9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 20‎ > ‎

17. Yếu chỉ Pháp Môn Tịnh Độ (Phần 2) - Trạch Thiện

YẾU CHỈ  PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

Trạch Thiện biên soạn

Kính tặng quý Liên Hữu.

Lời Phi Lộ

         Trên đường tu học, người xưa từng dạy, hiểu y văn kinh thì không thể thấu suốt Thánh ý, mà xa rời văn kinh dù một chữ cũng thành lời ma ngoại

[1]. Do đó, trong rừng kinh luận, nếu ta học mà thiếu sự quán xét để hiểu thoát ý kinh và không sắp xếp cô đọng cho dễ nhớ thì khó tránh khỏi lộn lạo trong việc thực hành. Cho nên, tập tài liệu nhỏ này không ngoài mục đích hệ thống hóa một mớ kiến thức hạn hẹp thuộc nền tảng cốt yếu của Pháp Môn Tịnh Độ, để trao đổi với các đạo hữu (đồng đạo và thân hữu) có cùng chí hướng, kiên quyết nương theo Phật pháp mà tu hành đến bến bờ giải thoát.

         Trong việc biên soạn, người viết tự biết khó tránh những lỗi lầm nghiêm trọng. Nhưng trong tinh thần hỗ trợ nhau để cùng tu học, rất mong quý vị cao minh chỉ bảo cho những chỗ sơ sót.

         Ngưỡng cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho chúng ta luôn luôn “Tin sâu, Nguyện thiết, Chuyên trì Hồng danh Đức Từ Phụ A Di Đà” để đến lúc lâm chung được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, trụ bậc Bất Thối Chuyển, nhanh chóng viên thành đạo quả Bồ Đề.

         Nam Mô A Di Đà Phật.

               Soạn Giả

LTS. Sau đây là Phần Hai,  tiếp theo bài Yếu Chỉ Pháp Môn Tịnh Độ đã được đăng trong Tập San Tinh Tấn Số 19.

Phần Hai

Thể Hiện Yếu Chỉ Pháp Môn Tịnh Độ

         Pháp môn Tịnh Độ là một pháp Đại Thừa viên đốn. Pháp nầy đưa hành giả từ hàng phàm phu đến chỗ tiến tu bất thối chuyển chỉ trong một đời. Nhờ thuận duyên bất thối chuyển, hành giả sẽ đạt đến quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thẳng tắt mau lẹ. Trên đường thể hiện, hành giả phải căn cứ yếu chỉ mà tu hành. Để tóm tắt những gì cần làm, Triệt Ngộ đại sư đã từng nói: “Vì sanh tử nên phát lòng Bồ đề, dùng Tin sâu - Nguyện thiết - Chuyên trì Hồng Danh Phật để cầu sanh Cực Lạc.” Như thế, trong vấn đề thể hiện Yếu chỉ Pháp môn Tịnh độ, trước hết hành giả cần phải phát tâm tu hành, sám hối tam nghiệp, thứ đến là không ngừng củng cố Tín Nguyện Hạnh, và sau cùng, thiết nghĩ vấn đề không kém phần quan trọng là nên chuẩn bị cho phút lâm chung.

1. Vấn Đề Phát Tâm Tu Hành.

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 20

         Đối với pháp môn Tịnh Độ, hành giả phải giác ngộ nơi quả địa mà làm cứ điểm phát tâm ở nhân địa. Điều đó có nghĩa là phải vì quả vãng sanh, giải thoát khỏi cảnh khổ luân hồi sanh tử mà phát lòng Bồ Đề để gieo cái nhân tu hành một cách thiết thực.

         a.- Giải Quyết Vấn Đề Sanh Tử.

         Theo đạo Phật, sanh tử là việc hệ trọng, là nguồn gốc của mọi khổ đau trên đời. Do đó, mục tiêu tối hậu của đạo Phật không ngoài việc giải quyết vấn đề sanh tử. Người tu hành chơn chánh không thể đi lệch mục tiêu tối hậu đó. Tất cả những nỗ lực tu hành để cầu an, cầu mạnh khỏe sang giàu, cầu vượt qua chướng nạn, thậm chí cầu quả báo tốt đẹp ở kiếp sau đều không đi đúng bản hoài của đức Phật. Vì tất cả những thứ đó chỉ là phước báo hữu vi, không chắc thật, không giải quyết được rốt ráo vấn đề khổ đau do luân hồi sanh tử đem đến. Mà muốn giải quyết sớm vấn đề sanh tử, không chi bằng tu theo pháp môn Tịnh Độ, tức là niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc, một pháp “Tự lực nương Phật lực”, có thể thành tựu ngay trong một đời, nhờ tính “đới nghiệp vãng sanh”, hưởng quả bất thối chuyển -  dù chưa được nghiệp sạch tình không, mà mặc nhiên xem như được xếp ngang hàng với chư thượng thiện nhơn Bồ-Tát.

         b.- Phát Tâm Bồ Đề.

         Vì mục đích thoát ly sanh tử, người niệm Phật còn phải phát Bồ đề tâm -  tức phát tâm cầu quả giác ngộ của chư Phật - để vừa tự độ vừa tha độ, mới phù hợp với pháp Đại thừa của đạo Phật.

         Sau đây là một số điều kiện cần thiết để hành giả phát Bồ đề tâm được thiết thật:

         (1) Giác ngộ lý vô thường vô ngã:

         Hành giả phải thường quán xét thân này là giả thân do tứ đại hợp thành, tâm này là thể huyễn hóa sinh diệt không ngừng của thọ, tưởng, hành, thức. Suy tư quán xét như thế lâu dần hành giả sẽ giác ngộ được lý vô thường vô ngã, chẳng còn thấy thật có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướngthọ giả tướng là chơn thật, như Kinh Kim Cang nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.” Giác ngộ lý này, hành giả sẽ phá được tâm chấp trước.

         (2) Nuôi dưỡng lòng từ bi bình đẳng:

         Hành giả cần thường tâm niệm: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” để không khởi tâm khinh mạn kẻ khác, mà luôn luôn thể hiện lòng từ bi, xót thương tế độ kẻ cùng khổ kém phước hơn mình hầu đem lại nguồn an vui cho hết thảy chúng hữu tình. Có lòng từ bi bình đẳng thì tâm sẽ thấy an lạc, không móng khởi ý phân biệt, thị phi, nhơn ngã.

         (3) Phát triển tâm hoan hỉ:

         Hoan hỉ gồm có hai phần:

         - Tùy hỉ là vui theo công đức lợi lạc của người khác;

         - Hỉ xả là vui vẻ buông tha những lỗi lầm của người khác dù nó có gây tổn hại cho chính mình.

         Có tâm tùy hỉ, hành giả sẽ bỏ được chướng “tật đố”, và có tâm hỉ xả, hành giả sẽ bỏ được chướng “hận thù”. Hai chướng tật đó làm cho tâm không bao giờ được yên ổn.    

         (4) Nguyện không thối thất trên bước đường tu hành:

         Hành giả cần nghĩ rằng sở dĩ ta còn lăn lộn trong cảnh sanh tử luân hồi là vì trong quá khứ lâu xa, tam nghiệp đã tạo vô vàn tội ác. Do đó, hành giả phải không ngừng phát tâm sám hối tam nghiệp và nguyện tinh tấn phát triển hạnh lành. Dù con đường giải thoát có nhọc nhằn, gian khổ và lâu dài đến đâu, hành giả cũng nhất định không thối thất công hạnh tu trì.

         Với sự phát tâm Bồ đề dựa trên các điều kiện căn bản như thế, hành giả sẽ phá dần những chướng ngại nặng nề của lòng chấp trước phân biệt, khinh khi, tật đố, hận thù; trái lại, tâm thể sẽ được thanh tịnh và an vui để tiến sâu trên đường đạo hạnh.

2. Thường xuyên củng cố Tín-Nguyện-Hạnh.

         Phát tâm tu hành chân chánh theo pháp môn Niệm Phật, điều thiết yếu là hành giả phải luôn luôn củng cố Tín Nguyện Hạnh bằng phương cách hành trì thiết thực, và kiểm điểm không ngừng bước đường tu tiến. Muốn có hành trì thiết thực để không mất phần “nhập phẩm” -  tức không mất kết quả vãng sanh - ta không được quên niệm Phật cầu vãng sanh, dù việc niệm Phật đó được thực hiện hoặc ít hoặc nhiều trong mỗi ngày, theo đúng thời khóa đã vạch. Còn để kiểm điểm bước đường tu tiến, không chi bằng vận dụng sự hồi quang phản chiếu một cách không ngừng.

         a. Củng cố Tín Nguyện:

         Đây là công hạnh làm cho đức tin vào Chánh Pháp của mình càng ngày càng thêm sâu chắc, và chí nguyện cầu sanh Cực Lạc mỗi lúc một thêm tha thiết. Người có đức tin sâu chắc vào pháp môn Tịnh Độ thì nhất định không thể để cho một nghi ngờ nào còn tồn tại:

         - Người đó không có một mảy may nghi ngờ sự hiện hữu của Phật tánh nơi mình, nên tin chắc mình có đầy đủ năng lực để được vãng sanh hầu nhanh chóng thành tựu viên mãn Phật quả.

         - Người đó không có một mảy may nghi ngờ lời chỉ dạy của đức Bổn Sư Thích Ca và 48 lời thệ nguyện chí thiết của đức Từ Phụ A Di Đà là thật có.

         - Người đó không có một mảy may nghi ngờ việc trì danh hiệu đức Từ Phụ A Di Đà là nhân tố bảo đảm chắc chắn để vãng sanh về quả địa Tây Phương Cực Lạc.

         - Người đó không có một mảy may nghi ngờ thế giới Tây Phương Cực Lạc là thế giới rất thanh tịnh trang nghiêm, hiện hữu như sự hiện hữu của thế giới Ta Bà này; và dù thế giới Cực Lạc cách đây đến mười muôn ức Phật độ cũng không ở ngoài chơn tâm sẵn có của ta - vì nơi mỗi chúng sanh đều sẵn có “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ”.

         Niềm tin đó là chánh tín, dựa trên cơ sở trí tuệ rõ ràng. Niềm tin đó là bước đầu vào đạo, là mẹ đẻ của mọi công đức, thường nuôi lớn căn lành và thường thành tựu đạo quả Bồ Đề[2]. Cho nên dù cho trong hoàn cảnh nào, hành giả không được để cho bất cứ ai (phàm cũng như Thánh) có thể lay chuyển niềm tin đó.

         Từ Tin sâu, hành giả sẽ phát khởi Nguyện chí thiết. Người có lòng nguyện thiết thì phải biết rõ cõi Ta Bà ô uế này là do tâm ô uế của mình tạo ra, nên nhất quyết dứt bỏ nó đi. Còn cõi Cực Lạc thanh tịnh kia là do tâm thanh tịnh của mình tạo ra, nên nhất quyết vui cầu lấy nó. Cho nên, đã chí thiết nguyện về Cực Lạc thì cũng đồng thời chí thiết nguyện rời bỏ Ta Bà. Đã nguyện rời bỏ Ta Bà thì hành giả không được tham luyến: sự nghiệp, tiền của, vợ (chồng) con, thân bằng quyến thuộc v. v... Tất cả sinh hoạt trên đời đều là nương vào cảnh sống tạm để tu hành giải thoát, nên khi cần buông bỏ thì sẵn sàng buông bỏ, không một chút luyến tiếc đắn đo. Đó là một việc rất khó thực hiện, nên hành giả cần thường hồi quang phản chiếu để thăm dò và điều chỉnh tư tưởng của mình dần dần trong lúc bình thời, đồng thời cũng để củng cố sức nguyện của mình cho chí thiết.

         b. Củng cố việc hành trì:

         Căn cứ trên cơ sở Tin sâu Nguyện thiết, hành giả cần thường củng cố việc Hành trì. Hành trì chính là công hạnh dọn dẹp tâm tánh mình mỗi lúc một thêm thanh tịnh. Như trên đã nói, nếu tâm ta ô uế thì ta không thể rời bỏ cõi Ta Bà ô uế này được; hay ngược lại, chỉ có tâm thanh tịnh mới về được cõi  thanh tịnh Cực Lạc kia thôi. Như vậy, điều tất yếu là ta phải hành trì cho thiết thực. Trong việc hành trì thiết thực, không nên bận tâm là hành nhiều hay hành ít, vì còn phải tùy theo từng hoàn cảnh của hành giả. Điều cốt yếu là phải tinh chuyên. Đã trì danh hiệu Phật thì cứ giữ hạnh nầy không dời đổi, và thể hiện một cách chuyên cần, không manh nha tạp hạnh. Tinh chuyên là nhân tố của nhất tâm bất loạn, là khí cụ tiêu diệt tâm điên đảo. Do đó, đến lúc lâm chung, tứ đại sắp phân ly, nhờ sức niệm Phật đã được huân tu tinh chuyên thuần thục, hành giả có thể  thực hiện những câu Phật hiệu một cách “nhứt tâm bất loạn” để được tiếp dẫn vãng sanh về cõi Cực Lạc một cách khá dễ dàng.

         Để thực hiện việc niệm Phật chuyên cần, hành giả cần ấn định thời khóa tịnh niệm mỗi ngày làm căn bản, và luôn luôn thực tập hành trì danh hiệu Phật trong những lúc đi đứng nằm ngồi. Hành giả có thể chọn một phương thức[3] niệm Phật phù hợp với sở thích của mình và tùy tiện áp dụng một nghi thức, hoặc sẵn có của tông phái mình[4], hoặc do các Tổ sư truyền lại mà các sách viết về Pháp môn Tịnh Độ thường đề cập đến.

         Trên đà tu tiến, hành giả có thể thu xếp công việc sinh hoạt ngoài đời gọn nhẹ để vừa phát triển tâm Bồ đề (sống giản dị, trường chay, bố thí v. v...) vừa tăng gia thời gian niệm Phật hằng ngày, hoặc để áp dụng việc kiết thất.  Kiết thất sẽ dễ giúp hành giả có thể khắc kỳ cầu chứng nghiệm việc “nhất tâm bất loạn” trong một định kỳ nào đó. Kiết thất là cách ly với ngoại duyên ngoại cảnh bằng cách ở trong một căn lều nhỏ hoặc một gian phòng nhỏ để tinh chuyên niệm Phật trong thời hạn 7 ngày mỗi kỳ. Theo kinh cho biết thì thời gian để có thể niệm Phật được “nhất tâm bất loạn” đối với mỗi căn tánh như sau:

         - Bậc lợi căn: niệm 1 ngày có thể nhất tâm;

         - Bậc độn căn: niệm 2 ngày, 3 ngày, hoặc đến 7 ngày có thể nhất tâm.

         Tuy nhiên, nếu niệm Phật không tinh chuyên thì có thể trải nhiều năm mà không được nhất tâm. Cho nên, hành giả phải cố công tinh tấn hành trì suốt cả đời thì mới mong đạt được kết quả chắc chắn.

3. Việc chuẩn bị cho lúc lâm chung:

         Đây là một sắc thái đặc biệt của Pháp môn Tịnh Độ. Người tu Tịnh Độ suốt đời tinh tấn hành trì không ngoài mục đích để sau khi lâm chung được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Cho nên, hành giả khi thấy mình già yếu bệnh hoạn hoặc khi lâm trọng bệnh mà thấy không thể qua khỏi, nên làm hai việc cần thiết sau đây:

         - Tự chuẩn bị tinh thần để ra đi;

         - Nhờ bạn bè quyến thuộc thỉnh thiện tri thức đến để thuyết pháp khai ngộ, hoặc an ủi khai thị, cùng trợ niệm trong lúc mỏi mệt hôn mê.

         a. Tự chuẩn bị tinh thần :

         Về phần tự chuẩn bị tinh thần, hành giả cần sắp xếp giải quyết dứt khoát việc nhà như: phân chia tài sản (nếu có), dặn dò con cháu những điều cần thiết. Đặc biệt hơn hết, hành giả phải chuẩn bị tinh thần giải thoát, dứt trừ tâm tham luyến những duyên giả tạm trên đời như thân mạng, của cải, vợ (chồng) con, thân bằng quyến thuộc v. v... Hành giả cần tự kiểm tra và củng cố Tín Nguyện Hạnh, một lòng chuyên nhứt niệm Phật tha thiết cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Đến lúc bệnh ngặt, hành giả có thể ngưng thuốc, hoặc nếu uống thuốc thì không nên quá để tâm mong cầu lành bệnh mà có thể thối thất sức nguyện vãng sanh.

         b. Sự trợ giúp của thân bằng quyến thuộc:

         Khi hành giả lâm bệnh mà nhận thấy khó qua khỏi thì thông thường việc thỉnh thiện tri thức đến giảng pháp và khuyến tấn tiếp tục hành trì là điều rất cần thiết. Lúc đó, hành giả cần được thân nhân giúp hai điều:

         (1) Nhắc nhở đâu là cảnh khổ Ta Bà và đâu là cảnh vui Cực Lạc để hành giả bền tâm hâm mộ mạnh mẽ.

         (2) Tán thán công đức tu hành lúc bình thời để hành giả luôn luôn tự tin vào kết quả vãng sanh của mình.

         Người bên cạnh tuyệt đối không nhắc nhở việc đời, không đến thăm hỏi sức khỏe hoặc nói chuyện tạp vô ích, không được khóc lóc bi quan. Trái lại, nên tổ chức luân phiên đứng cạnh bệnh nhân chắp tay trợ niệm. Việc trợ niệm đặc biệt cần thiết khi bệnh nhân đuối sức hoặc có triệu chứng hôn trầm.

         Người trợ niệm có thể niệm 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc 4 chữ “A Di Đà Phật” đều được, tùy theo thói quen của người bệnh trong lúc bình thời. Niệm thế nào để âm thanh vừa đủ nghe (không to quá hoặc nhỏ quá), và độ nhanh vừa để bệnh nhân bắt kịp tiếng mà niệm theo. Mục đích chính của trợ niệm là nhắc nhở bệnh nhân tiếp tục giữ danh hiệu Phật một cách “nhất tâm bất loạn” trước phút ra đi để được tiếp dẫn vãng sanh. Do đó, việc sắp xếp như thế nào để có thể đạt mục đích là được.

         Hiện nay có phong trào trợ niệm bằng máy ghi âm cassette, CD,… trong đó, thường thường sau một loạt niệm danh hiệu Phật, lại đệm thêm những lời khuyến tấn rất tha thiết. Hình thức này tiện lợi là có thể thực hiện  việc trợ niệm được bền lâu (nhiều ngày liên tiếp), cách ly người bệnh với những xao động bên ngoài, nhưng lại thiếu hình ảnh trang trọng của các bạn đạo, khả dĩ gợi cho người bệnh khung cảnh đạo vị đầm ấm, vốn hỗ trợ cho tinh thần của người bệnh rất nhiều. Do đó, thiết nghĩ ta có thể dùng máy trợ niệm để bổ sung cho những thiếu sót, chớ không nên thay thế hẳn việc trợ niệm của các bạn đạo, như đã từng thực hiện sống động từ trước đến nay.

         Sau khi người bệnh dứt hơi, tùy hoàn cảnh, việc trợ niệm nên tiếp tục càng lâu càng tốt (tiêu chuẩn tốt nhất là  8 tiếng đồng hồ). Sau thời gian đó, nếu ở Việt Nam, thì bắt đầu thay y phục tử thi, đặt vào áo quan để tẩn liệm và tiếp tục nghi thức cầu nguyện trước lúc di quan; hoặc nếu ở hải ngoại, thì di chuyển đến nhà quàn để sắp xếp việc an táng (thiêu, chôn) và cử hành nghi thức tôn giáo cho đến lúc di quan. Trong suốt thời gian trước khi an táng, quyến thuộc tuyệt đối không được khóc lóc kể lể bi ai, lúc chưa tẩn liệm không được sờ mó, lay động tử thi, vì thần thức có thể chưa ra đi hẳn nên vẫn còn cảm giác bi thương lưu luyến, hoặc đau đớn phật ý mà không thể siêu thoát (phải chịu sa đọa nơi cõi âm vô kỳ hạn).

         Việc tổ chức tang lễ cùng cỗ bàn nên đơn giản, tránh rình rang tốn kém. Đặc biệt nên làm chay để người sống khỏi mang nghiệp sát hại và kẻ mãn phần không bị các oan hồn uổng tử gây chướng ngại trên bước đường vãng sanh giải thoát.

Kết Luận

         Những gì nói về pháp môn Tịnh Độ thì rất nhiều, và cũng không thể dùng lời lẽ luận bàn cho cùng tột được. Thậm chí đức Bổn Sư Thích Ca đã từng bảo đó là một pháp môn rất khó tin ở giữa cõi đời ngũ trược này. Cổ Đức cũng từng nói: Pháp môn Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, duy Phật cùng Phật mới thấu đáo, bực Đại Bồ Tát vẫn chưa hiểu trọn hết. Nhưng nắm vững yếu chỉ của Pháp môn Tịnh Độ mà tu hành, để thành tựu mục tiêu giải quyết sanh tử trong một đời, thì không luận trí ngu, tăng tục, giàu nghèo, già trẻ, gái trai, nghề nghiệp, cả đến thiện ác v. v... đều có thể hành trì được, và hành trì một cách khá dễ dàng so với các pháp môn khác, bởi bên cạnh tự lực, hành giả còn luôn luôn được Phật lực trợ giúp. Điều cốt yếu là hành giả không được quên yếu chỉ trong quá trình tu tập là: “Tin phải sâu, Nguyện phải thiết, và cung kính chí tâm Trì niệm Hồng danh A Di Đà Phật”, cũng như không được từ bỏ một hạnh lành nào để hỗ trợ cho công hạnh đó.

         Người Phật tử chân chánh không nên quên cảnh khổ sanh tử luân hồi mà xao lãng công hạnh tiến về mục tiêu giải thoát. Nhằm mục tiêu giải thoát, người lanh trí là người biết chọn con đường dễ đi và thẳng tắt. Cho nên, nếu có duyên với Tịnh Độ, ta cần sớm khởi lòng tin sâu chắc vào pháp môn nầy, để nương vào phương tiện tối thắng nầy mà giải quyết cho xong việc sanh tử trong một đời.

         Không nên chần chờ thêm nữa! Được sanh ra làm người đã là điều khó, gặp được Phật pháp là điều khó hơn.  Nếu không tu, chúng ta có thể đánh mất cơ hội quý báu hạnh ngộ cùng Phật pháp đến vĩnh cửu! Do đó, cái khổ sanh tử luân hồi, không biết đến bao giờ mới giải quyết cho xong!

         Xin hồng ân Tam Bảo luôn luôn từ bi gia hộ cho chúng ta.

         Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

         Nam Mô A Di Đà Phật.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

-     Sấm Giảng Thi Văn của Đức Huỳnh Giáo Chủ

-     Chú Nghĩa của Thanh Sĩ và Vương Kim

-     Phật Học Phổ Thông của Thích Thiện Hoa

-     Niệm Phật Thập Yếu của Thích Thiền Tâm

-     Kinh A Di Đà Yếu Giải của Trí Húc Đại Sư

-     Thiền Tịnh Quyết Nghi của Ấn Quang Đại Sư

-     Đường Về Cực Lạc của Thích Trí Tịnh

-     Kinh A Di Đà Sớ Sao của Tổ Chu Hoằng (bản dịch: Sa môn Lê Phước Bình)



[1]  Cổ đức nói: “Y kinh giảng nghĩa tam thế Phật oan, nhất tự ly kinh tất đồng ma thuyết.”

[2]  Theo ý Kinh Hoa Nghiêm.

[3]  Sau đây là 10 phương thức trì danh: 1. Phản văn trì danh (miệng niệm, tai nghe), 2 .Sổ châu trì danh (miệng niệm, tay lần chuỗi). 3. Tùy tức trì danh (niệm theo hơi thở ra vào), 4. Truy đảnh trì danh (niệm câu sau đuổi theo câu trước liên tục), 5. Giác chiếu trì danh (lối niệm của hàng cao sĩ: vừa niệm vừa hồi quang soi trở lại chơn tánh), 6. Lễ bái trì danh (vừa lạy vừa niệm), 7. Ký thập trì danh (vừa niệm vừa ghi số, cứ đủ 10 câu lần một hột chuỗi), 8. Liên hoa trì danh (vừa niệm vừa liên tưởng đến 4 sắc hoa sen: xanh, vàng, đỏ, trắng và hương sen), 9. Quang trung trì danh (vừa niệm vừa quán tưởng đang ngồi trong vùng ánh sáng), 10. Quán Phật trì danh (vừa niệm vừa tưởng Phật).(Theo Niệm Phật Thập Yếu:Thích Thiền Tâm).

[4]  Ví dụ: người tín đồ PGHH thì giữ nghi thức PGHH, người Tịnh Độ Cư Sĩ thì giữ nghi thức TĐCS, người tín đồ Cao Đài thì giữ nghi thức Cao Đài Giáo, v.v…


Comments