9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 19‎ > ‎

13. Mùa Xuân Nhớ Xuân - Lê Minh Triết

MÙA XUÂN NHỚ XUÂN

Lê Minh Triết

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 19

            Năm Tân Mão 2011, cũng lại năm “mèo”, nhân dân Việt Nam chịu qua nhiều cơn bảo tố triền miên ở Miền Trung, lũ quét mùa màng, nhà cửa. Xứ Tây Nam Tổ Quốc là vựa lúa cho cả nước đã bị lũ lụt gây thiệt hại chưa thường có. Thủy triều dâng mạnh nông dân không kịp trở tay bồi đấp đê bao thêm nên nhiều con đê bị vỡ đang ruộng được mùa, mất  trắng không lấy lại một đồng vốn nào. Mất mùa vì lũ lụt gần như cảnh cháy nhà, tiền bao nhiêu cũng tuôn ra ruộng cho nước cuốn đi. Lấy đâu vốn để làm mùa tới? Phần trong nhà đương thiếu ăn, từ lúc ruộng ngập đồng nước mênh mông mà tính, phải chịu đựng sự thiếu thốn vất vả nửa năm sau mới tới mùa lúa chín.

            Ngày 18/5 năm kỷ mão 1939 Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng đạo Phật Giáo Hòa Hảo để cứu dân độ thế. Năm ấy cũng là năm thất mùa, nhân dân nghèo đói bệnh tật, 25 tháng 2 năm Canh Thìn Ngài Viết bài “Khuyên Người Giàu Lòng Phước Thiện” để kêu gọi sự hảo tâm của những gia đình giàu có, điền chủ:

                                    “Mắt nhìn Kỷ Mão vừa qua,

                        Gẫm trong dân sự nhiều nhà thiếu cơm.

                                     Ruộng đồng chẳng có rạ rơm,

                        Trâu bò ngóng cỏ nhà nông héo lòng.

                                     Canh Thìn bước tới thiệt Rồng,

                        Trông cho mùa khác ruộng đồng ra sao.

                                     Nhà nghèo dạ tợ như bào,

                        Vợ đau con yếu phương nào cho an.

                                     Cả kêu cùng các xóm làng,

                        Mấy Ông Điền Chủ cứu nàn mới qua.

                                     Làng gần chí những tỉnh xa,

                        Lúc xưa thì cũng ruột rà với nhau.

                                     Ngày nay tốt phước sang giàu,

                                    Xin thương kẻ khó giúp hào một khi…”

            Diễn tả cái nghèo hết nói nổi, mèo chó nuôi trong nhà chầu chực từ tiếng “khua đủa, muỗng rơi.” Cũng trong bài “Khuyên người giàu lòng phước thiện” Đức Thầy viết:

                        “Sột sột nhà sau mụ vét nồi,

                         Ông chồng quần áo rách lôi thôi.

                         Bầy con ngơ ngác đòi xơi bữa,

                         Lũ nhỏ giành nhau lấn chỗ ngồi.

                         Khua đủa mèo mun ngờ chủ thảo,

                         Muỗng rơi chó vện tưởng cho mồi.

                         Lầm than đói khó vì tai ách,

                         Hỡi kẻ sang giàu cứu nạn trôi.”

            Đã thiếu ăn nghèo khổ vậy đó, chuyện ăn tết vui sao được mà vui. Nhìn cảnh xuân mà hậu quả của nó hồi năm Kỷ Mão “Ruộng đồng chẳng có rạ rơm, trâu bò ngóng cỏ nhà nông héo lòng.” Đức Thầy viết bài “Cám cảnh Dân Nghèo” để chia sẻ nỗi đau cùng lương dân bá tánh:

                        “Tết tết cùng năm tháng hết mà,

                         Thằng bần công nợ chạy bôn ba.

                         Hẹn mai hẹn mốt chờ khai hạ,

                         Con đòi áo tốt rối chàng ta.

                         Năm nay ăn tết thiệt là nghèo,

                         Sanh chúng u buồn nỗi nạn eo.

                         Đồng khô lúa ngập coi xơ xác,

                         Cảnh đói buông lung nỗi giạt bèo…”

            Ngắm xuân nầy tôi nhớ xuân xưa 1993, tôi ở miền quê, cảm nhận sự sống nghèo của cư dân miền quê còn hơn miền quê tôi nữa, lam lủ làm lụn tối ngày, dường như không hay tết đến.

            Bạn tôi, Anh Quang, tuy không sanh sống cùng năm 1939 để mà chịu “Cảnh đói buông lung nỗi giạt bèo” nhưng tôi nghĩ là ai đã đổi cho anh hai con số đuôi tiền định 1939 thành 1993 để anh phải chịu “Cảnh đói buông lung nỗi giạt bèo” của năm 1939.

            Sinh ra ở Cần Đăng, lớn lên trong cảnh nghèo thiếu, con đông. Đất nhà có một ít công, anh muốn vượt khó để giải bớt cái nghèo, hy vọng sau này đám con trong nhà không nghèo tệ như cha mẹ nó. Anh bán đứt mấy công đất đồng nhà lấy vốn đi xa lập nghiệp; chịu một năm thất mùa của Ông chủ ruộng lớn, đồng vốn mọc cánh bay đi hơn phân nửa. Nghèo thêm nghèo, nỗi buồn xâm chiếm sâu trong tâm khó mà hóa giải những dày vò.

            Nghe tin anh năm nay không về quê ăn tết, ở lại một vùng đất quạnh hiu, hoang vắng, dân làng xa xa một túp lều mái lá đơn sơ, dân chúng thưa thớt, người ta cũng đã đi về quê cúng tết Ông Bà. Đường làng sầm uất, chỉ có thể đi xe đạp ra chợ một cách miễn cưởng vì gặp phải lúc xuống xe dẫn bộ, ép người qua những luống cây, hoặc vác xác chiếc xe trên vai đi qua chiếc cầu khỉ gập ghềnh. Tôi biết giờ nầy anh buồn lắm! Thương cho người cư sĩ trường chay gìn đạo, nóng nảy nhưng trung thực, kiên trì; không có tiền mua tàu hủ dưa leo thì ngoài đồng thổ địa thương tình, ngợi khen cho ông đạo nắm rau rừng luộc chắm nước tương nước muối. Làm không quên tu, cúng lạy sớm chiều, niệm Phật chẳng thua gì những đồng đạo giàu rảnh rang, sung sướng.

            Anh Quang không về quê ăn tết tôi nghe lòng mình khó chịu, tự cho mình có một phần trách nhiệm trong việc tu hành của anh. Giúp đỡ anh trên phương diện làm ăn là tôi không thể nhưng nếu anh quá mặc cảm vì nghèo mà không mặn mà tình nghĩa, xa lánh người thân thì tôi hy vọng có thể hóa giải cho anh được. Nếu xuân này tôi không đến vùng đất quạnh hiu để cùng anh ăn tết tôi sẽ khó chịu hơn sự khó chịu mà anh đang bị dày vò. Nghĩ mình độc thân tu niệm trong chiếc nhà nhỏ, tết cũng không có gì mới mẻ mà tôi phải lo, hơn nữa mình biết tu hành thì nhà ở thế gian là nhà tạm cho mình có nơi tu thân hành thiện. Tôi tự lý luận như thế.

            Sáng sớm ngày 30 tháng chạp, chỉ còn một ngày nay là qua năm mới. Tôi chưng cúng trên bàn thờ cửu huyền một dĩa trái cây, một dĩa bánh mứt, thay bông trên 3 ngôi thờ. Đâu đó tươm tất, tôi dẫn chiếc xe đạp cũ bèo ra mà nói với nó rằng: Hôm nay chúng mình  đi xa đừng sanh chứng giữa đường nhá bạn!

            Từ xã Kiến An qua Mỹ Hội Đông rồi sang sông đến Bình Hòa (Mặc Cần Dưng) Cần Đăng, Vĩnh Hanh, chợ Cầu Số 5. Qua mấy chợ không khí tết rất nhộn nhịp, cửa hàng hoa, tiệm bánh mứt lúc nào cũng chen khách, tiếng pháo lốp bốp vui tai (tết năm 1993 còn cho đốt pháo) ra khoảng xa chợ lúm khúm những sòng bạc, lắc bầu cua cá cọp, tài xỉu, những mâm rượu lè nhè, múa máy tay chân, quờ quạng trên đường. Qua chợ Cầu Số 5 đi vô Cảng Đá, Cảng Dừa, mương Hai Trân không khí tết giảm dần theo mỗi lúc đi xa, trên đường trống vắng, nhà lưa thưa thoáng cây, tôi thấy còn rất nhiều nông dân cặm cụi ngoài đồng nhổ cỏ phun thuốc. Tôi ngừng lại chỗ trống  mát giữa Cảng Dừa và mương Hai Trân nhìn đồng lúa mênh mông, người ta cũng mênh mông ngoài đồng ruộng, bầy cò trắng bay qua bay lại tôi có cảm nhận chúng muốn giúp vui ngày cuối năm cho bà con nông dân cực khổ suốt, đã 30 tết rồi mà chưa được ở nhà. Chúng biểu diễn lượn trên không trung rồi sà xuống một cách tài tình khi thì sau lưng, lúc trước mặt cho xem.

            Sòng bạc lưa thưa, pháo nổ lưa thưa nhưng rượu, miền càng quê càng uống gắt. Có lẽ họ muốn “Mượn rượu giải sầu” (dụng tửu phá thành sầu) như là hành động biểu lộ nổi buồn qua câu nói bất hủ của người xưa đã để lại. Vùng quê dân trí kém, có lẽ không còn cách nào thích hợp hơn là cách uống rượu giải sầu?

            Từ cầu Mướp Văn vô chợ Sóc Xoài có một chợ nhỏ chừng như mới khai sanh, cặp con lộ đất, tiệm hàng thưa thớt, lụp sụp những mái che đã nói lên tâm tình của xứ dân nghèo khổ. Hồi này đất đây chưa chuyển vụ, còn làm theo truyền thống mỗi năm có một vụ lúa mùa nước lên và trong đồng xa lâm địa nhiều hơn đất thuộc. Chiều xuống sâu, đèn Trời thật thấp, tôi muốn đạp xe nhanh hơn mà ga chân kéo lên không nổi với cái đường đất lục cục lòn hòn, xe nhảy lựng cựng nghiến đít, ê ẩm hai bàn tay nắm quýu ghi đong.

            Qua một đoạn đường dài không có dấu hiệu tết. Không có sòng bạc, mâm rượu, trẻ em không mặc quần áo mới, đường vắng người, xóm vắng tiếng. Tôi dừng đạp xe ở đoạn đường liên tục những vũng lạn, xem nhóm trẻ chạy chơi cút bắt. Rõ ràng chúng không hay tết đến, quần áo lấm dơ cũ bẩn đâu còn sợ gì dơ nữa, chúng chạy hoản loạn núp trong buội tre gai, bên những khạp mấm ngấy mùi, đứa nhỏ hết mặc áo ở truồng, đứa bé gái mặc áo bông thưa của nhà tạo mẩu, thời gian và sự nghèo khổ đã cho chúng thêm nhiều chùm bông không đẹp đẽ gì. Một đôi vợ chồng đi ruộng về, người chồng chỉ mặc chiếc quần cụt, da chân anh ta dày dục, cỏ lúa không thể làm sờn, áo rách hở vai, lòi ra cái nước da đen bóng, cô vợ mặc quần lông vịt và trên chiếc áo, thời gian đã gắn nhiều chiếc mề đai hạng nặng. Thằng bé ở truồng không đủ lanh lợi chơi trò cút bắt, nó lại ôm ống chân cha, ôm ống chân mẹ. Tôi tưởng cha mẹ nó rầy dơ và gạt ra, không ngờ mình đóng đất vậy mẹ nó vẫn ôm con lên cho cái hôn thật lâu, không la rầy mấy đứa chạy chui vào buội. Tôi trông cho ba mẹ chúng nhắc nhở tắm thay đồ mới, chuẩn bị đêm nay đón giao thừa mời Ông Bà về ăn tết, trong khi mặt trời chiều muốn sát đất rồi mà không nghe nói năng gì.

            Tôi nghi là anh Quang cũng không lo lắng chuyện ăn tết nên ghé tiệm mua trà bánh. Anh ở bên kia kênh xáng, không lộ, chợ sóc xoài lên anh độ khoảng một ngàn năm trăm mét. Tôi kêu anh bơi xuồng qua rước trong lúc không gian yên tĩnh mờ dần. Tôi bước vào nhà anh thì mỗi nhà đã đến lúc lên đèn.

            Mừng có mà tủi cũng có. Tôi nghi không sai, anh hối hả sai chị lội ra chợ Sóc Xoài mua đồ dùng cúng tết, tôi can chị lại bằng trưng ra những món cúng giao thừa mà tôi đã mua trên đường đến đây. Nhưng anh thì áy náy, tôi phải chữa thẹn cho:

            - Anh chị học đạo lâu năm thì cũng biết: Phật dụng gì nào? “Phật Dụng Lòng” phải hôn? Phật dụng lòng được thì Ông Bà mình cũng dụng lòng được, Trời đã tối mà đường xa đi bộ, anh hà tất phải suy nghĩ nhiều cho khổ thân cực trí!

            Tôi thấy nhà anh hiện có thúng bắp trái, sẵn tính tôi cũng hảo bắp lắm, liền đề nghị: Cúng giao thừa mà cúng bắp nấu là tuyệt vời, làm cái chuyện “chắc ăn như bắp” anh không tin thì đi kiếm suốt lại đây tôi thưởng, xem có nhà nào “Cúng Quí” như anh không? Còn đợi gì nữa không bắt nồi lên bếp?

            Nhưng đó là bắp vụn bắp vằn, anh Quang nói, toàn là thứ bò cào châu chấu. Phải biết Ông đạo nay đến tôi chừa bắp tốt lại đãi cho đỡ thẹn.

            Anh nghĩ gì nhiều vậy! Bò cào châu chấu còn đâu đây mà sợ? chỗ nào nó chưa ăn thì mình ăn, mình cũng ăn bắp tốt không chớ xấu đâu! Thôi đừng bàn bạc để bỏ món “Chắc ăn như bắp” nầy nhá!

            Sau lễ cúng giao thừa ba người chúng tôi ngồi trên bộ vạt tre trà nước. Anh Quang cầm đưa tôi trái bắp rất ít bị bò cào châu chấu ăn và nói:

            - Tôi như cây thiếu nước lâu, xào lá, được Ông đạo từ xa đến an ủi vỗ về bằng như lượng mưa to. Trong đời tôi trải gần năm mươi cái tết qua, có lẽ vì trong xuân thiếu tình xuân mà lòng không tỉnh táo, lần ăn tết nầy đầy đủ và ý nghĩa nhất.

            Chị Quang tiếp theo lời chồng:

            - Lúc nảy, nghe chú kêu rước từ bên sông tôi mừng muốn khóc.

            Nhìn vào mắt chị tôi thấy có dấu hiệu đó thật.

            Tôi nói:

            - Mừng mà muốn khóc là mừng có vấn đề. Người quá nặng về tình cảm đăm ra lo buồn, nghĩ ngợi không thật tế chỉ làm hại cho bản thân và việc tu hành cũng bị nó làm khó…

            Tiếng pháo rộ lên xa xa rồi lại thưa dần cũng nơi xa xa đâu đó, tôi bước ra sân, ngoài đường trời tối, nhà thưa trong cây, đốt đèn dầu ánh sáng không lan tỏa, có ai đó nhắp nhá đèn pin làm tôi chạnh nhớ một đoạn trong bài “Đốt Pháo Xuân” của Đức Thầy và tôi ngâm lên giữa đêm khuya vắng:

                        “Đoái thấy xa xa một cái đèn,

                         Ngoài đường trời tối thiệt len nhen.

                         Tiết xuân buồn bã vì ngập lúa,

                         Nên phải ăn chơi cách quá hèn.”

            Cũng Trời vừa mờ sáng tôi nhờ anh Quang đưa tôi qua sông. Trên đường về tôi như nghe văng vẳng giọng nói của anh ta: “Tôi như cây thiếu nước lâu, xào lá, được Ông đạo từ xa đến an ủi vỗ về bằng như lượng mưa to. Trong đời tôi trải gần năm mươi cái tết qua, có lẽ vì trong xuân thiếu tình xuân mà lòng không tỉnh táo, lần ăn tết này đầy đủ và ý nghĩa nhất.”

            Tôi hỏi lại lòng mình, có phải rất hãnh diện vì một câu khen hay vì cảm nhận được sự ưu tư của người nghèo khổ khi tết đến mà mới khỏi chút đây thôi thì đã nhớ? Tôi thật thương tình cảnh cơ hàn của người tại gia cư sĩ, không ló mí một chút hãnh diện vì việc làm nhân nghĩa nầy.

            Nhớ lại chuyện Ông Tống Anh Nghị (nhà cái thả thơ cho các tay chơi thơ trong Tạp Chí Từ Quang) đến thăm một người bạn thân bệnh nặng đang nằm điều trị tại một bệnh viện ở Thành Phố Sài Gòn, ngày cuối năm lịch ta để qua xuân Mậu Thân. Ông bạn không về được nhà để mừng xuân mới, lòng buồn trăm mối, có cười lên cũng rất nặng nề, gượng gạo. Nhà thơ Tống Anh Nghị tài tình, nắn nót một vần thơ lay động dây tơ tình cho bạn Ông có nụ cười, hết sức là dễ thương:

                        “Vui với ai thì hoa góp cười,

                          Ai buồn hoa kín đáo trao lời.

                          Điện vàng không ngại, hoa thêm vẻ,

                          Vườn lạnh chi nài hoa trổ tươi.”

            Bài thơ trên lời và điệu giao nhau như nhạc khúc du dương, nhưng hồi ấy tôi chưa phát hiện được tính nhạy cảm của câu “Ai buồn hoa kín đáo trao lời”. Sau này, cũng trường hợp tết như Ông Nghị tôi đã “Trao Lời”, không phải cho người bệnh mà là cho những người nghèo khổ tự ti mặc cảm, để trong xuân có tình xuân, trong đời có đạo.

            Tôi trở về cũng trên con đường hôm qua mình đi, chỗ hôm qua không thấy có dấu hiệu tết, hy vọng là họ muộn màng một chút để cho nay tôi thấy, nhưng mùng một đầu năm cũng chẳng thấy gì là tết ở xóm họ. Những chỗ hôm qua có dấu hiệu tết thì lại nhiều trận đánh nhau vì rượu xuân quá chén, những trận cãi cọ sôi nổi ở sòng bài, nhà nọ vợ mắng chồng vì Ông ta cắp trọn số tiền mới vay để mua cử phân tống đem thua sạch bách; mẹ chửi con vì quí tử này đã dám cắp chiếc bông tai kỷ niệm của bà đổ vào sòng bạc.

            Viết thi phẩm “Cám Cảnh Dân Nghèo” Đức Thầy chỉ ngay những ai lo tết và vui say phung phí trong những ngày tết, sa đọa, tội tình là không nên:

                        “Nhắn nhủ khắp nơi hỏi một bài,

                         Ba ngày xuân nhựt bởi nơi ai?

                         Rượu chè, cờ bạc, ôi phung phí,

                         Chẳng biết lệ xưa của ai bày?”

            Xuân đến không hoàn toàn vui, có người đón xuân bằng lên thiên đàng, có người đón xuân bằng chui vào địa ngục. Ai bảo những trận đánh nhau vì rượu xuân quá chén, kẻ đi nhà thương người vào nhà tù là lên thiên đàng? Ai bảo cờ bạc nợ nần, chửi mắng không vào địa ngục?

            Đến 1 giờ chiều ngày đầu năm 1993 tôi về đến chiếc nhà nhỏ mà làm việc một ngày xuân như mỗi ngày; cúng nguyện, niệm Phật xem Giảng Kinh.

            Xóm tôi nghèo. Không phải mới nghèo vì trong vùng lụt lũ vừa qua; gần như là một thứ nghèo bẩm sinh. Cảnh sống thường chạy từng nồi gạo mà năm nay chưa tới nửa tháng chạp đã nhóm lên một hai cái sòng bạc, sỉn rượu lai rai. Nay hăm tám tháng cuối năm để qua xuân 2012 thì sòng bạc dẫy đầy như hội chợ, say sỉn lung tung trong khi trên bàn thờ Ông Bà chưa thấy lau dọn sắm tết. Chủ nhà, cha mẹ rất là túng thiếu, túi áo bà ba gió đưa nhẹ bổng, chẳng biết kiếm đâu ra tiền sắm ít lễ vật cúng tết trên bàn thờ mà cậu con trai của họ chơi bài đặt cụp, ai làm cái cũng phải nể mặt. Cậu ấy đi ở mướn từ Bình Dương về, cha mẹ cậu nghèo nhưng cậu không nghèo, cậu bỏ tiền ra chơi mạnh để lấy le với mấy đứa.

            Tôi trong chiếc nhà mồ côi xa xóm, ra đón chờ mua hàng trên chiếc xe bán dạo, Ông anh xóm đông thấy tôi đợi lâu ra mời vào nhà, rót mời ly trà nguội nhạt mùi. Bổng sòng bạc bên kia sân cãi nhau lớn tiếng, văng tục. Ông anh nhà nổi nóng đứng chống nạnh một tay, tay kia chỉ về sòng bạc nói như hét: Chơi cho đã đi! Hết tết Bình Dương ăn cả đám tụi bây!

            Ông anh nói giận mà vui. Hồi xưa ghét nhau người ta rủa: Súng Đạn ăn mầy! Bây giờ lật qua trang sử, nhằm thời kỳ không còn chiến tranh nữa, có bắn nhau đâu mà rủa súng đạn ăn?

            Theo lý mà nói, kêu Bình Dương ăn hay súng đạn ăn thì cũng là câu nói ghét. Nghèo không lo làm, có được chút tiền là xài phung phí, bài bạc, say sỉn, đụng trận chưởi nhau, Ông Bà chết lâu đời, chờ cháu con hiếu thảo mời về dự tết mà chúng nó say sỉn, bài bạc ăn thua chưởi nhau với người ta, chưa kịp vui xuân thì bị người ta lôi cả họ hàng ra chưởi, ở lì đó mà ăn được sao?

            Tết năm nay 2012, xứ ruộng ngập, trên bàn thờ Ông Bà con cháu cúng ăn nhẹ hửng, bánh trái ít oi, tôi đã đi qua nhiều nơi trong vùng lúa ngập nhà trôi, tết nhứt rồi mà lạnh tanh, không một chút hơi hám của xuân về. Chỉ mới khởi sự của mùa màng mất trắng mà nhiều nhà đã thiếu ăn, phải chịu đựng tới 6 tháng thì ruột gan teo thắt, giữa chừng có lễ cúng tết cho Ông Bà… thiếu, thiếu, thiếu hết.

                                                   22/01/2012 (nhằm 29 tháng chạp)

                                                                             Lê Minh Triết

 

Comments