9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 19‎ > ‎

10. Lược-giải bài thi Xuân - Trần Phú Hữu

Lược giải bài thi Xuân

của Đức Huỳnh Giáo Chủ

                                                                                                                Trần Phú Hữu

                                HAI MƯƠI CHÍN THÁNG CHẠP

                                    “Bước tới hùng ca bước tới hoài,

                                           Đạo đời hủy báng mặc tình ai.”

Mục-Lục TẬP-SAN TINH-TẤN Số 19

            Đức Huỳnh Giáo Chủ sáng tác bài thơ nầy ngày 29 tháng chạp năm Kỷ Mão (1939).

            Ngài dùng những lời khuyên dạy để truyền bá Tam giáo, nhất là Phật giáo bằng những thi thơ, ca vịnh hùng hồn thức tỉnh người đời sớm trở về đường ngay nẻo đạo và cứ liên tục truyền dạy mãi không bao giờ ngừng nghỉ để hoàn thành sứ mạng cứu đời của Ngài.

            Trong khi truyền đạo cứu đời, dầu gặp phải trở ngại, khinh khi chê ghét cũng mặc tình, vẫn xông lướt tới cho đến khi nào hoàn thành sứ mạng.

                        “Cố chí nhiệm mầu truyền diệu pháp,

                               Bởi vì cốt nhục cũng hoài thai.”

            Ngài đem hết sức mình truyền bá chánh pháp Vô vi của Đức Thích Ca, rất thâm diệu sâu xa mầu nhiệm, để chúng sanh hành theo hầu đạt cứu cánh giải thoát, dứt sanh tử luân hồi, mà bấy lâu nay đã lu mờ, lệch lạc, gài then của thời Mạt pháp. Sở dĩ Ngài làm như vậy bởi vì từng sinh ra làm người, cũng mang xương thịt, nhờ đến thai bào mà cha mẹ ban cho, để có hình hài mà làm việc đạo, trả ơn cho đời.

                          “Diệu vợi xa xăm nỗi khổ hoài,

                                 Cuộc đời lao khổ thấy chiều mai.”

            Những nỗi bi ai, thống khổ ở thế gian thời Mạt pháp diễn ra nối truyền mãi mãi không bao giờ dứt. Cuộc đời lao khổ nầy nay mai sẽ đến, càng lúc khốc liệt hơn.

                            “Chợt ngó xuân sang xuân biết khóc,

                                   Đến thời Thiên định lối bi ai!”

            Ngài khai sáng Đạo ngày 18/5 năm Kỷ Mão, đến nay trên nửa năm, bỗng chợt mùa xuân Canh Thìn sắp đến, cuộc thế chiến thứ 2 (1939-1945) mỗi lúc càng khốc liệt hơn, nhơn loại đón xuân bằng khói lửa, máu hồng và nước mắt đau thương.

            Nỗi khổ nầy đã đến lúc luật trời trừng phạt kẻ ác, nên mọi người phải chịu khổ đau chung vì “Thiên tào đà xét định, khắp chúng sanh trong thế giới trong cái buổi Hạ nguơn nầy, say mê vật dục, chìm đắm trong biển lợi danh gây nên nghiệp quả, luật Trời đà trị tội…”

                                  “Giục thúc nhơn sanh kiếm Đạo mầu,

                                      Sao còn hoài tưởng chuyện đâu đâu ?”

            Trước cảnh luật Trời trừng trị kẻ ác tại thế gian, Ngài cùng các bậc chơn Tiên lâm phàm độ thế, dùng Kinh kệ giục thúc nhơn sanh sớm thức tỉnh, quày đầu hướng thiện để Thiên đình ân xá bớt tội căn để kíp đến Long Hoa chầu Phật, xem thấy Phật pháp nhiệm mầu. Vậy sao không nghe lời Ngài dạy bảo mà còn tưởng nhớ đến việc thế tục, xấu xa, tội lỗi thấp hèn đầy khổ đau, phiền não. Sao không sớm tỉnh tâm tầm đạo cứu đời, thoát khổ.

                              “Sự sống người đời, ôi ! thấy khổ,

                                      Miệt mài Đạo đức vẽ huyền sâu.”

            Đời sống nhân sinh bị chi phối của luật thiên nhiên, hữu hình tắc hoại; sinh, lão, bịnh, tử có ai thoát khỏi mà không quán xét để thức tỉnh tu hành thoát khổ. Nên phát tâm trì chí tu hành tinh tấn cho đến ngày thành đạo quả sẽ thấy những sâu xa, cao quí, nhiệm mầu của nền đạo vô vi giải thoát.

                              “Hùng ca chuyển pháp kiếm tôi hiền,

                                      Thiên địa tuần huờn chẳng vị riêng.”

            Ngài chuyển pháp luân chấn hưng Phật pháp bằng những lời Kinh kệ thi ca hùng tráng, mạnh mẽ, cao sâu, huyền bí để tìm kiếm những người có căn lành qui căn Phật pháp, tìm kiếm những người có:

                                    “Duyên lành rõ được Khùng Điên,

                          Chẳng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần.”

            Đối với trời đất, xây chuyển giáp vòng trở lại từ  đầu theo luật tuần huờn xuân hạ, thịnh suy…không vị tư bất cứ người nào. Hễ làm thiện thì tuần tự sẽ hưởng phước trong đời nầy và nhiều kiếp sau, làm ác thì trái lại đời nầy khổ, nhiều kiếp sau cũng khổ.

                              “Gian nịnh phản thần, ôi ! nhơ nhuốc,

                                      Gìn lòng trung hiếu sách ghi biên.”

            Đối với kẻ gian tà, đạo tặc, phản loạn, nịnh bợ, tiểu nhơn, thấp hèn, vong sư phản bạn, suy mưu làm loạn, buôn dân bán nước, ôi ! thật là xấu xa, nhơ nhớp bị người đời nguyền rủa, khinh bỉ.

            Ngược lại, đối với người biết trọng cha, yêu chúa, kính vì tổ tông, chuyên lo gìn Đạo, tinh tấn tu hành, nêu lên những gương tốt, sáng ngời, sử sách đều ghi chép khen ngợi.

                              “Ghi biên những kẻ quá lương hiền,

                                      Một mực trung thành với Phật-Tiên.”

            Sử sách đều ghi lại, biên chép những gương hiếu hạnh, trung nghĩa của những bậc hiền nhơn quân tử trong xã hội để lưu truyền cho hậu thế vì những người nầy đáng khen ngợi, ca tụng vì họ “một đời, một Đạo cho đến ngày chung thân.” Lúc nào cũng trung thành với Phật Tiên, có khi vì nước quên mình, vì Đạo xả thân, như Lê Lai cứu chúa, Nguyễn Trung Trực vị quốc vong thân…

                              “Cố tưởng ước mơ về Tiên cảnh,

                                      Hiếu hạnh gìn lòng chí ư thiên.”

            Người tu lúc nào cũng hướng tinh thần đến nơi cao thượng của cảnh Tiên Phật cao cả, quí báu, tốt đẹp, cực lạc…người có lòng từ hiếu, hạnh nguyện cao, tự giác, giác tha, bao giờ cũng được Phật Trời chứng giám, định sẵn ban thưởng người hiền đức.

                                “Ư thiên Trời Phật chẳng dụng tiền,

                                      Tìm kiếm con lành giải nghiệp duyên.”

            Luật trời lúc nào cũng công bằng, thưởng phạt phân minh, không vì một lợi lộc nào mà sai chạy lẽ công. Lúc nào Trời Phật cũng tìm kiếm người hiền để qui căn, khuyên dạy để họ tinh tấn tu hành, sớm giải trừ duyên nghiệp đã lỡ gây tạo trong đời trước hầu có đời sống thanh cao để tiến lên đạt quả vị Tiên Phật.

                               “Mê muội ác hung về địa ngục,

                                      Hiền lành nhắm mắt thấy non Tiên.”

            Đối với những kẻ đầy vô minh, mê muội làm những việc hung tàn bạo ngược, gây đau khổ cho người khác theo luật nhơn quả: khi sống cũng đầy phiền não, đau khổ, lúc chết sa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.

            Ngược lại, những người hiền, làm nhiều điều phước thiện sống được an vui hạnh phúc, chết được thăng Thiên vào cảnh Tiên, cảnh Phật hưởng muôn điều phước báu. Vậy ta nên bỏ ác làm lành đạt thành chân lý.

                               “Non Tiên ra sức tháo dây xiềng,

                                      Dân chúng an nhàn dạ mới yên.”

            Núi Két cũng gọi non Tiên, núi Cấm cũng là quí báu:“Cấm Sơn lộ vẻ đền vàng báu thay.” Những bậc Tiên Phật ngự trị nơi cao sâu, tinh khiết nầy để cứu đời, các Ngài đem hết sức lực, lòng từ bi, trí Bát nhã để tháo gở xiềng xích ở thế gian về ngoại xâm, nội loạn, về nghiệp chướng làm chúng sanh phải chịu sanh tử luân hồi. Các Ngài nguyện khi nào “bể trầm luân khô cạn sáu đàng”, các Ngài mới hoàn thành sứ mạng cứu đời.

                              “Cám cảnh thương đời, ôi ! mê muội,

                                      Mong ước ngày kia giải mộng phiền.”

            Trên bước đường cứu thế, Ngài gặp biết bao cảnh nghèo khó, khổ đau, tật nguyền, chết chóc, bi thương, lại cám thương cho những người bị vô minh dày đặc, hành động sai lầm, tội lỗi, ác hung mà phải gánh lấy hậu quả đau thương do hành động ác độc của mình gây ra thật đáng thương xót.

            Ngài mong ước Đạo cứu đời của Ngài khai mở được nhiều người thức tỉnh, tin theo, ra sức tu hành, để giải trừ quả căn, được hưởng muôn điều phước lộc trong Đại Hội Long Hoa (Long Vân), các mộng phiền chừng đó được giải trừ hết.

                               “Mộng phiền muốn khỏi phải làm sao ?

                                      Hung dữ, ác nhơn chớ bước vào.”

            Ngài chỉ cách giải mộng phiền não, giải nghiệp chướng là cứ làm ngay thẳng, hiền lành, có ngày thong thả, bỏ đi những việc gian tà, bạo ngược, ác hung mà người đời thường vấp phải hay rõ hơn nên cải ác, làm lành, ăn chay, niệm Phật, giữ qui điều giới luật…

                               “Gìn tâm nhu nhược chờ vận đến,

                                      Vậy mới rời xa cảnh máu đào.”

            Thời nầy là màn hát của người ta, mình tu hành phải kham nhẫn, nhịn nhục, cho qua màn, đợi tới thời thiên định của mình; còn nếu nóng nảy sân si, hư việc lớn mà phải lâm vào cảnh tù tội, thịt rơi máu đổ:“Nhẫn nhẫn cho rồi cơn bỉ cực.”

                              “Máu đào khắp nước khổ vô cùng,

                                      Nam-Việt dân tình mãi thung dung.”

            Cảnh ngoại xâm, nội loạn diễn ra trên khắp nước Việt Nam dân chúng khổ sở vô cùng trong cảnh hỏa nạn, bom đạn, thịt rơi máu đổ. Vậy mà dân Việt Nam không tìm đường thoát khổ vẫn thờ ơ, xem thường, sống đời vui chơi, nhàn nhã, không thấy cảnh diệt vong gần kề.

                               “Chẳng lo tu tỉnh cầu Phật Thánh,

                                      Để nước đến chơn mới nhảy đùng.”

            Cảnh khổ đã đến, mà người đời chỉ lo chạy theo đời, không lo tìm đạo, phát tâm tu hành, khẩn cầu Phật, Tiên, Thần, Thánh cứu khổ, ban vui. Nếu lôi thôi chần chờ, khi đến việc tu không kịp, như nước ngập đến chân, chạy không kịp, bị nước cuốn lôi nhận chìm. Ngài giục thúc khuyên phát tâm tu sớm, gấp để thoát khổ.

                               “Nhảy đùng ắt phải lọt ngoài sâu,

                                      Chẳng gặp xuồng ghe chững mới rầu.”

            Khi nước thình lình tràn ngập tới, hoảng hốt sợ hải, trốn chạy nhưng không khỏi mà phải lặn hụp trong bể nước sâu, lúc ấy cầu mong được gặp xuồng ghe đến cứu để khỏi chết chìm nhưng nào có gặp, phải chịu chết chìm. Cảnh đời cũng vậy, khi biến cố thời cuộc thình lình xảy đến làm sao thoát khỏi nạn hiểm nguy, như biến cố 45-54-75 biết bao người khổ, mạng vong.

                              “Làm sao lo liệu tu cho kịp,

                                      Bập bẹ nam-mô cũng nhọc cầu.”

            Không phát tâm tu hành trước biến cố, khi tới việc, muôn việc phiền não, khó khăn, rắc rối xảy ra dồn dập, tâm hồn lo sợ, hốt hoảng, rối loàn, lúc ấy muốn tu cũng không kịp nữa. Dầu cho khởi tâm niệm Phật cầu cứu độ, cũng chỉ nhọc công mà thôi không có kết quả, đó là: “Để sau đến việc tả tơi, Rồi sao tu kịp chiều mơi cho thành.”

                              “Nhọc cầu bịnh tật nỗi nào đâu,

                                      Lao khổ nhơn sanh cảnh nước Tàu.”

            Hãy nhìn xem gương nước Tàu đang áp dụng chế độ nào, có phù hợp với lòng dân không ? Dân sung sướng hay đau khổ ?..Cảnh vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo xảy ra làm rối loạn xã hội. Chủ thuyết Duy vật lấy tranh đấu làm nền tảng, gây đau thương xáo trộn trên thế giới.

                              “Mồi câu danh lợi chúng dân rầu,

                                      Kim chỉ phải gìn chuyện cạn sâu.”

            Thuyết tranh đấu Duy vật như miếng mồi câu nhữ những kẻ hung hăng thích tranh đấu, không khéo sẽ bị lạc lầm sau nầy phải khổ. Nên nghe lời dạy bảo để hiểu rõ đâu là cạn sâu, tốt xấu, chánh tà…

                              “Vinh hoa phú quí chòm mây bạc,

                                      Nho nhã thi văn nẻo nhiệm mầu.”

            Đừng lầm lạc chạy theo Duy vật để được vinh hoa phú quí, nó chỉ là nhất thời, giả tạm, không lâu dài trường cửu, chỉ như đám mây trắng trôi giạt giữa bầu trời bao la, vô định.

            Lời Kinh kệ rất thanh bai, cao quí nhiệm mầu do Phật Tiên dạy bảo, nên nghe theo thức tỉnh tu hành, sau nầy mới thoát khổ, hưởng muôn điều cao quí.

                                “Nhiệm-mầu hạnh-đức quá thanh-cao,

                                      Thần, Thánh, Phật, Tiên xuống kêu gào.”

            Phật, Tiên, Thánh, Thần lâm trần, cứu đời kêu gọi mọi người thức tỉnh, cải tà qui chánh, lời dạy bảo đầy từ bi bác ái, nghĩa lý thâm sâu để ta hành theo, giải trừ nghiệp chướng, phát sinh trí huệ, đi đến đường phá vô minh, đắc thành đạo quả.

                              Dương trần mau tỉnh trong tràng mộng,

                                      Tầm kiếm nơi nào đạo siêu cao.”

            Ngài kêu gọi mọi người trong nhân gian, hãy mau mau thức tỉnh tu hành để sớm ra khỏi giấc mộng lâu dài từ vô thỉ đến giờ, làm chúng ta phải tiếp nối mãi cuộc sanh tử luân hồi. Khi tầm đạo phải tầm cho được chánh đạo, vì thời Mạt pháp có ba ngàn bàn môn tả đạo ra đời lôi cuốn mọi người vào đường tà, đường khổ. Chỉ có chánh pháp Vô vi của Phật tổ mới là chơn chánh, chúng ta phải gắng sức noi theo:

                                    “Làm Vô vi chánh đạo mới mầu.

                                      Đạo Thích Ca nhiều nẻo cao sâu,

                                      Hãy tìm kiếm cái không mới có.”

                        Hay:      “Vô vi chánh đạo hỡi người ôi!...”

                        Hoặc:     “Đại pháp Vô vi là chân lý…”

                                “Hòa thôn Hảo cảnh xứ chi ta,

                                      Tạm dắt nhơn sanh khỏi ái hà.”

            Nơi thôn Hòa Hảo, cảnh trí, đất địa nầy không phải nơi trú xứ của Ngài. Nhưng vì vưng Sắc lịnh độ chúng sanh, chấn hưng Phật pháp trở lại chánh pháp Vô vi của Phật tổ, nên mới giáng lâm vào xứ Trung ương của Phật pháp sau nầy để lập Hội Long Hoa cứu đời, dẫn dắt chúng sanh đi đến đường giải thoát:

                               “Tạo xác Huỳnh sanh thanh sắc trẻ,

                                      Chờ thời Thiên định thiết hùng ca.”

            Vì thế Ngài mới cho đệ tử Ngài xuống trước để có xác phàm là con Đức Ông, Đức Bà. Đệ tử của Ngài là chơn Tiên chuyển kiếp làm người Việt Nam, hậu thân của Đức Trạng Trình tái thế. Khi có xác phàm rồi, năm Kỷ Mão, Ngài mới xuống trần: “Xuống mượn xác nhằm năm Kỷ Mão.”

            Lúc ấy, Thầy trò cùng lo mở Đạo cứu đời. Thầy xưng Khùng, trò xưng Điên và Ngài sẽ dùng xác phàm nầy vào thời đại Thiên đình đứng ra lập Hội Long Hoa và:

                                         “Lão đây vưng lịnh Phật tôn,

                                      Lãnh cân thưởng phạt chư môn dữ lành.”

                        Hay là:

                                         “Có ngày mở rộng qui khôi,

                          Non thần vang chuyển Khùng ngồi xử phân.”

                                    “KIM ngọc nào tri Phật, Quỉ, Tà,

                                                        SƠN đài ra sức dẹp loài ma.”

            Ngài là vàng ròng, ngọc quí, là Phật giáng lâm trần, nhưng người đời chưa phân biệt được Phật, hay quỉ, tà ma xuất hiện, nên có người nghe theo lời dạy bảo của Ngài, có người không tin.

            Ngài lấy vùng Thất sơn linh địa làm nơi phát xuất Đạo cứu đời, mà núi Cấm là quan trọng nhứt:“Cấm sơn lộ vẽ đền vàng báu thay.” Sau nầy Ngài sẽ chế ngự hết ba ngàn mối đạo tà, và đứng ra thưởng phạt phân minh, sau thời gian truyền bá đạo được hoàn thành.

                                             “THƯỢNG thọ chúc cầu an bốn biển,

                                      ĐẲNG đẳng dưới trên sớm thuận hòa.”

            Nay Ngài xuống trần dạy đạo, cầu chúc cho thế giới bình an, có sứ mạng “Gây cuộc Hòa bình cho vạn quốc chư bang.” Nên tín đồ của Ngài, thường xuyên cầu nguyện cho thế giới hòa bình mỗi ngày. Lại cầu chúc mọi người sớm được thuận hòa và đạt chánh pháp bình đẳng đi đến cứu cánh giải thoát “vô thượng chánh đẳng chánh giác”. Trong bốn câu nầy ta thấy hai danh hiệu Kim Sơn Phật, Thượng Đẳng Đại Thần xuất hiện cứu đời.

                                    “Mong ước ngày kia đặng khải hoàn,

                                           Địa cầu sanh chúng được nhàn an.”

            Ngài lúc nào cũng mong ước đất nước Việt Nam và thế giới được ca khúc khải hoàn, thái bình thạnh trị, để cho chúng sanh trong quả địa cầu trên thế giới được sớm an cư lạc nghiệp.

                                    “Bốn biển một nhà Cha: Phật, Thánh,

                                             Thì là dân sự hết tàng ngang.”

            Khi thế giới hòa bình, chuyển luân Thánh Vương sẽ xuất hiện, cai quản cả thế giới, ngàn năm mới có sự việc nầy, ấy là thời Thượng Nguơn Thánh Đức.

                                           “Các nơi Tiên trưởng đâu đâu,

                                  Lư Bồng hội hiệp đồng chầu Thánh Vương.”

            Lúc ấy Phật Thánh Tiên kềm chế lập thành. Bốn biển như con một nhà, mọi sự xấu xa, tội lỗi, hung tàn bạo ngược của thời Hạ nguơn không còn nữa.

                                    “Năm tàn tháng cuối cảnh buồn teo,

                                              Đón rước bạn xuân lễ quá nghèo.”

            Giờ đây đã cuối năm Kỷ Mão, lại vào 29 tháng Chạp, cuối năm mà cảnh xuân trong thời tao loạn có vẻ buồn thảm, bi thương. Nên việc đón xuân Canh Thìn không được nhộn nhịp, trang hoàng nhà cửa, việc chưng hoa trái không được rực rỡ, đầy đủ.

                                    “Thượng cổ gần hồi nên sửa lối,

                                             Theo nhà Phật-Giáo phải như keo.”

            Tuy cảnh đón xuân buồn, nhưng đừng lo, chịu đựng một thời gian ngắn, qua rồi, thời Thượng Nguơn sẽ đến huy hoàng, rực rỡ, ấm no, vui vẻ. Vậy người đã qui y theo đạo Phật phải nhẫn nhục, tinh tấn tu hành, lúc nào cũng keo sơn gắn bó, một đời một đạo thì sau nầy cao quí vô cùng.

                                    “Dân chúng chớ nên đốt giấy tiền,

                                           Bởi vì Diêm-chúa chẳng tình riêng.”

            Ngài chấn hưng Phật pháp nên bài trừ mê tín dị đoan. Khuyên trong đám tang ma, bỏ tục lệ đốt giấy tiền vàng bạc, lầu kho, xá phướng đã lưu truyền trong dân gian, đó là mê tín dị đoan. Hơn nữa, những vật ấy khi đốt thì ra tro bụi và Diêm Vương thưởng phạt rất công bằng, không riêng tư một ai:

                                        “Phước nhiều Tiên cảnh lên rày,

                                    Tội nhiều sa đọa nhiều ngày thảm thê.”

                                    “Phán quan tả hữu không dùng hối,

                                             Nên phải dạy dân bỏ giấy tiền.”

            Ngoài Đức Diêm chúa công bằng ra, còn có các quan hầu cận tả hữu cũng chính trực, thanh liêm, không bao giờ ăn của hối lộ của nhân gian. Nên người dân phải bỏ tục lệ đốt giấy tiền vàng bạc lo lót. Việc chính yếu là:

                                               “Muốn cho tội lỗi mòn tiêu,

                                    Thành tâm cầu nguyện sớm chiều mới hay.”

                                    “Vàng bạc bởi tay khách trú làm,

                                           Phật, Thần, Tiên, Thánh chẳng dùng ham.”

            Ngài giải thích rõ là giấy tiền vàng bạc của người Tàu bày đặt làm ra, chớ không phải của người Việt Nam, không nên bắt chước.

            Vì là đồ giả dối, tà mị nên Phật, Thần, Tiên, Thánh biết rõ không dùng những vật hư dối nầy.

                                    “Giấy quần giấy áo không nên đốt,

                                           Nghĩ chuyện dối ma chẳng đáng làm.”

            Ngài lại khuyên tiếp trong phần kết luận, chấn hưng Phật pháp trở lại Chánh pháp Vô vi. Những tiền bạc giấy vàng, áo quần bằng giấy cũng không nên mua đốt mà tốn tiền vô lý:“Phải để tiền lãng phí ấy mà trợ cứu cho những người lỡ đường, đói rách, tàn tật.” thì lợi ích hơn và thực tế nữa, và mình sẽ được nhiều phước đức./.

 

Comments