9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 20‎ > ‎

18. Thánh Vương (Phần 1) - Trần-Phú-Hữu

LTS: Bài pháp-luận sau đây là nhận-định riêng của tác-giả, không nhất thiết đó là nhận-thức của Tòa-Soạn.


                                                                 THÁNH VƯƠNG
                                                                                                                Trần Phú Hữu

          Đức Phật Thầy Tây An khai sáng Đạo năm 1849, tịch năm 1865. Ngài về Tây Phương.

        Nay vưng Sắc lịnh đức Phật Thích Ca xuống trần cứu đời Mạt pháp và chấn hưng Phật Đạo trở về Chánh pháp Vô vi:

                                “Ngọc tòa Phật Tổ nấy sai ta,

                                 Xuống cứu thế gian nẻo vạy tà.

                                 Hiệp sức Tớ Thầy truyền diệu pháp,

                                 Cho đời thấu tỏ đạo Ma-ha.”

        Ngoài ra, Ngài còn vưng lịnh đức Phật A Di Đà:

                                “Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc,

                                  Đức Di Đà truyền mở Đạo lành.

                                  Bởi vì Ngài thương xót chúng sanh,

                                  Ra sắc lịnh bảo Ta truyền dạy.”

        Ngài lại vưng lịnh đức Ngọc Đế xuống trần, báo cho biết thiên cơ, thời cuộc biến chuyển và luật Trời thưởng phạt công bình chúng sanh đời Mạt pháp:

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 20

                “Ngọc Hoàng ban chiếu Lão Khùng giáo dân.”

        Sau khi vưng Sắc lịnh, Ngài lâm trần, khai sáng nền đại Đạo năm Kỷ Mão (1939):

                “Xuống mượn xác nhằm năm Kỷ Mão.”

        Ngài dạy Đạo cứu đời, chấn hưng Phật pháp và chuẩn bị hai Đại Hội trọng đại:

        - Đại Hội Long Vân (1), Thánh Vương ra đời trị quốc và bình thiên hạ.

        - Đại Hội Long Hoa, đức Phật Di Lặc ra đời, mở ba kỳ thuyết pháp, cứu độ vô số chúng sanh giải thoát, dứt sanh tử luân hồi.

        Ngài ra đời, gồm một Thầy, ba Tớ đều là Phật Tiên, thường xưng hiệu Khùng-Điên. Khùng là Thầy, Điên là trò:

                 “Khùng vưng lịnh Tây Phương Phật Tổ,

                   Nên giáo truyền khắp cả Nam Kỳ.

                   Hội Long Hoa chọn kẻ tu mi,

                   Người hiền đức đặng phò chơn Chúa.”

        Khi Ngài lâm trần, chơn Chúa còn nhỏ, lại lâm nàn, Ngài không an tâm, tìm cách cứu độ, gầy dựng sự nghiệp Đế Vương cho vua ở tương lai:

                        “Kim Lân, Xích Phụng lâm nàn,

                Cho nên phận Lão nào an thân già.

                        Tảo tần lo liệu năm ba,

                Biết sao hiệp mặt lòng già mới nguôi.”

        Ngài ví mình như Bá Nha khảy đờn để gặp Tử Kỳ, gặp các đệ tử có duyên lành, chờ ngày lập Hội:

                “Dụng Bá Nha lên dây đờn khảy,

                  Lo cho đời quên vóc ốm gầy.

                  Ngày hằng mong gặp hội Rồng Mây,

                  Xanh men mét cũng thây thịt xác.”

        Trên bước đường cứu đời, Ngài phải gánh chịu, vượt qua biết bao khó khăn, nguy hiểm của ngàn núi vạn sông để lập Hội, diệt tà, qui chánh.

        Ngài như Khương Tử Nha sẽ đăng đàn bái tướng, hội chư hầu ở Mạnh-Tân để diệt Trụ, hưng Châu. Lúc ấy các Tiên Trưởng đến Lư Bồng phò Thánh Vương. Đây là việc Phong Thần tái thế.

        Ngài lại khuyên mọi người ẩn nhẫn, chờ thời đại tốt đẹp đến với đất nước Việt Nam tương lai:

                        “Đường gai góc thiên sơn vạn hải,

                          Dẹp cho rồi tướng bái đàn đăng.

                                Tử Nha như thể các đằng,

                 Tùng quân dựa bóng vui bằng hưng Châu.

                                Các nơi Tiên trưởng đâu đâu,

                 Lư Bồng hội hiệp đồng chầu Thánh Vương.

                                Trụ kia bạo ác phải nhường,

                Võ Vương hữu đức đường đường trị dân.

                        Thì rõ việc Phong Thần trở lại,

                        Thuyền Đông Pha lèo lái cánh trương.

                                Con lành mau lại Phật đường,

                Cùng Thầy cộng hưởng một vườn từ bi.

                        Chớ nóng nảy sân si hư việc,

                        Phải đợi thời vua Kiệt hồi qui.

                        Xử phân những đứa vô nghì,

                        Mới là khỏa lấp vít tì ngọc son.”

        Ngoài Thầy là Phật Thầy, xưng Khùng cứu đời, còn Trò là Tiên, xưng Điên, nối chí theo Khùng. Ông Trò là Điên vưng lịnh Thầy và Minh Vương để lập Hội Long Vân cứu đời:

                        “Điên nầy vưng lịnh Minh Vương,

                Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân.”

        Ngài nói rằng, vua Nghiêu xưa lo cho sự nghiệp Đế vương của ông Thuấn thì Ngài cũng lo cho Minh Chúa sau nầy, ra đời trị quốc an dân:

                        “Vua Nghiêu xưa mở đất cày,

                Ngày nay nhường lại cảnh nầy cho Điên.”

        Ngài được Thánh Chúa phán, xuất hiện miền Nam địa. Khi Ngài ra đời gặp nhiều khó khăn, hoạn nạn nhưng đều nhẫn chịu, đợi thời cơ để cứu đời:

                        “Thánh Chúa phán ra miền Nam địa,

                          Mặc cho đời mai mỉa cười chê.

                                Nhìn dân châu lụy ủ ê,

                     Biết sao trút hết gánh về ta mang.”

        Lúc ra đời, thấy cảnh nước mất, nhà tan Ngài đứng ra an bang, định quốc. Khi nước nhà vững đặt thái bình, thạnh trị như nhà Hán ở Trung Hoa, sau thời ly loạn, Ngài mới an lòng:

                        “Động tình tá quốc an bang,

                Nước nhà vững đặt Nam đàng hiển vinh.”

        Ngài đem hết sức mình ra để an bang, định quốc. Nhưng chưa tới thời kỳ, chỉ dùng Kinh Kệ để dìu dắt, dạy đời, chờ thời hưng thịnh:

                        “Một tay tá quốc an bang,

                Nước nhà vững đặt Hớn đàng hiển vinh.

                         Bây giờ ta mượn Kệ Kinh,

                Dắt dìu trần thế mặc tình nghe không.”

        Ngài kêu gọi học đạo Hiếu, Trung, theo Ngài đến kỳ lập Hội Long Vân, để coi các nước đến chầu Vua tại Thiên Cẩm Sơn:

                        “Theo ta đến chốn Tiên bang,

                Đặng coi các nước hội hàng Năm Non.”

        Ngài dạy rằng, khi đến Hội Mây Rồng, người đời mới biết Ngài là ai trở lại cứu đời.

          Ấy là:

                        “Chừng sau đến hội Rồng Mây,

                       Người đời mới biết Điên nầy là ai.”

        Trong thời gian chờ ngày lập Hội, người tín đồ phải biết sắp có Vua ra đời, nên phải tu đạo Trung Hiếu, tức thực hành Tứ Ân, không theo chủ nghĩa ngoại lai thì sẽ được Phật Trời cứu độ cho được sống còn xem Hội:

                        “Tu hành hiền đức thảnh thơi,

                Ngay cha thảo Chúa, Phật Trời cứu cho.”

        Bổn phận làm trai phải giữ chữ trung hiếu, phận làm gái, phải giữ tiết trinh, mới được dự vào trào quốc sau nầy:

                “Trai trung liệt đáng trai hiền thảo,

                  Gái tiết trinh mới gái Nam trào.”

        Người theo đạo Phật, nhờ ân đức sâu dày của Phật Tổ, sau nầy được sống còn xem Ngọc Đế phân xử và được dựa kề Vua chúa:

                                “Theo Phật Giáo sau nầy cao quí,

                                  Được nhìn xem Ngọc Đế xử phân.

                                  Lại dựa kề Bệ Ngọc Các Lân,

                                  Cảnh phú quí nhờ ơn Phật Tổ.”

        Ngài kêu gọi bậc tu mi nam tử nên giữ vẹn Tứ Ân, chừng lập Hội khỏi thẹn thùa, được quả vị cao quí, gần với Phật Tiên:

                                 “Ai là người quân tử tu mi,

                                  Phải sớm xử thân mình cho vẹn.

                                  Chừng lập Hội khỏi thùa khỏi thẹn,

                                  Với Phật Tiên cũng chẳng xa chi.”

        Tuy bây giờ kẻ Sở người Tề, kẻ nước nầy, người nước khác, mà giữ được đạo Trung Hiếu, giữ được tánh tình ngay thẳng khi Thánh Vương ra đời, thì cũng gặp được Ngài:

                        “Hiếu trung hãy liệu cho xong,

                Đến chừng gặp Chúa mới mong trở về.

                         Bây giờ kẻ Sở người Tề,

                Hiền lương đến Hội cũng kề với nhau.”

        Ngài lại khuyên nên tầm học Đạo của Ngài, đặng sau nầy xem các nước lớn đánh nhau. Lúc đó mình được sống còn, là nhờ ơn Thánh Vương ra trị quốc:

                 “Khuyên bổn đạo chớ nên mê ngủ,

                   Thức dậy tầm đạo Chánh của Khùng.

                   Đặng sau xem liệt quốc tranh hùng,

                   Được sanh sống nhờ ơn Chín Bệ.”

        Ai mà đền đáp trọn luân lý Tứ Ân, mới được sống còn dự hội Long Vân:

                        “Nào là luân lý Tứ Ân,

                   Phải lo đền đáp xác thân mới còn.

                         Ai mà sửa đặng vuông tròn,

                   Long Vân đến Hội lầu son dựa kề.”

         Ngài lại khuyên sớm chiều cúng lạy, tu cầu Chư Phật cứu độ Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, Đất nước, Nhơn loại và Quốc vương mau xuất hiện:

                        “Tu cầu cha mẹ thảnh thơi,

                Quốc Vương thủy thổ chiều mơi phản hồi.”

        Ngài lại khuyên các ông thầy thuốc Bắc, thuốc Tây không nên mổ mật người ta lấy tiền mà thọ tội, nên trau sửa hiền nhân, tu hành thì mới được dự Hội, dựa kề Thánh Vương:

                        “Hốt thời cắc bảy cắc ba,

                Nó đòi năm cắc người ta hoảng hồn.

                         Lành bay còn ác lại tồn,

                Đến chừng lập Hội xác hồn lìa xa.

                         Mấy anh thầy thuốc Lang-sa,

                Cũng là mổ mật người ta lấy tiền.

                         Xin trong anh chị đừng phiền,

                Đồng bạc đồng tiền là thứ phi ân.

                         Muốn sau dựa được Các Lân,

                Hãy nên trau sửa hiền nhân mới là.”

        Ngài lại cho biết, đời sắp cùng cuối rồi, phải phát tâm tu gấp, mới kịp thời để xem lầu đài, cung điện của Vua chúa xuất hiện ở Năm Non, núi Cấm:

                        “Đời cùng tu gấp kịp thì,

                Đặng xem báu ngọc ly kỳ Năm Non.”

        Đối với biển hồng trần, những nghiệp chướng của thân, khẩu, ý cần phải diệt trừ, thì mới được sống còn trong ngày lập Hội:

                        “Biển hồng trần sớm gội cho xong,

                          Ngày lập Hội mới mong trở lại.”

        Ngày hai thời lễ bái công phu sớm chiều, thực hành đầy đủ chuyên cần, sau nầy cũng gần được Vua:

                “Sớm với chiều gắng chí nguyện cầu,

                  Thì cũng được tòa chương dựa kế.”

        Người tu hành phải biết cách hành đạo như khi đươn, phải biết đát, trọn cả hai bề, thì sau nầy cũng dự được Hội:

                “Tu biết cách như đươn biết đát,

                  Đươn đát rành đặng dựa xe loan.”      

        Tu cầu cho Phật, Thánh, Tiên ra đời lập Hội, thế giới hòa bình, lúc ấy có Vua xuất hiện, lại thấy được thành vàng, điện ngọc:

“Tu cầu chóng hết binh đao,

Gặp đời bình trị xiết bao vui vầy.

 Mắt nhìn chư Phật đông dầy,

Thành vàng điện ngọc trò Thầy đăng Tiên.”

        Trong bài Tây Phương ngũ nguyện, hằng ngày người tín đồ cầu nguyện trước ngôi Tam bảo, cầu nguyện chư Phật và Tam Hoàng phò hộ thế giới hòa bình:

        “Nam mô Tây Phương Cực lạc Thế giới đại từ đại bi phổ độ chúng sanh, A Di Đà Phật.

        Nam mô Nhứt nguyện cầu: Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhơn hoàng, Liên Hoa hải hội, Thượng Phật từ bi, Phật Vương độ chúng thế giới bình an…”

        Ngài lại khuyên chúng ta nên dẹp danh, lợi, tình và các phiền não, để trở lại con đường đạo đức tốt đẹp của ông cha và Thánh chúa:

                                “Dẹp lợi danh dẹp hết mộng sầu,

                                  Đặng trở lại với cha cùng chúa.”

        Ngài khuyên phải biết lập thân nuôi chí, hành đạo Tứ Ân thì mới gần đuợc Thánh Vương:

                                 “Ai muốn gần Bệ Ngọc Các Lân,

                                  Thì phải rán lập thân nuôi chí.”

        Hãy rán tu đạo Hiếu Trung, vì Chúa cõi Diêm Phù Đề chọn người tu hành chơn chánh và nghinh đón những người hiền đức:

                 “Diêm phù chơn Chúa chọn người tu,

                  Hành phạt ác hung chốn cửa tù.

                  Tiếp nghinh những kẻ lòng nhơn đức,

                  Hỡi bớ dương trần hãy rán tu.”

        Ngài khuyên hãy rán hành đạo, để sau nầy Tớ Thầy, tôi Chúa cùng nhau sum họp trong ngày Đại hội Long Vân, Long Hoa:

                                 “Rán tu vẹt phá đạo lu bù,

                                  Thấy chúng đời nầy lạc chữ tu.

                                  Sớm tỉnh Kệ Kinh tìm hiểu lý,

                                  Một ngày hội hiệp hết mờ lu.

                                  Mờ lu được sáng rắn hóa cù,

                                  Hiệp mặt phân trần nỗi ám u.

                                  Tớ Thầy, tôi Chúa cùng nhau gặp,

                                  Khắp hết thế gian thoát ngục tù.”

        Nếu muốn sau nầy được xem hội Long Đình, Long Vân của Vua chúa, thì hãy rán tu, làm tròn chữ Hiếu, mười điều ân và vẹn điều ngay thảo:

                        “Muốn xem được hội Long Đình,

                   Thì dân hãy rán sửa mình cho trơn.

                         Ở ăn cho vẹn mười ơn,

                  Cảnh tình hiền đức gặp cơn khải hoàn.

                         Gắng công khỏi buổi nghèo nàn,

                  Sum vầy một cuộc Hớn đàng toại thay.

                         Người nào vẹn được thảo ngay,

                  Dựa kề cửa Thánh đài mây an nhàn.”

        Ngài khuyên phải ẩn nhẫn, chờ đợi thời cơ tốt đến, do Phật Tiên phân định thì mới gặp được Vua, thấy đền vàng điện ngọc huy hoàng:

                           “Nam thiền báu ngọc châu trân,

                     Phật Tiên phân định tấm thân mới nhàn.

                         Duyên sự đê mê cảnh Hớn đàng,

                         Lần dò cho thấu nẻo Tiên bang.

                         Xuê xang mấy kiểng nhìn sương gió,

                         Lòn cúi chờ trông lúc khải hoàn.”

        Nên trau dồi đức tánh trong sạch, ngay thẳng, liêm khiết, sau mới thấy được đền vàng:

                        “Trau dồi đúng bực thanh liêm,

                    Nữa sau mới biết thành kim đền đài.”

        Lời của Phật Tiên từ xưa truyền dạy, muốn mắt, tai của phàm trần thấy, nghe, gặp hội Rồng Mây. Hằng ngày phải trau dồi đạo trung hiếu:

                        “Lời xưa di tích rõ việc nầy,

                         Ai muốn mắt phàm gặp Rồng Mây.

                         Hãy rán nghe lời ta mách trước,

                         Không gìn đạo đức phải phơi thây.”

        Ngài dặn dò, dạy bảo kỹ lưỡng, nên chạm dạ, ghi lòng, giữ vững tinh thần đạo đức, thì được xem hội Long Đình vui vẻ:

                        “Mấy lời dặn bảo đinh ninh,

                Gắn ghi chạm dạ Long Đình được xem.”

        Sắp đến gặp đời khổ, người quân tử phải khôn ngoan, nhẫn nhục, hơi sút bước mới vượt khỏi khó khăn mà gặp hội Mây Rồng:

                “Còn mong cho gặp hội Mây Rồng,

                 Sắp đến bước đường gặp nẻo chông.

                 Quân tử tùy thời hơi sút bước,

                 Tiểu nhân ỷ sức mạnh pha xông.”

        (Hết phần 1, xin xem tiếp phần 2 trong TSTT số 21).

_____________________________________

Chú Thích:

(1)  Nói đến Đại Hội Long Hoa, người tín đồ PGHH đều rõ biết, nhưng khi nhắc đến Đại Hội Long Vân thì ít người biết đến. Sau đây, chúng tôi xin dẫn chứng bằng một vài câu Sấm Giảng và Thi Văn Giáo Lý của ĐHGC:

“Nào là luân lý Tứ Ân,

Phải lo đền đáp xác thân mới còn.

           Ai mà sửa đặng vuông tròn,

 Long Vân đến Hội lầu son dựa kề.”

                                                                                        (Sấm Giảng, Q.3)

“Chừng sau đến hội Rồng-Mây,

Người đời mới biết Điên nầy là ai."

                                                                                        (Q.1, KNĐTN)

                          “Rồng-mây hội yến; Ra đời bất chiến,

                            Nổi tiếng từ-bi; Lời lẽ rán ghi,"

                                                                                        (“Hố Hò Khoan”)

                               “Lời xưa di-tích rõ việc nầy,

                            Ai muốn mắt phàm gặp Rồng-Mây.”

                                                                                        (Để chơn đất Bắc)

                              “Dụng Bá Nha lên dây đờn khảy,

                               Lo cho đời quên vóc ốm gầy.

                               Ngày hằng mong gặp hội Rồng Mây,

                               Xanh men mét cũng thây thịt xác.”

                                                                                        (Nang thơ cẩm tú)

                                “Miệng nhỏ tiếng to vang bốn biển,

                                 Lưỡi mềm lời lớn dậy Rồng-Mây.”

                                                (Đức Thầy họa bài thơ Hằng Nga)

“Thế gian chuyện có nói không,

   Đến Hội Mây Rồng thân chẳng toàn thây.”

                                                                                        (Q.1, KNĐTN)

 

        Ngoài ra, để minh chứng cho lập luận Đức Thầy và đức Trạng Trình có quan hệ mật thiết với nhau , chúng tôi xin đưa ra những chi tiết cụ thể sau đây:

        1.- Trong bài thi họa với bài xướng của Ông Chín Diệm, Đức Thầy viết: Trình mỗ ngộ kim khuê Cổ địa,           (Dịch nghĩa: Ta là Trạng Trình tại làng Cổ Am, hiện nay đã trở lại.)

          2.- Qua nội dung và ý nghĩa bài thơ xướng của Ông Huỳnh Hiệp Hòa (người làng Bình Thủy, tỉnh Long Xuyên):

                        “Phiến ngôn đại chấn điểm nam cương,

                         Khẩu tụng Văn vương vị bốc tường.

                         Dữ thiện ngôn ngôn tung nhứt nhị,

                         Hành nhơn tịch tịch muội tâm lương.

                         Mã lai thủ thị danh thương pháp,

                         Thủy kiệt chưởng thâm tẩy khổ trường.

                         Thi vấn hồi âm tri bửu hiệu,

                         Tứ minh tam vị hiển văn chương.”

                                                                        (Tr.282 – SGTVTB 2004)

        Ông HÒA cho rằng: Đức Huỳnh Giáo Chủ khai Đạo, tiếng tăm vang dội miền Nam Việt Nam. Vậy Ngài có liên hệ gì với ba ông: Trạng Trình, Cử Đa và Đề Thám, mà ông đã nói trong văn thơ ?

        Sau đây là bài thơ của Ông Nguyễn văn Chơn lược dịch theo lối Chiết tự từ bài HÁN THI trên:

                        Phiến chấm đại bên TRẠNG hữu tình,

                        Dưới vương, trên khẩu hợp nên TRÌNH.

                        Sau tung, trước dữ thành nên CỬ,

                        Hai tịch là ĐA chữ lập thành.

                        Thủ thị tay ĐỀ tên bảng hổ,

                        Thủ thâm mất thủy THÁM là danh.

                        Làm thơ xin hỏi tôn danh hiệu,

                        Ba vị văn chương hiển hiện rành.

        Bài HÁN THI của Ông Huỳnh Hiệp Hòa xướng được Đức Thầy đáp họa như sau:

                        “Hồi đầu điểm đạo chuyển phong cương,

                         Háo thắng bi ly đạo khổ tường.

                         Tề tướng cam phong an diện nhị,

                         Hàn nhơn thọ khóa tác tâm lương.

                         Thiên tôn mật sát nhơn gian pháp,

                         Phật lý di khai đại hội trường.

                         Tam bá ngoại niên chơn bút hiệu,

                         Hàn lâm nhứt đấu vịnh thiên chương.”

                                                                        (Tr.282 – SGTVTB 2004)

        (Đại ý: Đức Thầy khuyên ông Huỳnh Hiệp Hòa hãy sớm quày đầu hướng thiện, nếu còn tranh hơn thua cao thấp sẽ không gần được Đạo. Ngài cho biết có sứ mạng vâng lịnh Phật Tổ lâm phàm khai Đạo, lập hội Long Hoa, chọn người hiền đức. Trên ba trăm năm Ngài là quan Đại học sĩ, đứng đầu một triều vua, có sáng tác một ngàn bài thơ).

        Bài đáp họa của Đức Thầy cũng được Ông Nguyễn Văn Chơn lược dịch bằng bài thơ theo thể Đường luật như sau:

                        Hãy quay tìm Đạo ở phương Nam,

                        Tranh luận đạo xa khá rõ ràng.

                        Tề Tướng hai bề an ổn được,

                        Hàn Nhơn một mặt khó gìn kham.

                        Nhơn gian Phật giáo Thiên tôn vị,

                        Thích đạo hoằng khai đại hội trường.

                        Ta đã ba trăm năm có lẻ,

                        Làm quan sáng tác ngàn bài văn.

        Mặc dù Đức Thầy không trực tiếp trả lời cho biết Ngài là ai trong ba vị kể trên nhưng qua hai câu kết (7 và 8), Ngài đã tiết lộ cho chúng ta biết giữa Ngài và cụ Trạng Trình có sự liên hệ vô cùng mật thiết.

        Cụ Trạng Trình tộc danh là Nguyễn Bỉnh Khiêm sanh năm Tân Hợi (1491), mất ngày 28 tháng 11, năm Ất Dậu (1585). Nguyên quán làng Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt). Ngài có hiệu tự là Bạch Vân Cư Sĩ, trong sự nghiệp văn chương, Ngài đã trước tác một ngàn bài thơ, gồm nhiều thể loại. Tên tác phẩm là “Bạch Vân Thi Tập” và “Bạch Vân Quốc Ngữ Thi”.

        Nếu tính vào thời điểm Đức Thầy khai đạo, ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939) và năm mất của cụ Trạng Trình (1585), chúng ta sẽ thấy:

                        1939 – 1585 = 354 năm

        Do đó, Đức Thầy đã xác nhận: “Tam bá ngoại niên chơn bút hiệu.” (Ngoài ba trăm năm mới chính là tên hiệu của Ngài). Ngoài ra, Đức Thầy cũng tiết lộ Ngài có liên hệ với cụ Trạng Trình: “Trình mỗ ngộ kim khuê cổ địa” (Ta là Trạng Trình ở làng Cổ Am) trong bài “Đáp họa” với bài Hán Thi của Ông Chín Diệm Nguyễn Kỳ Trân và trong bài “Để chơn đất Bắc”, Ngài có nói rõ:

                        “Vân vân bạch bạch thức sinh thần,

                          Cổ quán thôn hương nhứt dị nhân.

                          Tiên sinh hậu kiếp phò Lê chúa,

                          Hậu truyền độ chúng cảm hoài ân.”

        (Đại ý: Giữa Đức Huỳnh Giáo Chủ và cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự liên hệ mật thiết: Cùng tôn thờ Lê Chúa và vì dân mà phục vụ, vì nước mà dám quên mình. Đức ân đó đáng được hậu thế ghi nhớ).

Comments