phạt do hành động không suy nghĩ, khi chết thì hồn bị sa đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.

                        “Chuyển luân trong nhơn vật các loài,

                          Căn mờ ám làm điều dại dột.”

                                                                        (Q.5, Khuyến thiện)

                                “Người khôn nghe nói càng rầu,

                          Người ngu nghe nói ngửa đầu cười reo.”

                                (Q.1, Sấm giảng khuyên người đời tu niệm)

        Học giả hảo bất học giả hảo (Học là tốt, hay chẳng học là tốt)

        Học giả như hòa như đạo (Người có học như lúa, như nếp)

        Bất học giả như cảo như thảo (Người không có học như đế, như cỏ)

        Như hòa như đạo hề, quốc chi tịnh lương thế chi đại bảo (Như lúa, như nếp, đất nước xem như ngọc quí, đời cho là châu báu) (Lời KhổngTử).

        Ngu si mê dốt nên tạo toàn là nghiệp dữ nên gánh lấy quả báo đau khổ. Đời ngu dốt phải chịu cảnh nghèo khổ và làm nô lệ, thường bị người đời lường gạt.

        Minh Tâm Bửu Giám, trong thiên Khuyến Học cho biết:

        - “Hiếu nhân bất hiếu học kỳ tế dã ngu” (Ham điều nhân mà không học nên bị dốt nát che khuất thành ra người ngu xuẩn nên bị lường gạt)

        - “Hiếu trí bất hiếu học kỳ tế dã đãng” (Thích hiểu biết mà không ham học nên cái không học nó che khuất nên luông tuồng không có căn bản)

        - “Hiếu tín bất hiếu học kỳ tế dã tặc” (Ham chữ tín mà không ham học nên bị che khuất nên phải làm giặc) như anh Vô-Não tin rằng nếu giết được 100 người lấy 1.000 lóng tay kết lại thì có được thần thông.

        - “Hiếu trực bất hiếu học kỳ tế dã giảo” (Thích việc ngay thẳng mà không ham học nên bị che khuất trở thành kẻ sổ sàng ngang ngược) như Trương-Phi.

        - “Hiếu dũng bất hiếu học kỳ tế dã loạn” (Ham có sức mạnh mà không ham học nên bị che khuất hay làm loạn) như Lữ Bố.

        - “Hiếu cương bất hiếu học kỳ tế dã cuồng” (Thích cứng rắn mà không ham học nên bị che khuất trở thành kẻ điên rồ) như Trình-Giảo-Kim buổi đầu.

        Học ở đây là học đạo đức lễ độ chớ không chỉ học ở văn chương chữ nghĩa.

        Nói tóm lại, nếu chúng ta sống mà không học hỏi, chúng ta sẽ trở thành kẻ ngu đần. Cuộc sống luôn bị lợi dụng, bị lường gạt, sống trong cái đau khổ, nghèo túng, hoạn nạn, chỉ biết sống theo cái sở dục nhỏ nhen đê tiện, và sống để gây ra toàn là nghiệp dữ nên phải gánh chịu quả báo luân hồi đau khổ.

        Đức Phật nói rằng cái khổ của con lừa kéo xe, cái khổ của kẻ tạo tội đọa địa ngục, không bằng cái khổ của kẻ ngu si tăm tối không biết tìm ra con đường giải-thoát khổ sở, luân-hồi:

                        “Quá sung sướng rồi quên đạo ngỡi,

                          Nào khác chi loại thú rừng săng.

                          Vật hổ lang đâu biết đạo hằng,

                          Chỉ có biết ngủ ăn, ăn ngủ.

                          Khi đói mồi mặt mày sù sụ,

                          Chạy quơ quào vật nhỏ đặng ăn.

                          Đến chết thây đầy lũ ruồi lằn,

                          Bu nút thịt của loài bạo ác.”

                                                             (Sa Đéc)

                        “Muốn bán cái ngu lẫn cái đần,

                          Ngu đần cả nước lẫn cùng dân.

                          Sớm lo lòn cúi, chiều ăn ngủ,

                          Chẳng biết liệu toan gỡ nợ nần.”

                                                            (Rứt cái ngu đần)

        Tai hại của cái ngu đần:

        1/- Cá nhân ngu đần là cá nhân đó phải chịu đau khổ nghèo túng và bị người khinh bỉ và hay bị lường gạt.

        2/- Dân tộc ngu đần là dân tộc lạc hậu, nước mất nhà tan, dân tộc nô lệ.

        3/- Chúng sanh ngu đần, luân hồi thống khổ.

        4/- Tín-đồ ngu đần, Đạo bị đoạn diệt.

        5/- Chế độ ngu đần, chế độ diệt vong.

4.- HẠNG GIẢ NGU

                                “Bây giờ giả dại giả ngu,

                         Cũng như Nhơn-Quí ở tù ngày xưa.”

                                        (Sấm giảng khuyên người đời tu niệm)

        Nói đến giả ngu là nói đến các Đấng cứu thế khi chưa gặp thời vận. Trường hợp như Tôn-Tẩn phải giả điên để qua mắt Bàng-Quyên, nhờ giả điên mà ông được thoát nạn.

        Cũng như Đức Huỳnh Giáo-Chủ khi Ngài mới đản sanh năm Kỷ Mùi 1919 âl. cho đến năm Kỷ Mão 1939 âl. Khi Ngài chưa khai đạo, Ngài tỏ ra là một người bình thường như bao người khác cũng vào trường học như bao lứa trẻ đồng tuổi. Khi Ngài vừa học hết Tiểu học, vì cơn bịnh buộc Ngài rời nhà trường, lo trị bịnh. Đức Ông đem Ngài đi khắp nơi lo thang thuốc, cơn bịnh của Ngài khi thăng khi giáng, khắp An-giang không Ông Thầy thuốc  giỏi nào mà không biết mặt Ngài. Khi sắp khai Đạo, Ngài dẫn Đức Ông và ông Biện Đài du sơn trên vùng bảy núi huyện Tri Tôn (An-Giang) và núi Tà-Lơn ở Cam Bốt, Ngài mới thố lộ đôi chút nhiệm mầu cho Đức Ông và ông Biện Đài chứng kiến.

        Đến ngày 18/05 năm Kỷ Mão (1939) vì thời cơ đã đến, Ngài hóa hiện ra đời khai sáng Đạo PGHH để cứu độ chúng sanh, lúc bấy giờ Ngài tỏ ra là bậc Tài-Ba Xuất Chúng.

        Giả ngu là một đức tánh khiêm nhường của Phật, Thánh và để qua mắt những kẻ có lòng ganh tỵ:

                         “Xác ta vốn là người quê dốt,

                          Nên mở mang chưa được mấy rành.”

                                                                (Kệ dân của người Khùng)

        Chớ thật ra là:

                         “Thân Bần Tăng mặc bộ sồng nâu,

                          Cuộc Thiên Lý một bầu điều hãn.”

                                                                (Nang thơ cẩm tú)

        Thánh Nhơn có câu:

        - Thông minh duệ trí thủ chi dỉ ngu (Tuy thông minh sáng suốt giả như người ngu vậy)

        - Dõng lực chấn thế thủ chi dỉ khiếp (Sức mạnh hơn đời giả như người nhát)

        - Công bị thiên hạ thủ chi dỉ khiêm (Công lao hơn thiên hạ nhưng vẫn khiêm tốn)

        - Phú hữu tứ hải thủ chi dỉ nhượng (Giàu có bốn biển nhưng vẫn nhường người)

        Đức Thầy có câu:

                                “Điên đây còn dại còn khờ,

                          Yên lặng như tờ coi chúng làm sao.”

                                        (Sấm giảng khuyên người đời tu niệm)

        Xưa, thời Chiến quốc Kỷ-Sảnh làm quan nươc Vệ, ông có tài nuôi gà đá. Vào đấu trường trăm trận trăm thắng, ông lãnh nuôi gà cho Vua hằng ngày. Ông săn sóc luyện tập cho gà trước khi vào đấu trường, vua đến xem gà, lúc đó Kỷ-Sảnh đang rải lúa cho gà ăn, vua hỏi Kỷ-Sảnh: Gà vào đấu trường được chưa? Kỷ-Sảnh: Tâu bệ hạ, gà này còn háo thắng, khi nghe gà khác gáy nó cũng vổ cánh gáy. Mười ngày sau, Vua cũng hỏi: Gà đấu được chưa? Kỷ-Sảnh: Tâu bệ hạ chưa đấu được vì nó còn quá hăng máu. Thấy gà khác xừng lông nó cũng xừng lông. Ít ngay sau, Vua đến hỏi như thế, Kỷ-Sảnh: Tâu bệ hạ gà còn tức khí. Thấy gà khác đến gần, nó còn đỏ mặt. Đến lần thứ tư vua hỏi: Gà đấu được chưa? Kỷ-Sảnh: Tâu bệ hạ, gà đấu được rồi vì nó đã mất tướng háo thắng, tướng hăng máu, tướng tức khí, nó đã dấu hết cái ngón hay, nay nhìn nó như khúc củi vậy, gà nầy thần bảo đảm trăm trận trăm thắng.

        Lời bình: Con người cũng như thế, nếu người nào dấu hết cái hay, cái thông minh, cái tài hoa của mình, giả như ngu, như dở thì người đó có tài kinh bang tế thế, là bậc hiền nhơn quân tử.

        Trái lại, kẻ nào mà khoác lác, khoe khoang thì kẻ đó không có tài cán chi hết.

        Nói tóm lại, giả ngu là đức tánh khiêm nhường của bậc tài hoa xuất chúng, là đức khiêm nhường của Phật Thánh, là tấm gương cho kẻ tự cao tự đại, hay khoe mình mà chẳng làm được cái gì nên thân.

        Sách có câu:

        Thần nhân vô công (Thần làm không kể công)

        Chí nhân vô kỷ (Người quân tử vì người không vì mình)

        Thánh nhân vô danh (Thánh nhân không khoe tên tuổi)

                                “Vì Điên chưa đến cái thời,

                       Nên còn ẩn dạng cho người cười chê.”

                                        (Sấm giảng khuyên người đời tu niệm)

        Kết luận: đề tài khôn cũng chết, dại cũng chết, biết là sống, chúng tôi nhận thấy rằng nếu ở trên đời mọi người:

                        “Nên biết rõ ràng dại với khôn,

                          Có chi rằng dại, có chi khôn.

                          Khôn trong việc ác là khôn dại,

                          Dại biết làm lành ấy dại khôn.

                          Nếu biết tài khôn là hóa dại,

                          Thôi thì đừng dại cũng đừng khôn.

                          Sống sao khôn dại đều biết rõ,

                          Mới thoát ngoài vòng dại với khôn.”

        Theo chúng tôi nhận xét: Biết là sống, nghĩa là biết sống theo thiên lý, sống theo lòng nhơn, nên có câu: “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong.” (Thuận theo ý trời là còn, nghịch ý trời là mất). Thuận +theo ý trời nghĩa là thuận theo lòng lành của mình do trời phú, đây mới đúng với câu biết là sống:

                        “Thương hải tang điền ắt chẳng yên,

                          Thiên địa diệt gian dĩ thiện riêng.”

                                                                (Lộ chút cơ huyền)

                        “Cứu lương hiền chẳng cứu người hung,

                          Kẻ gian ác đến sau tiêu diệt.”

                                                                (Kệ dân của người Khùng)

                                                        Nam mô A Di Đà Phật !

 

Hội Trưởng BTS\TƯHN Nguyễn-Trung-Hiếu, Hội Trưởng BTS Sacramento Huỳnh-Văn-Liêm và phái-đoàn Đại-Biểu của các Ban Trị-Sự và Ban Đại-Diện địa-phương đang cung nghinh chân dung Đức Huỳnh Giáo-Chủ vào Lễ Đài.

Hội Trưởng BTS\TƯHN Nguyễn-Trung-Hiếu, Hội Trưởng BTS Sacramento Huỳnh-Văn-Liêm và phái-đoàn Đại-Biểu của các Ban Trị-Sự và Ban Đại-Diện địa-phương đang cung nghinh chân dung Đức Huỳnh Giáo-Chủ vào Lễ Đài.


Comments