9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 20‎ > ‎

20. Thanh Tịnh Tâm - Phan-Thanh-Nhàn


                                                               THANH TỊNH TÂM
                                                                                                                Phan Thanh Nhàn

 

        Thanh tịnh Tâm là gì? – Là lòng trong sạch.  Cái tự tâm và tự tánh của con người vốn trong sạch, không ô-nhiễm. Thanh tịnh Tâm cũng là Thanh tịnh Ý. Tâm thanh tịnh thì Ý nghiệp cũng thanh tịnh, đồng thời Ngữ nghiệp và Thân nghiệp cũng sẽ thanh tịnh. Nhờ đó mà trí huệ dễ phát sinh. Hành giả tu theo đạo Phật lúc nào cũng giữ tâm thanh tịnh, đừng để thấm nhiễm bởi Ngũ dục lạc (Sắc dục, Thinh dục, Hương dục, Vị dục, Xúc dục).

        Tâm có hai đặc tính: Vọng tâm và Tịnh tâm.

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 20

       - Vọng tâm là phàm tâm, là dục tâm, là trược tâm.

       - Tịnh tâm là chân tâm, là chánh tâm, là Thánh tâm.

        Muốn đối trị Vọng tâm ta dùng Tịnh tâm.

I.- NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH VỌNG TÂM.

        Vọng tâm là tâm nghĩ quấy, toan tính điều chẳng phải lẽ, nghĩ điều chẳng hợp với đạo lý, với chánh pháp.

        Trong một con người được cấu thành bởi ba bộ phận: Tâm lý, Sinh lý và Vật lý.

        Sáu căn thuộc bộ phận Sinh lý học, thêm vào sáu trần thuộc phạm vi Vật lý học và sáu thức thuộc phạm vi Tâm lý học. Tổng hợp ba bộ phận nầy, tạo thành một cá nhân.

        Đối tượng tiếp xúc của sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) là sáu trần, là các loại vật chất thuộc phạm vi Vật lý học. Màu sắc, hình tướng được con mắt thấy, âm thanh được lỗ tai nghe, mùi hương được mũi ngửi, vị được lưỡi nếm, cảm giác trơn nhám, mềm, cứng được thân xúc chạm và pháp trần là đối tượng của Ý căn, cũng gọi là Ý thức.

        Do sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà phát sinh ra sáu thức có công năng phân biệt và ghi nhớ. Sáu căn là công cụ của sáu thức tạo tác ra mọi hành vi thiện ác. Con người sở dĩ ở trong vòng sanh tử luân hồi là do sáu căn không được thanh tịnh. Mọi hành vi thiện ác từ hồi vô thỉ đến nay đều do sáu căn tạo ra. Mắt tham sắc, tai tham âm thanh, mũi tham mùi hương, lưỡi tham vị ngon ngọt, thân tham tiếp xúc với cái êm dịu, ý tham cảnh sung sướng.

        Có tham thì có sân, vì bản chất con người luôn luôn muốn có, muốn thêm, không bao giờ thấy đủ, không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đang có. Nếu không được như ý thì nẩy sinh lòng sân hận. Còn si mê là do tối tăm, vô minh nên không phân biệt chơn giả, rồi sanh phiền não. Hợp cả ba thành Tam độc: Tham, Sân, Si, hành ác nhiều, thiện ít, khiến cho con người càng xa vời ngày thoát ly sanh tử.

        Vì mê muội nên vọng tưởng, suy nghĩ nối tiếp không ngừng từ chuyện nầy đến chuyện khác, từ người nầy đến người khác, từ đời nầy đến đời khác tạo thành một luồng tư tưởng vô cùng tận. Những lúc tư tưởng của ta dấy lên như vậy, muốn dừng lại cũng khó khăn. Thế nên khi còn khỏe mạnh mà ta dừng lại không được thì thử hỏi lúc lâm chung, thân thể đau đớn, thần kinh suy nhược, chắc chắn chúng ta bị nghiệp dẫn đi đâu thì đến đó. Chúng ta không làm chủ được tâm hành của chính chúng ta thì làm sao chúng ta dừng nghiệp được. Tâm hành là động cơ dẫn dắt chúng ta vào đường sanh tử luân hồi hay gọi là hành nghiệp.

        Lại nữa tâm thức của chúng ta cũng luôn khởi vọng niệm. Khi thấy hình sắc thì khởi vọng niệm đẹp xấu, khi nghe âm thanh thì vọng niệm dễ nghe hay khó nghe, khi ngửi mùi vị thì vọng niệm dễ chịu hay khó chịu, khi nếm một vị nào đó thì vọng niệm ngon dở, khi xúc chạm vật gì thì vọng niệm thích hay không thích. Những vọng niệm như thế lâu dần tích chứa trong tâm thức của chúng ta với đủ mọi cảm tưởng vui, buồn, thương, ghét là nguồn gốc của phiền não khổ đau.

        Con người muốn đạt được giác ngộ, giải thoát mọi khổ đau, dính mắc của chuyện thế gian, chỉ có hàng phục được vọng tâm, vọng tưởng tức là tâm được an trụ. Tuy vẫn sống ở thế gian, nhưng tâm an nhiên tự tại trước mọi lưới mê của cuộc đời thì cảnh giới Niết Bàn hiện tiền.

        Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng khuyên dạy chúng ta:

                        “Tham, Sân, Si chớ để trong lòng.

                          Phải giữ lòng cho được sạch trong,

                          Mới thoát khỏi trong vòng bịnh khổ.”

II.- GIỮ TÂM THANH TỊNH.

        Sống trong thế gian nầy giữ được tâm thanh tịnh không phải là điều dễ dàng. Bản tâm thanh tịnh chính là Phật tâm, cũng là tâm thể của chúng sanh khi dẹp hết phiền não khổ đau, không còn dấy lên một niệm nào, dù niệm thiện hay bất thiện. Dù trong thời điểm nào, dù trong bất cứ nơi đâu, dù trong hoàn cảnh nào, bản tâm thanh tịnh chính là cảnh giới Niết Bàn. (Cảnh trí của người tu hành dứt sạch các phiền não và tự biết rằng mình chẳng còn luyến ái).

        Dứt sạch phiền não tức là sống với tâm thanh tịnh. Vì chưa sống được hoàn toàn với tâm thanh tịnh, dù cho người hiền thiện cũng còn bị sanh tử luân hồi chi phối. Dù cho người đó có dẹp được tâm tham, sân, si thường tình của người thế gian, nhưng chưa dứt hẳn tâm tham, sân, si ẩn tàng trong tâm thức một cách vi tế (nhỏ mịn khó phân tích ra). Vi tế đối lại thô trọng. Trong Kinh sách gọi kẻ ngu, chậm lụt thì vướng các mối phiền não thô trọng; người trí khôn lanh, sắc sảo thì còn nhiễm những mối phiền não vi tế, cho đến các hàng Tiên ở cõi Sắc giới và Vô sắc giới cũng còn phiền não vi tế).

        Vì còn tâm tham vi tế, nên còn mong cầu được an hưởng sung sướng ở cõi Tây Phương Cực Lạc hay Thiên Đàng. Nhưng tâm mong cầu nầy không đi sai với đường lối tu hành của Pháp môn Tịnh Độ. Như chúng ta biết, Pháp môn Tịnh Độ đưa ra một phương pháp tu là phải Tín, Nguyện, Hành. Phải tin tưởng tuyệt đối vào Tam Bảo. Phải thành tâm khẩn nguyện cầu về cõi Tây Phương Cực Lạc. Phải kiên trì niệm Phật không đợi thời khắc, đồng thời làm lành lánh dữ cũng như phải giữ giới hạnh thì lần lần phiền não dứt sạch, tâm ta trở nên an lạc vô cùng mầu nhiệm.

        Họ không còn khởi niệm sân hận thường tình như bực tức khi nghe lời khó nghe, lời nhục mạ thô tục, vu khống, nhưng họ còn sân hận vi tế về tín ngưỡng hay tôn giáo mỗi khi có ai đụng chạm đến lòng tín ngưỡng của họ. Về điểm nầy, Đức Huỳnh Giáo Chủ khuyên:

                        “Ta thường nên tập tánh khoan dung.

                          Thiệt hành đi đừng có ngại ngùng,

                          Tha thứ kẻ lỗi lầm ngu xuẩn.

                          Và nhẫn nhịn đừng ham tranh luận,

                          Khỏi mất lòng tất cả mọi người.

                          Tánh thuần lương vẻ mặt vui tươi,

                          Vậy mới đáng tín đồ Phật Giáo.

                          Nay ta đã quy y cầu Đạo,

                          Gây gổ là trái thuyết Từ bi.”

        Nếu hành y như lời khuyên của Đức Tôn Sư thì chúng ta giữ được tâm thanh tịnh.

        Dù không còn tâm Si mê thường tình như xin xâm, bói toán, dựng đồng lên cốt nữa, nhưng họ chưa thấu hiểu hết được kiếp sống tạm bợ vay mượn của con người chỉ là một chuỗi dài sanh tử luân hồi nhiều đời nhiều kiếp. Họ không hiểu ngoài lương tâm, con người còn có cái tâm cao cả hơn, đó là Phật tâm, là tâm tánh sáng suốt, bất sanh, bất diệt mà mỗi người đều có, như lời giáo huấn của Đức Huỳnh Giáo Chủ:

                        Nguyên tăm tối từ hồi vô thỉ.

                          Màn vô minh che mờ căn trí,

                          Nên thường khi nhận ngụy làm chơn.

                          Lo huyễn thân vật chất kém hơn,

                          Chẳng tìm biết tinh thần đạo đức.

                          Dệt lưới nghi đeo điều phiền phức,

                          Bịn rịn đời cực khổ tang thương.

                          Khi nói làm ít chịu suy lường,

                          Mãi phạm tội nên rằng nghiệp ác.

                          Diệt Mê si phải nương thuyền giác,

                          Muôn việc làm chính trực khôn ngoan.

                          Đừng bạ đâu tin bướng nghe càn,

                          Làm ngu muội đọa thân một kiếp.”

        Trong mỗi người chúng ta đều biết mình có bản tâm thanh tịnh nhưng chưa hoàn toàn, khi được khi không, khi lành khi dữ, khi thiện khi bất thiện. Vì tập khí nhiều đời chưa dứt sạch nên tâm ý còn lăng xăng lộn xộn, tạp niệm đủ thứ, nghĩ chuyện đàng Đông, chuyện đàng Tây…

        Cũng có người quyết tu tâm dưỡng tánh, thiệt hành trong mọi thời gian, tận tâm, tận lực cho đến ngày nào đó được giác ngộ giải thoát. Họ có lập trường vững chắc theo “Đường đạo đức bước đi từng nấc.” Họ là người bước từng bước vững chắc trên đường tu tập dù có bị vấp ngã cũng cố gắng đứng dậy vươn lên, tinh tấn dũng mãnh cho đến khi nào hoàn toàn sống với bản tâm thanh tịnh. Ngay tại giây phút đó họ đã trọn thành Phật đạo và Phật tâm hiển lộ viên mãn.

        Phật tâm chỉ hiển lộ khi nào tâm ý hoàn toàn thanh tịnh, không chất chứa điều phiền não, hoàn toàn trống rỗng, tịch tịnh, không còn tham, sân, si dù là thường hay vi tế. Bản tâm thanh tịnh luôn luôn tự tại, thản nhiên trước mọi thăng trầm ở thế gian tức là vượt qua sóng gió của cuộc đời dù nhiều hay ít, ví như mặt gương, khi có người hay vật đi qua thì hiện rõ hình dáng trong gương. Nhưng khi người hay vật qua rồi thì hình ảnh ấy biến mất trong gương. Tấm gương trở lại trạng thái bình thường. Bản tâm thanh tịnh của ta cũng vậy, luôn luôn trống lặng, không lưu trữ do tâm thương ghét, buồn vui. Vì duyên theo cảnh trần mà khởi niệm hỉ, nộ, ái, ố…

        Chúng ta đau khổ vì cứ nhận cái lăng xăng, lộn xộn bên ngoài, cái suy nghĩ của Lục căn, Lục trần, Lục thức chi phối rồi cho đó là tâm, chớ đâu có biết đó là vọng tưởng, là trong cơn mê. Khi dứt suy nghĩ, biết đó là lầm lạc, hết chạy theo trần cảnh bên ngoài hết “tâm viên, ý mã” thì ngay lúc đó chân tâm hiển hiện, đã qua cơn mê, trí tuệ được soi sáng, là giác ngộ.

III.- PHƯƠNG CÁCH ĐỂ CÓ ĐƯỢC TÂM THANH TỊNH.

          a/- Từ, Bi, Hỉ, Xả còn gọi là Tứ vô lượng tâm. Bốn đức tính nầy tiềm tàng trong lòng mỗi người chúng ta. Người nào phát triển được Tứ vô lượng tâm, người ấy đã tạo được một tinh thần hòa bình giữa mình và mọi người, hòa mình được với tất cả muôn loài vạn vật. Tứ vô lượng tâm tạo cho chúng ta được một tâm hồn tinh khiết thanh tịnh.

        Có tâm TỪ khiến ta yêu thương không những người thân mà cả người sơ cho đến người mình cho là thù địch với mình. Thương người tốt lại cũng thương người xấu. Thương không có tính lựa chọn ở hiện tại mà người xấu và người ác là người chưa tốt và chưa thiện mà thôi.

        Tâm TỪ là tình thương không giới hạn trong gia đình màu da, sắc tộc, đoàn thể, tôn giáo, đảng phái, quốc gia. Tình thương nầy không những bao trùm toàn thể nhân loại mà còn rộng ra cho đến muôn loài vạn vật đang có ở cõi Ta Bà nầy.

        Người tu theo Phật xứng đáng là người luôn luôn nuôi trong tâm đức TỪ vô biên vô hạn, vì giáo lý của nhà Phật căn bản là tâm TỪ. Đã hơn hai mươi lăm thế kỷ, Đức Phật đã rải khắp nơi lòng TỪ của Ngài cho nhân loại. Nhờ có được lòng TỪ mà bao nhiêu vĩ nhân đã đắc Thánh quả hay Bồ Tát, vượt lên Tham, Sân, Si thoát ngoài vòng chấp ngã.

        Trong hiện tại, hầu như toàn thể loài người thể hiện lòng TỪ để tạo nên một thế giới con người biết thương yêu nhau, một thế giới hòa bình không có chiến tranh, không còn ganh tị hiềm thù, không còn thượng trọng, hạ khinh, phú kiêu, bần siểm…

        Nếu ai có được lòng TỪ như vậy, là đã đạt một tinh thần cao cả, được yên vui trong kiếp nầy và sẽ mang theo kiếp tới tăng bội yên vui hạnh phúc.

        Những yếu tố trong Vô lượng tâm có liên quan với nhau. Trong TỪ đã có BI và BI do lòng TỪ mà ra. Tâm BI và tâm TỪ hoàn toàn tác động ngoài cái ta. Hành động ngoài ý vụ lợi không mong cầu cái lợi được trả lại dù vật chất hay tinh thần. Với tâm BI không phải vì muốn dứt khổ của người nầy mà gây cái khổ cho người khác. Cũng không có quyền lấy hạnh phúc của người nầy đổi lấy cái khổ của người khác. Cũng như tâm TỪ, ta không có quyền cướp mạng sống của con vật nầy để nuôi con vật khác.

        Người có tâm BI, cũng như tâm TỪ, là người có tâm trạng sáng suốt, bình thản nhận định rõ ràng sự việc không bị nội tâm hay ngoại cảnh kích thích trong khi chia sớt khổ đau với kẻ khác, giải khổ cho kẻ khác một cách bình tĩnh không bị xúc động.

        Cũng như tâm TỪ và tâm BI, tâm HỈ phải được rải khắp mọi nơi không giới hạn trong một phạm vi nào. Thực hành tâm HỈ là ta đã tạo được cho ta một trạng thái của tâm hoàn toàn thanh tịnh phát ra tự chỗ không vì ngã, lấy cái vui của tha nhân làm cái vui cho ta và đặt cái vui của ta ngoài bản ngã của ta. Ta và người vui kia chỉ là một.

        Có TỪ, có BI, có HỈ mà không có XẢ thì Tứ vô lượng tâm không thành. Thật vậy, TỪ mà không XẢ thì thương vẫn còn vì Ta. BI mà không XẢ là buồn vẫn còn vì Ta. HỈ mà không XẢ thì vui vẫn vì Ta. Chưa XẢ được thì tâm vẫn còn tưởng nghĩ quanh quẩn với Tham, Sân, Si. Muốn đạt được TỪ, BI, HỈ là phải nhờ XẢ là điều kiện cần thiết nghĩa là không bám giữ lại hình ảnh tốt hay xấu, vui hay buồn của vạn vật.

        Khi suy nghĩ, nói năng, hành động theo Tứ vô lượng tâm TỪ, BI, HỈ, XẢ thì tâm thức của người ở trong cảnh giới Thiên đàng và ngược lại với phàm tâm, Tham, Sân, Si thì tâm thức ở trong cảnh giới Địa ngục.

          b/- Hạnh bố thí giúp cho con người dẹp được lòng tham muốn ích kỷ hẹp hòi như tham tiền tài, tham danh vọng, tham sắc đẹp, tham ăn uống, tham ngủ nghỉ…Hạnh bố thí đem lại an lành, hạnh phúc cho đời người. Ngũ dục lạc: tài, sắc, danh, thực, thùy đưa đẩy con người ở thế gian phải đấu tranh, giành giựt, dùng mọi mưu mô thủ đoạn bất chấp sự đau khổ của kẻ khác, bất chấp sự an nguy của bản thân. Không thỏa mãn, con người dễ nổi lên lòng sân hận, thù đời, oán người. Hạnh bố thí giúp cho con người hiểu được nhiều sự an lành thiết thực. Cái gì mình hiện có chắc gì giữ được dài lâu, mà điều hiển nhiên phải để lại khi mãn đời. Chỉ có những gì mình bố thí, mới thật sự là của mình, mới là phước báu của mình nhìn thấy qua dạng bình yên may mắn, tai qua nạn khỏi. Chỉ khi nào ngũ dục lạc diệt được, sự giải thoát mới hoàn toàn, mới có được một tâm thanh tịnh.

          c/- Trì giới cũng là một phương cách có được tâm thanh tịnh. Ta không nên làm tổn nhân, hại vật vì mưu cầu lợi ích riêng tư cho mình. Hãy cố gắng giữ gìn giới hạnh trong sạch hàng ngày. Được vậy không cần đến kiếp sau, mà hiện kiếp ta cũng thấy an lạc và hưởng nhiều phước báu cho chính bản thân. Nhờ giới luật mà tâm ô tạp của ta dần dần cải sửa thành tâm thanh tịnh.

          d/- Người có tánh nhẫn nhịn, không tranh chấp, không thị phi, sẽ tránh được phiền não trong cuộc đời. Người ta mắng mình dù cố ý hay vô ý, dù hữu lý hay vô lý mà mình cảm thấy không nhục, nhịn được mới là điều khó làm, như lời Đức Huỳnh Giáo Chủ khuyên dạy:

                        “Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,

                          Đợi cho người hết giận ta khuyên.

                          Chữ nhẫn hòa ta để đầu tiên,

                          Thì đâu có mang câu thù oán.

                          Việc hung ác hễ vừa thấp thoáng,

                          Chữ từ bi ta diệt nó liền.

                          Sự oán thù đáp lại chữ hiền,

                          Thì thù oán tiêu tan mất hết.”

        Là người biết tu tâm dưỡng tánh, nên nhẫn nhịn để tránh được hậu quả phiền toái hầu giữ gìn được tâm thanh tịnh, chính là cứu cánh của đạo Phật.

          e/- Tinh tấn là giữ đức tin mạnh mẽ, không bị thế lực hay thị dục cám dỗ, bức bách bỏ lòng tín ngưỡng Trời Phật. Bỏ hết các sự phiền não, các điều tà vạy, diệt lục căn, không nhiễm lục trần, phát huy tinh thần sáng suốt, rèn luyện các đức tính tốt, yên tịnh, hỉ lạc, nghiêm trang quyết công phu sớm thành Đạo quả. Có tinh tấn thì tâm mới thanh tịnh, mới vững lòng bước đến Niết Bàn hầu tế độ chúng sanh thoát khỏi luân hồi nghiệp quả, như Đức Huỳnh Giáo Chủ chỉ dạy:

                        “Chánh Tinh Tấn dầu thành hay bại,

                          Cứ một đường tín ngưỡng của mình.

                          Dầu cho ai phá rối đức tin,

                          Ta cũng cứ một đàng đi tới.”

        Chúng ta tinh tấn làm các điều thiện, dù lớn, dù nhỏ, giúp đỡ người, làm cho cuộc sống chính mình và của người chung quanh có ý nghĩa, an lạc, hạnh phúc với tấm lòng chân thành bất vụ lợi.

          f/- Thiền định cũng là phương pháp làm cho tâm thanh tịnh. Thiền định là trau giồi tâm tánh cho được tự tại, cho được bình tỉnh thản nhiên trước mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Trước mọi thăng trầm, vinh nhục, khen chê, sung sướng, đau khổ, lòng người bất an. Nếu ta lấy thiền định dẹp bỏ mọi phiền não, khổ đau, phá tan mọi thị dục cám dỗ lôi ta vào nẻo tà, tâm ta an định, trí ta tỉnh sáng, không còn nhiễm ô cảnh thế, thì lần lần ta sẽ đi đến giải thoát.

        Đạo Phật dạy nhiều pháp môn cho người ta tu, tùy theo trình độ, căn cơ, hoàn cảnh, sở thích, tâm nguyện của mỗi người. Những pháp môn đều là những phương pháp để được người tu hàng phục được vọng tâm và an trụ chơn tâm hầu giữ được tâm thanh tịnh, cũng nhằm mục đích bước lần đến giải thoát.

        Kinh sách có câu: “Tam nghiệp hằng thanh tịnh đồng Phật vãng Tây Phương”, nghĩa là Tam nghiệp thân, khẩu, ý đều được thanh tịnh, không tạo nghiệp nữa thì phước báu vô lượng, vô biên, chúng ta cùng chư Phật sống trong cõi Tịnh độ Tây phương.

        Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy: “Quá khứ tâm bất khả đắc. Hiện tại tâm bất khả đắc. Vị lai tâm bất khả đắc.” Chuyện quá khứ qua rồi đừng luyến tiếc, đừng nghĩ làm gì cho bận tâm, chỉ gieo thêm nghiệp chướng chẳng ích gì. Chuyện hiện tại rồi cũng qua, cố níu kéo cũng chẳng được gì, có lo âu phiền muộn cũng chẳng ích gì. Chuyện tương lai chưa đến, lo lắng, ưu tư sầu muộn cũng chẳng giúp ích gì. Chi bằng chúng ta giữ tâm trí được thanh tịnh, như như, thản nhiên. Điều cần nhất là chẳng nên tạo thêm nghiệp mới để tránh quả báo sẽ đến.

        Sau khi lòng lắng xuống, không còn khổ đau, phiền não, không còn tức giận, hận thù, không còn ganh tị, không còn thương ghét; chúng ta thấy được mọi người đều có bản tâm thanh tịnh như nhau, thấy được “tâm cảnh như như” không khác.

        Chúng ta nhìn mọi người với ánh mắt từ bi, nên thấy mọi người đều hiền từ. Nhìn đời với tâm tư lạc quan, lòng ta cảm thấy an lạc và hạnh phúc hiện đời. Chúng ta sống với tâm Từ, Bi, Hỉ, Xả, đem yêu thương đến cho mọi người chung quanh. Niềm an lạc đó chính là cảnh giới Niết Bàn, không phải chờ đến khi từ giã cõi đời.

        Muốn thành tựu ở cảnh giới thanh tịnh, con người phải cố gắng, kiên trì, tinh tấn, cắt đứt mọi cám dỗ của cuộc đời. Muốn có được cuộc đời an lạc, hạnh phúc ở thế gian không phải dễ dàng. Chúng ta còn phải đối diện với mọi hoàn cảnh bất trắc, bất như ý chung quanh. Chúng ta phải sống thực với chính mình, với tâm khiêm tốn, thiệt hành hạnh Từ, Bi, Hỉ, Xả và cố gắng giúp đỡ người chung quanh mình được giác ngộ cùng hướng về chánh đạo.

        Người đi trên đường Đạo, cần phải tỉnh tâm, lắng lòng, quay nhĩ căn vào bên trong, hướng nội, thì tự nhiên thấy tiếng huyền diệu át tiếng thế gian, dạy bảo ta làm điều thiện, tránh làm việc xấu ác, lìa mê thành giác, bỏ cái giả trở về cái chân thật, bỏ cái tầm thường giả tạm để về chỗ cao siêu, bỏ thế gian nhập vào bản thể, tự tánh thanh tịnh.

        Trong Kinh Đại Niết Bàn có bài Kệ:

                                Chư ác mạc tác,

                                Chúng thiện phụng hành.

                                Tự tịnh kỳ ý,

                                Thị chư Phật giáo.

        Nghĩa là:

                                Việc ác không làm,

                                Làm các việc thiện.

                                Giữ tâm thanh tịnh,

                                Đúng lời Phật dạy.

        Hành được hai câu đầu của bài Kệ, phải là người có lương tâm. Người có lương tâm, nhận thức nội tâm theo lẽ phải, trái, đúng, sai, tự đánh giá về hành vi của mình theo tinh thần đạo đức. Lương tâm ví như Quan Tòa xét qua hành động của con người về tội phước. Lương tâm giúp cho con người biết làm tròn bổn phận đối với nhân sinh xã hội, hướng dẫn con người được sáng đẹp, được giác tiến để đưa con người đến chỗ Thiện-Mỹ.

        Hành câu thứ ba, là người giữ được tâm thanh tịnh. Cứu cánh của đạo Phật là chuyển biến tâm chúng sanh thành chánh tâm, Bồ đề tâm.

        Mục đích của người tu là đi đến Giải thoát. Muốn giải thoát, trước hết phải dứt được lục căn, lục trần và lục thức. “Ta mau mau dứt nó cho rồi. Nếu tỉnh tâm nào có mấy hồi. Mượn trí đạo đuổi ra khỏi xác. Dứt được nó ấy là Giải thoát.”, đó là lời dạy của Đức Huỳnh Giáo Chủ và Ngài còn chỉ cho con đường muốn tu rốt ráo như sau:

        “Nếu ta tìm con đường Bát chánh đạo của Phật mà đi, giữ tâm thanh tịnh, làm việc nhơn từ, không lòng hờn giận, chẳng dạ ghét ganh, chuyên tâm niệm Phật, giúp thế độ đời, đừng chứa điều phiền não và để bụng tham lam ích kỷ, gây mối thiện duyên, lần lần trí huệ mở mang, cõi lòng sáng suốt, thì màn vô minh sẽ bị diệt mất.

        -minh bị diệt thì hành diệt; hành bị diệt thì thức diệt; thức bị diệt thì danh-sắc diệt; danh-sắc diệt thì lục-nhập diệt; lục-nhập diệt thì xúc-động diệt; xúc-động diệt thì thọ cảm diệt; thọ cảm bị diệt thì ái diệt; ái bị diệt thì bảo-thủ diệt; bảo-thủ bị diệt thì hữu diệt; hữu bị diệt thì sanh diệt; sanh bị diệt thì lão, tử diệt. Ấy là giải-thoát vậy.”

        Giải thoát là cởi mở sự trói buộc của nghiệp luân hồi sanh tử, chứng đắc quả A-la-hán lên Duyên giác, Bồ tát và Phật. Vậy giải thoát cũng cùng nghĩa với Niết Bàn (chỗ bất sanh, bất diệt). Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng dạy: “Hãy tìm con đường giải thoát cho mình bằng cách lạc Đạo an bần xả thân tu tỉnh.”

        Đức Huỳnh Giáo Chủ viết ra Kệ Sám cũng vì “Ta yêu chúng viết ra Giảng Kệ. Khuyên Tăng đồ cùng các Tín đồ. Nghe cạn lời chớ có mờ hồ. Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo.” Vậy đồ chúng hãy mau sửa đổi tâm chúng sanh để trở thành tâm Phật. Bởi vì tâm Phật hay tâm chúng sanh đều do mình tạo ra, nên Ngài nói:

                         “Cái chữ Tâm mà Quỉ hay Ma,

                          Tiên hay Phật cũng là tại nó.

                          Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,

                          Nếu lặng tâm tỏ ngộ Đạo mầu.”

        Tỏ ngộ là thấu đạt chơn lý mầu diệu của Đạo tức là ngộ đạo. Về câu chuyện ngộ đạo của Ngài Huy Sơn. Huy Sơn đến Giang Tây tham cầu học đạo với Tổ Bá Trượng. Một hôm nọ, Huy Sơn đang đứng hầu Bá Trượng. Tổ gọi Huy Sơn và bảo: “Vào trong nhà lấy lửa!”.

        Huy Sơn vào trong khươi tro hồi lâu trở ra và nói: “Bạch Thầy, trong lò không có lửa.”

        Tổ Bá Trượng liền rời chỗ ngồi, bước đến lò sưởi bươi sâu xuống, gắp được cục lửa đỏ, đưa lên cho Huy Sơn xem và nói: “Ngươi nói không có lửa chớ cái gì đây?”

        Ngài Huy Sơn nhơn đó mà tỏ ngộ chơn tánh.

        Trong câu chuyện nầy cho ta thấy: Huy Sơn bươi lò tìm không ra lửa là ý nói Huy Sơn chưa rõ mình đã có sẵn chơn tâm rồi và cũng chưa biết phương pháp nhận chân nên chưa tỏ ngộ. Tổ Bá Trượng bươi lò tìm ra được lửa đưa lên, khiến Huy Sơn tỏ ngộ với ý nghĩa nhờ có Thầy chỉ cho phương cách mà Huy Sơn trực nhận bản tâm, liễu ngộ chơn tánh, cũng như câu “Không thầy đố mầy làm nên” có cùng ý nghĩa.

        Đức Huỳnh Giáo Chủ là bậc Thầy tôn kính của chúng ta thường ân cần dạy bảo những phương thức học Đạo trong giáo pháp của Ngài:

                 “Hào quang chư Phật rọi mười phương,

                  Đạo pháp xem qua chớ gọi thường.

                  Chuyên chú nghĩ suy từ nét dấu,

                  Cố công gìn giữ tánh thuần lương.”

        Ngài cũng khuyên hóa chúng ta trong công phu học Đạo:

                 “Coi rồi phải nhận cho hiểu lý,

                  Câu huyền sâu của kẻ Khùng nầy.

                  Bởi chữ Khùng của Phật của Thầy,

                  Chớ chẳng phải của người lãng trí.”

        Và trong quyển “Giác Mê Tâm Kệ”, Ngài chỉ rõ để giúp hành giả đạt đến chỗ an cư thanh tịnh. Ngài thuyết:

                  “Ra Kệ nầy hai chữ bảo an,

                   Cho trần thế được tâm thanh tịnh.”

        Cũng như:

                “Xem Kệ nầy tu tỉnh tại nhà.

                Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,

                Phật chẳng chấp chẳng nài thời khắc.”

        Đức Huỳnh Giáo Chủ dạy: “Tâm cần phải bình, tánh cần phải tịnh, giữ tư tưởng cho thanh cao, trí rán tìm cái chơn lý.” Sở dĩ tâm ta chưa bình tịnh là vì còn vọng niệm phiền não, những tư tưởng trược chưa thanh lọc hết. Nếu hành giả muốn tâm mình thanh tịnh thì điều cốt yếu là đừng để lục căn nhiễm vào lục trần, đoạn đứt tâm phiền não (Tham, Sân, Si), đổi hết tư tưởng xấu thành tốt thì tâm liền thanh tịnh, trí huệ phát khai.

        Đức Huỳnh Giáo Chủ nói:

                  “Nếu như ai biết chữ tu trì,

                  Tâm bình tịnh được thì phát huệ.”./.

                                         Nam Mô A Di Đà Phật !
 
Các Đồng-đạo trong phái-đoàn Ban Trị-Sự PGHH Miền Bắc California.

Các Đồng-đạo trong phái-đoàn Ban Trị-Sự PGHH Miền Bắc California.

 
Comments