9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 19‎ > ‎

17. Yếu chỉ Pháp Môn Tịnh Độ (Phần 1) - Trạch Thiện

YẾU CHỈ  PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

Trạch Thiện biên soạn

Kính tặng quý Liên Hữu.

Lời Phi Lộ

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 19

            Trên đường tu học, người xưa từng dạy, hiểu y văn kinh thì không thể thấu suốt Thánh ý, mà xa rời văn kinh dù một chữ cũng thành lời ma ngoại[1]. Do đó, trong rừng kinh luận, nếu ta học mà thiếu sự quán xét để hiểu thoát ý kinh và không sắp xếp cô đọng cho dễ nhớ thì khó tránh khỏi lộn lạo trong việc thực hành . Cho nên, tập tài liệu nhỏ này không ngoài mục đích hệ thống hóa một mớ kiến thức hạn hẹp thuộc nền tảng cốt yếu của Pháp Môn Tịnh Độ, để trao đổi với các đạo hữu (đồng đạo và thân hữu) có cùng chí hướng, kiên quyết nương theo Phật pháp mà tu hành đến bến bờ giải thoát .

            Trong việc biên soạn, người viết tự biết khó tránh những lỗi lầm nghiêm trọng. Nhưng trong tinh thần hỗ trợ nhau để cùng tu học, rất mong quý vị cao minh chỉ bảo cho những chỗ sơ sót .

            Ngưỡng cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho chúng ta luôn luôn “Tin sâu, Nguyện thiết, Chuyên trì Hồng danh Đức Từ Phụ A Di Đà” để đến lúc lâm chung được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, trụ bậc Bất Thối Chuyển, nhanh chóng viên thành đạo quả Bồ Đề .

            Nam Mô A Di Đà Phật.

                   Soạn Giả

 

                       Phần Dẫn Nhập

1. Vị Trí của Pháp Môn Tịnh Độ trong Đạo Phật:

            Đạo Phật có đến 84.000 pháp môn, một con số biểu tượng cho số nhiều không kể xiết trong văn hóa Ấn Độ. Mỗi pháp môn là một phương tiện giúp các hàng Phật tử nương theo để đạt đến bến bờ giải thoát.

          Vì chỉ là phương tiện tương đối, nên pháp môn có thể phù hợp với căn tánh này mà không phù hợp với căn tánh khác. Cũng như các phương thuốc, không luận mắc rẻ, miễn chữa lành bệnh là thuốc hay, pháp môn không luận cao thấp, miễn cứu độ được chúng sanh  đều là diệu pháp. Vị đạo sư chỉ dạy cho người đệ tử một pháp môn để ứng dụng trong việc tu hành cũng giống như vị lương y đặt thuốc cho con bệnh. Hành giả sử dụng pháp môn phù hợp với căn cơ sở thích của mình không khác con bệnh dùng thuốc phù hợp với căn bệnh của y. Những sự đánh giá thấp về vị đạo sư đã đưa ra những lời chỉ dạy quá thông thường, cũng như đánh giá thấp người hành giả đã chọn lấy pháp môn dễ tu, đều là những nhận định hết sức sai lầm trong phương pháp Đạo Phật .

            Trong vô số pháp môn của Đức Phật, bất luận thuộc tông phái nào, dù là tiệm giáo hay đốn giáo, đều đòi hỏi hành giả phải tự lực tu tập[2] cho đến đoạn sạch phiền não mới có thể giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Đó là một việc cực kỳ khó khăn, nếu không phải là hàng thượng căn đại trí, đã trải qua vô lượng kiếp tu tập, thì không thể làm nổi. Do đó, Đức Bổn Sư Thích Ca đã vì lòng từ bi, không ai hỏi mà tự nói ra pháp môn Tịnh Độ, một pháp môn “tự lực nương tha lực” rất huyền diệu viên đốn . Đặc tính của pháp môn này là :

- Dễ thực hành mà thành công lớn ,

      - Giải quyết được vấn đề sanh tử luân hồi ngay trong một kiếp,

- Phù hợp với đủ mọi căn cơ và mọi hạng chúng sanh -  Phàm Thánh đều cùng tu được.

            Vậy có thể nói pháp môn Tịnh Độ là một pháp môn hết sức siêu thắng và phổ cập, đặc biệt vô cùng cần thiết đối với chúng sanh căn cơ chậm lụt ở thời mạt pháp nầy, như lời Đức Bổn Sư Thích Ca đã huyền ký trong Kinh Đại Tập: “Thời mạt pháp, muôn ức người tu hành, khó có một người được giải thoát, chỉ nương Pháp môn Niệm Phật mà được thoát luân hồi” .

2. Tương Quan giữa Thiền Tông và Tịnh Độ Tông:

            Trong số các pháp môn Phật dạy, Thiền và Tịnh hợp cơ chúng sanh hơn hết[3] nên hai pháp môn này được phổ truyền khắp nơi tại các nước theo Đại Thừa Phật Giáo. Nhưng cũng chính vì sự phát triển rộng rãi và song hành như thế mà đôi khi không tránh khỏi sự va chạm do hiểu lầm giữa những người tu học trong hai pháp môn. Điều cần thiết là ta phải vạch rõ sự hiểu lầm đó để phá tan tính phân biệt, cố chấp giữa những người học đạo cũng như hành đạo.

            Hiểu lầm thường gặp bên phía nhà Thiền là do người tu học không nắm được tông chỉ của các pháp môn. Họ quên tông chỉ của Thiền là : “Trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh thành Phật”, còn tông chỉ của Tịnh Độ là : “Một đời vãng sanh Cực Lạc, trụ bậc Bất Thối Chuyển”. Do đó, các vị Tổ Sư bên nhà Thiền trên đường xây dựng pháp, chuyên luận về lý tánh hơn là bàn đến sự tu, mục đích để khai ngộ cho hàng cao đồ vốn sẵn có thượng căn đại trí, hoặc giúp cho các hàng môn đệ khác hiểu được lý tánh rồi sau nương theo lý tánh mà khởi hạnh tu. Nhưng hầu hết lời nói của các Ngài đều tùy vào căn cơ của từng đối tượng chớ không phải là công thức chung áp dụng cho toàn thể . Về sau, do chỗ thấy biết của người học Phật còn cạn cợt, nhận thức lộn lạo giữa sự, và không hiểu  chỗ áp dụng biện pháp khế cơ của chư Tổ, rồi khởi tâm bài bác Pháp môn Tịnh Độ mà vô tình mang trọng tội đối với Tam Bảo .

            Việc bác Pháp môn Tịnh Độ thường thấy dưới các hình thức sau đây :

            a. Cho người niệm Phật cầu sanh Cực Lạc là chấp tướng ngoài tâm tìm pháp (bội giác hiệp trần) mà quên pháp nào cũng đều duy tâm. Kẻ bài bác này không thấy phương pháp của Đức Như Lai là tùy căn cơ của chúng sanh mà áp dụng phương cách giảng dạy. Đối với hàng thượng căn đại trí thì Phật chỉ thẳng Phật tánh để họ tức khắc được khai ngộ, còn đối với hàng căn cơ thấp kém , Phật  phải “vì thật mà dụng quyền, lấy quyền mà hiển thật”. Vả lại, hễ còn  hành đạo thì pháp nào cũng đều là phương tiện cả. Cho nên, chỉ cảnh giới lành để chúng sanh định hướng mà lập nguyện khẩn thiết “tìm về” là chủ trương chính của lời Phật thuyết về tông Tịnh Độ. Khi kết quả sanh về cảnh giới Tịnh độ đã thành đạt, hành giả sẽ nhờ thuận duyên ở đó mà dễ dàng tu chứng vô sanh vô tướng. Còn về phương diện lý tánh, người học Phật nào cũng tin cũng học vạn pháp không ngoài chơn tâm . Vậy, Ta bà đã do tâm khởi, Tịnh độ cũng do tâm khởi, thì niệm Phật A Di Đà là niệm Phật trong chơn tâm mình, về Tây Phương Cực Lạc cũng chính là về cảnh giới thanh tịnh của tự tâm. Cớ sao lại bảo người niệm Phật cầu sanh là chấp tướng ngoài tâm tìm pháp?

            b. Cho cõi Tịnh Độ là do Phật quyền tiện nói ra chứ không thật có . Những người này quên rằng kinh Phật luôn luôn xác nhận có uế độ và đồng thời cũng có tịnh độ. Lẽ nào ta lại bác lời Phật dạy ?            

          c. Cho pháp môn Tịnh Độ là pháp môn thấp kém, chỉ dành cho hạng người ngu dốt, chứ hàng trí thức không thể tin theo . Những người này quên  rằng các Tổ Sư Tịnh Độ như Thừa Viễn, Diên Thọ, Chu Hoằng, Trí Húc, Thiệt Hiền, Tế Tĩnh, … đều nguyên là các thiền sư chánh truyền . Các Đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền…, các Tổ Sư Thiền Tông nổi tiếng như Mã Minh, Long Thọ…, hoặc đã tán dương, khuyến tấn việc tu theo pháp môn Tịnh Độ hoặc đã chính mình cầu sanh Cực Lạc.

            Ngược lại, về phía người tu Tịnh Độ, do không hiểu thấu triệt lý Thiền cũng là lý Tịnh mà mắc phải định kiến cho rằng tu Thiền thường bị “tẩu hỏa nhập ma” thành ra điên dại, hoặc cho rằng người tu Thiền không hề tin tưởng nơi Phật lực. Họ không rõ người hành Thiền chơn chánh đúng cách không bao giờ gặp phải chướng ngại đến nguy hiểm như thế, hoặc mất hẳn niềm tin nơi Phật lực .

            Thực vậy, hai pháp môn có thể giao tiếp nhau không hề chướng ngại, thậm chí hành giả có thể song tu hai pháp môn - gọi là Thiền Tịnh Song Tu - như Tổ Vĩnh Minh đã từng bảo :

                        Hữu Thiền, hữu Tịnh Độ[4],

                              Du như đới giác hổ,

                    Hiện thế vi nhơn sư,

                    Lai sanh tác Phật, Tổ .

                                ( Có Thiền, có Tịnh Độ,

Như thêm sừng cho hổ,

Hiện tại làm thầy người,

Đời sau làm Phật, Tổ ).

 

3.  Yếu Chỉ của Pháp Môn Tịnh Độ là gì ?

            Yếu chỉ của pháp môn là nền tảng  then chốt để hành giả thực hành các công hạnh tu trì theo pháp môn đó. Pháp môn Tịnh Độ có mục đích đưa hành giả rời bỏ uế độ Ta bà, mang nghiệp vãng sanh về cõi tịnh Cực Lạc, làm bạn với hàng thượng thiện nhơn Bồ Tát để một mực tiến tu không thối chuyển đến quả Vô Thượng Bồ Đề (Phật quả). Quá trình vãng sanh cõi Tịnh có thể giải quyết kết thúc chỉ trong một đời, không chấp nhận việc sanh tử luân hồi ở chốn Ta bà ác trược này thêm một kiếp nào nữa. Muốn thế, trước hết, hành giả phải có niềm tin sâu chắc những lời dạy mà chính Đức Như Lai cho là rất khó tin, phải có lòng tha thiết mong cầu dứt bỏ Ta bà để về Cực Lạc, và cuối cùng là phải thể hiện việc hành trì thiết thực. Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng từng dạy:

            “Cứ nhứt tâm Tín, Nguyện, Phụng hành,

              Được cứu cánh về nơi An Dưỡng.

              Chỉ một kiếp Tây phương hồi hướng,

              Thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi.”

            Ba yếu tố đó được đúc kết thành yếu chỉ của pháp môn Tịnh Độ như sau: “Tin sâu, Nguyện thiết, chuyên tâm Trì Danh Niệm Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc, trụ bậc Bất Thối Chuyển”, gọi tắt là phải có đầy đủ:  TÍN , NGUYỆN , HẠNH .

            Ba yếu tố TÍN, NGUYỆN, HẠNH nương nhau, không thể thiếu một mà thành tựu mục tiêu, cũng như chiếc ghế ba chân, thiếu một chân, ghế không thể đứng vững.

            Tương quan mật thiết giữa TÍN, NGUYỆN, HẠNH, và con đường thể hiện yếu chỉ của Pháp môn Tịnh Độ ra sao là những tiểu đề sẽ được trình bày qua các phần kế tiếp.
 

Phần Một

 
Quan Hệ Mật Thiết Giữa

Tín - Nguyện - Hạnh

            Như phần trên đã giới thiệu, yếu chỉ của pháp môn Tịnh Độ là “Tin sâu, nguyện thiết, chuyên tâm niệm Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc, trụ bậc Bất Thối Chuyển” . Trong các pháp niệm Phật như Thật Tướng, Quán Tưởng, Quán Tượng, Trì Danh, chỉ có pháp Trì Danh là giản dị, dễ tu, dễ chứng nhứt, nên pháp “Tín, Nguyện, chuyên trì Hồng danh” không ai hỏi mà Đức Thích Ca Như Lai đặc biệt tự thuyết ra trong Kinh A Di Đà.

            Tổ Trí Húc, trong lời tựa quyển Kinh A Di Đà Yếu Giải, đã cho đây là pháp ổn đáng nhất trong các pháp môn Niệm Phật, phù hợp với tất cả mọi căn cơ, tóm thâu đầy đủ sự, lý. Cả Thiền Tông và các pháp môn khác cũng không thể ra ngoài được pháp Trì Danh này, nên đó là một pháp chẳng thể nghĩ bàn.

1. Thế Nào Là Tin Sâu, Nguyện Thiết ?

            Trong khi học hỏi về Pháp môn Tịnh Độ, chúng ta đều biết rằng cõi Ta Bà là chốn ác trược đầy dẫy khổ đau, còn cõi Tịnh Độ là cõi nhiệm mầu thanh tịnh, chỉ có các duyên tiến đạo mà không hề có sự thối chuyển.

            Ở cõi Ta Bà, vì thân ngũ uẩn dễ móng cảnh sanh tình, nên người căn lành tỏ ngộ tiến đến tỏ ngộ thêm  thì rất ít, mà kẻ mê đi sâu vào đường mê thì thật nhiều. Còn ở cõi Tịnh Độ, dầu cho kẻ phàm phu mang theo ác nghiệp vãng sanh cũng được thân liên hoa kết thành, được sống gần Phật, gần các bậc thượng thiện nhơn Bồ Tát, thường nghe tiếng pháp, nên chỉ một lần sinh sang đấy là sống mãi cho đến ngày thành Phật, không còn phải tiếp tục tử sanh thêm lần nào nữa.

           Chúng ta cũng còn được dạy rằng, do một nhân duyên khắng khít từ một kiếp xa xưa mà Đức Bổn Sư Thích Ca và Đức Từ Phụ A Di Đà đã phát đại nguyện cứu độ chúng sanh. Đức Thích Ca thì thị hiện ở uế độ Ta Bà để chỉ rõ sự ác trược khổ đau nơi đó ngõ hầu chiết phục khổ đau, bằng cách không ngừng kêu gọi chúng sanh hãy chán bỏ cõi uế mà phát tâm tu cầu giải thoát. Còn Đức A Di Đà thì thiết lập cảnh Tịnh độ, dùng sự thanh tịnh nhiệm mầu an vui của cõi đó để nhiếp thọ chúng sanh nào cầu sanh sang, hầu bảo đảm chắc chắn sự tiến tu, viên thành Phật quả .

            Nếu ai tin tưởng chắc chắn và bền bỉ như thế mà phát nguyện tu cầu thoát ly Ta Bà khổ não, để nương Phật lực vãng sanh về cõi Cực Lạc an vui, như người tù muốn rời ngục tối ra chốn sáng sủa tự do, hoặc như con thơ lạc mẹ mong muốn trở về nhà, hoặc như người bị rớt xuống giếng sâu mong được cứu thoát… thì người đó được gọi là có lòng Tin Sâu và Nguyện Thiết .

2. Thế Nào là Chuyên Trì Danh Hiệu ?

            Có lòng Tin sâu và Nguyện thiết rồi, ta lại lập công hạnh, chí tâm trì niệm sáu chữ hồng danh “Nam Mô A Di Đà Phật” (hoặc bốn chữ “A Di Dà Phật”). Niệm sao cho chí thành, tận lực, nhất tâm bất loạn, không để một vọng niệm nào xen tạp vào, thì đó gọi là “chuyên trì danh hiệu Phật”. Muốn thế, hành giả phải hướng tâm để giữ chánh niệm cho thuần thục thay vì vọng chấp trong lúc hành trì.

            Tổ Trí Húc dạy[5] : “Được vãng sanh cùng chăng là do Tín Nguyện có hay không, phẩm vị thấp cao đều bởi hành trì sâu hoặc cạn .” Chúng ta sẽ lần lượt xét lý do tại sao như thế, và những khó khăn nào mà ta gặp phải trên đường hành đạo.

            a. Tin Sâu Nguyệt Thiết là yếu tố quyết định Vãng Sanh.

            Ta biết rằng ba yếu tố Tín, Nguyện, Hạnh không thể thiếu một mà thành tựu mục đích vãng sanh. Đặc biệt Tín đây là phải tin thật sâu, Nguyện đây là phải nguyện chí thiết, chớ không phải Tín Nguyện ở mức độ chiếu lệ qua loa.

            Tổ Trí Húc lại dạy tiếp:“Nếu không Tín Nguyện thì dù trì niệm câu Hồng Danh cho đến gió thổi không vào, mưa sa chẳng lọt, vững chắc như tường đồng vách sắt, cũng không được vãng sanh.” Còn “công hành trì tuy vững như vách sắt tường đồng mà Tín Nguyện yếu, thì kết quả cũng chỉ hưởng được phước báo ở cõi Nhơn Thiên mà thôi .”

            Như vậy, hành trì vững mà thiếu Tín Nguyện hoặc Tín Nguyện yếu đều không thể thành tựu quả  vãng sanh. Thế mới nói Tin Sâu Nguyện Thiếtđiều kiện tiên quyết cần có để được vãng sanh. Sắc thái đặc biệt của pháp môn Tịnh Độ là ở chỗ nầy.

            Tại sao như thế ? Tại vì Tín Nguyện là yếu tố động lực, là cái máy kéo và hướng đi của một chiếc xe hoặc của một guồng máy. Thiếu máy kéo và hướng đi, xe không thể lăn bánh để về đúng mục tiêu, và cả guồng máy không thể chuyển động nên dĩ nhiên, mục tiêu không thể đạt đến. Lại nữa, nếu Tín chỉ lơ là, nếu Nguyện chỉ lấy có, thì cũng chẳng đủ sức mạnh phát khởi việc hành trì để thành tựu việc vãng sanh. Cho nên, đã tin thì phải tin thật sâu, đã nguyện thì phải nguyện chí thiết .

            Riêng về việc Tin Sâu, chúng ta thường vì óc mê muội, thiếu sự hiểu biết đến nơi đến chốn, thường bị hạn cuộc trong nếp sống suy lường đối đãi của người đời, luôn quen lấy việc thường tình để suy lường cảnh thánh nên dễ bị cái nghi xen vào. Do đó, tin sâu không phải là điều dễ có .

            Riêng về việc Nguyện Thiết, chúng ta thường vì nghi cảnh thanh tịnh quá mầu nhiệm của cõi Cực Lạc hoặc nghi cõi Cực Lạc không thật có, chỉ do Phật quyền tiện nói ra, và vì tham luyến cảnh hồng trần, không thực sự buông xả nên việc cầu ra đi không đủ mạnh mà còn bị vướng mắc cảnh trược Ta Bà. Do đó, nguyện thiết cũng không phải là điều dễ đạt .

            Muốn có Tin sâu, Nguyện thiết, hành giả phải khắc phục những nhược điểm đã nêu, phải luôn luôn củng cố đức tin nơi sức mình, tin Đức Bổn Sư Thích Ca nói thật, tin nhân quả, tin sự-lý, đồng thời so sánh cảnh khổ Ta Bà và cảnh vui Cực Lạc mà sẵn sàng chán bỏ uế độ, cầu sanh Tịnh độ .

            b. Chuyên Trì Danh Hiệu là yếu tố quyết định Phẩm Trật ở Cõi Cực Lạc.

            Đã có điều kiện “Tin Sâu, Nguyện Thiết” rồi, việc hành trì danh hiệu Phật sẽ được nhẹ nhàng, không quá mệt nhọc gây go để đạt kết quả vãng sanh. Tổ Trí Húc bảo: “Nếu Tín Nguyện bền chắc, khi lâm chung, chỉ xưng danh hiệu mười niệm hay một niệm cũng quyết định được vãng sanh.” Điều đó cũng giống như một người có tay nghề vững vàng rồi thì không còn sợ đói nữa; bấy giờ anh ta làm ít thì hưởng ít, làm nhiều thì hưởng nhiều. Nhưng dầu sao hành giả cũng phải thật tâm hành trì, cũng như người có vững tay nghề muốn khỏi đói bắt buộc phải thực sự làm việc. Đó là điều thật dễ hiểu.

            Nhưng điều quan trọng mà hành giả phải nhớ là xưng danh hiệu Phật A Di Đà dù ít dù nhiều, dù mau dù lâu, bắt buộc phải “nhất tâm bất loạn  thì mới có kết quả vãng sanh. Như vậy, “nhất tâm bất loạn”điều kiện đủ cho các nhân tố dẫn đến kết quả vãng sanh; “nhất tâm bất loạn” là kết quả của sự chấp trì (thuộc tầng nghĩa thứ nhất), còn việc vãng sanh là kết quả của “nhất tâm bất loạn” (thuộc tầng nghĩa thứ nhì):

                                “A Di Đà Phật, tai nghe kỹ,

                 Tâm bặt ngừng vọng nghĩ đó đây.

                        Một ngày cho đến bảy ngày

            Thành người nhất niệm tà tây chẳng còn;

                 Thân lúc chết tâm không loạn tưởng,

                                   Phật Di Đà hiện tướng dẫn đường,

                        Dắt thần thức đáo Tây Phương,

            Dứt nơi đọa khổ trần dương vĩnh hằng.”

                        (Tr. Th. diễn ý Kinh A Di Đà)

            Nhất tâm bất loạn” có hai bậc: sự . Theo Kinh A Di Đà Sớ Sao của Tổ Chu Hoằng thì khái lược như sau :    

            - SỰ NHẤT TÂM là nhớ niệm danh hiệu Phật, mỗi niệm mỗi niệm nối nhau, không có cái niệm thứ hai, không bị các niệm Tham-Sân-Si, phiền não làm rối rắm . Thực hiện được sự nhất tâm tức là đã thành tựu Tín lực, tâm đạt định trong chánh niệm vì đã dẹp được vọng niệm, mà chưa được huệchưa phá được vọng niệm, vì vẫn còn kẹt trong phạm trù đối đãi.

            Trong quá trình hành trì, nếu hành giả thường nhớ thường niệm danh hiệu thuần thục, không kể đi đứng nằm ngồi, một cách không gián đoạn, tức là hành giả đã giữ được “niệm lực tương tục”. Khi câu niệm Phật đã chứa đầy trên mặt của tàng thức, hành giả sẽ đạt được cảnh giới “bất niệm tự niệm”, tức dù không nhớ niệm mà câu niệm Phật lúc nào cũng hiển hiện nơi tâm. Nhờ thế,  trong bình thời, hành giả muốn đạt đến“sự nhất tâm bất loạn” sẽ tương đối được dễ dàng. Kết quả đặc biệt trong lúc lâm chung, trước sự đau đớn vật vã của thân tâm sắp tan rã, hành giả nhớ khởi tâm niệm Phật, câu Hồng Danh thường phát hiện mạnh mẽ nên được “nhất tâm  bất loạn”.

            - LÝ NHỨT TÂM là trạng thái cứu cánh của pháp Niệm Phật, hành giả trực ngộ được Phật tánh (bản lai diện mục) trong bổn tâm, vọng niệm đã bị phá tan, dứt tuyệt tâm chấp trước phân biệt : tình năng-sở tiêu, cái chấp hữu-vô hết, nên chỉ còn  cái thể bản nhiên thanh tịnh, chẳng còn có cái vật gì dính mắc nữa mà làm cho tạp loạn. Đây là trạng thái Vô niệm, chứng đắc Thật Tướng chớ không còn kẹt trong phạm trù của sự tướng tu hành . Đây cũng là điểm thành tựu rốt ráo về sức quán xét trong Thiền định, gồm đạt được Chánh địnhhiển lộ được Trí huệ Ba-la-mật. Đó là trạng thái bất-nhị, thuộc “bên kia bờ”, không có hình dạng để kêu gọi, không thể tìm tòi được qua lý luận suy lường, nên gọi là “bất khả tư nghị”, vượt ngoài sự hiểu biết của phàm phu.

            Thế là ta đã biết Lý Nhất Tâm Bất Loạn  là cảnh giới cứu cánh thuộc Thánh tâm, chớ chẳng phải là cái dễ dàng đạt được trong một đời của hành giả, nhất là với căn cơ thô cạn của người thời nay. Cái mà hành giả nào cũng có thể đạt được để làm nhân cho quả vãng sanh chính là Sự Nhất Tâm Bất Loạn. Đây chính là lý do để pháp “Niệm Phật cầu đới nghiệp vãng sanh”, tức Pháp môn Tịnh Độ,  xuất hiện.

3. Phẩm trật ở cõi Cực Lạc:

            Tùy theo kết quả của việc hành trì mà hành giả có thể vãng sanh về một trong bốn cõi, mỗi cõi lại có chín phẩm. Bốn cõi đó là:

            a. Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ :

            Cõi này dành cho người niệm Phật được Sự Nhất Tâmchưa đoạn trừ hẳn được Kiến Tư Hoặc[6], tùy theo mức độ của Sự Nhứt Tâm mà sanh sang một trong chín phẩm. (Cõi này Phàm Thánh cùng chung sống .)

            b. Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ :

            Cõi này dành cho người niệm Phật được Sự Nhứt Tâm đã đoạn trừ được Kiến Tư Hoặc tức đã chứng Thánh quả A-La-Hán và Bích chi Phật.

             c. Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ :

            Cõi này dành cho người niệm Phật đạt đến trạng thái Lý Nhất Tâm, đã phá tan được từ một phẩm đến bốn mươi mốt phẩm vô minh. (Cõi này dành cho Ứng Thân Phật và hàng Đại Bồ Tát .)

            d. Thường Tịch Quang Tịnh Độ :

            Đây là cõi rốt ráo, dành cho người niệm Phật thể nhập Lý Nhất Tâm, phá tan hết bốn mươi hai phẩm vô minh. (Cõi này dành cho Báo Thân Phật và Pháp Thân Phật .)

            Sanh sang Tịnh Độ, dù chỉ ở cõi biên địa Phàm Thánh Đồng Cư cũng đều được quả Bất Thối , tức là được giữ thể chất vào trong hoa sen, và vĩnh viễn dứt hết mọi ác duyên thối chuyển[7] .

            Thật ra, muốn được “Sự Nhứt Tâm Bất Loạn” đã là một điều khó. Trong số những người phát tâm niệm Phật chẳng có mấy người đạt đến, nhất là giữ được sự nhất tâm ngay trước lúc lâm chung lại càng khó hơn. Do đó, hành giả chúng ta chớ có lơ là. Muốn có kết quả Vãng sanh Cực Lạc, điều thiết yếu là lúc bình thời phải tinh tấn tập luyện xưng câu Hồng Danh cho thuần thục mới khỏi rước lấy sự  thất bại. Nên nhớ lời Tổ Chu Hoằng : “Lúc rãnh cần lo tạo sắm để khi túng thiếu có mà dùng, sau đến khi lâm chung, nhân quả phù hiệp, ắt sanh về cõi nước kia .

            Tóm lại, để có kết quả Vãng sanh vững chắc, người tu Tịnh nghiệp không thể thiếu ba yếu tố : “Tin sâu, Nguyện thiết và Nhất tâm chuyên trì danh hiệu Phật” . Trong đó, “Tin phải sâu, Nguyện phải thiết” là điều kiện tất yếu, còn việc “Chuyên trì danh hiệu nhất tâm sâu hoặc cạn” chỉ là yếu tố quyết định phẩm trật cao thấp ở cõi Cực Lạc mà thôi. Để luôn luôn có đủ ba yếu tố này, trên đường hành đạo, hành giả chớ có hiểu rằng niệm Phật chỉ cốt để ngăn trừ vọng tưởng mà chỉ hướng về duy tâm. Vì quan niệm phiến diện như thế thì yếu tố Tín Nguyện sẽ bị coi thường, và mục đích vãng sanh không thể thành tựu. Người đó đi lạc vào Ngũ Đình Tâm Quán của thiền Tiểu Thừa, kết quả gần là phước báo ở cõi nhân thiên, cao hơn là hướng về Thánh quả A-la-hán – một tiến trình vô cùng xa xôi và đầy chướng ngại. Do đó, nên nhớ kệ[8] này :

                        Niệm Phật có bốn điều cần :

            Thứ nhất : Rành rẽ rõ ràng từng câu .

                        Thứ nhì : Tâm, Tiếng duyên nhau,

            Tiếng, Tâm khắng khít không bao giờ rời .

                        Thứ ba : Thành khẩn người ơi,

            Cầu về Cực Lạc chẳng lơi phút nào .

                        Thứ tư : Ngăn vọng niệm vào,

            Nhiếp tâm, trụ tiếng chớ xao lãng lòng .

                        Công đức niệm Phật vô song,

            Đủ Tín-Nguyện-Hạnh thành công tức thì .
 

            (Xin xem tiếp Phần Hai trong Tập San Tinh Tấn số 20)



[1]Cổ đức nói: “Y kinh giảng nghĩa tam thế Phật oan, nhất tự ly kinh tất đồng ma thuyết.”

[2] Xem Đường Về Cực Lạc: Trí Tịnh, tr. 15

[3] Theo Thiền Tịnh Quyết Nghi: Ấn Quang Đại Sư.

[4] Chỉ gọi là “Có Thiền” khi hành giả đã chứng đắc Thiền: minh tâm kiến tánh, sức tham cứu tột, vọng niệm dừng, vọng tình dứt, chiếu kiến bản lại diện mục. Chỉ gọi là “Có Tịnh”khi hành giả đã hiểu rõ kinh tạng,thấu suốt các pháp quyền, thật, rồi chơn thật phát bồ đề tâm, chọn lấy môn “Tin sâu, Nguyện thiết, Chuyên trì Hồng danh cầu sanh Tây phương Cực Lạc”để tự thực hành cùng khuyến hóa người. ( Theo Thiền Tịnh Quyết Nghi: Ấn Quang Đại Sư ).

[5] Những lời dẫn của Tổ Trí Húc đều được rút từ kinh A Di Đà Yếu Giải.

[6] KIẾN TƯ HOẶC:

          1. Kiến hoặc là sự mê lầm xuất phát từ Ý căn. Khi tiếp xúc với pháp trần, Ý căn suy lường mọi lẽ phải trái, vọng chấp phân biệt đủ điều mà khởi ra các ý kiến tà vạy sai lầm , không nhận ra chơn lý. Do đó, Kiến hoặc còn được gọi là Phân biệt hoặc - do mê lý mà sanh ra lầm lẫn. Tất cả 10 căn bản phiền não đều có thể do Kiến hoặc mà sanh ra. Tuy nhiên, Kiến hoặc là thứ mê lầm mong manh cạn cợt nên chỉ tu hành đến địa vị Kiến đạo (thấy hiểu được chơn lý) thì đoạn trừ được.

            2. Tư hoặc là sự mê lầm do lòng suy tư nghĩ ngợi tiềm tàng từ thời vô thỉ đến nay, hễ có ta là có nó; nó  xuất phát mỗi khi 5 căn đầu (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) tiếp nối với 5 trần ( sắc, thinh, hương, vị, xúc chạm) mà sanh si mê ái nhiễm. Do đó, Tư hoặc còn được gọi là Câu sanh hoặc - do mê sự mà sanh ra lầm lẫn. Đặc biệt, 4 căn bản phiền não: Tham, Sân, Si, Mạn có nguyên nhân sâu xa khởi sanh từ Tư hoặc. Dầu cho Kiến hoặc đoạn diệt, Tham, Sân, Si, Mạn vẫn còn vi tế khởi sanh là đều do Tư hoặc cả. Tư hoặc rất khó trừ vì là thứ mê lầm có căn gốc quá sâu xa nên phải tu hành đến địa vị Tu đạo (công phu diệt trừ tập nhiễm bền bỉ) thì mới đọan trừ được.

            Kiến Tư Hoặc đoạn diệt hẳn thì hành giả đạt đến quả vị cao nhất của Thanh văn thừa là Thánh quả A-la-hán. A-la-hán là đấng Ứng cúng ( phước đức, trí huệ cao cả, mảnh đất để  chúng sanh gieo trồng ruộng phước ), Phá ác ( sạch hết trược nhiễm, phiền não tội ác ) và Vô sanh ( ra khỏi sanh tử luân hồi trong 3 cõi).

 

[7] Theo Kinh A Di Đà Yếu Giải: Trí Húc Đại Sư.

[8] Viết theo lời khuyên của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát.

Comments