9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 18‎ > ‎

26. Chăm Sóc Sức Khỏe - Văn Thế Vĩnh

VẤN ĐỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRONG TUỔI VỀ HƯU

Văn Thế Vĩnh

         Sức khỏe là vấn đề cực kỳ quan trong trong đời sống. Lúc còn trẻ, cơ thể đang trên đà phát triển, ta ít bệnh hoạn. Khi đến tuổi già, cơ thể suy thoái, sức đề kháng yếu dần, bệnh hoạn thường đến với ta luôn. Tình trạng sức khỏe suy mòn là nguyên nhân lớn nhất làm cho ta khổ đau, dẫn ta đến tử vong, gây cho ta sự tốn hao tiền bạc vượt khỏi khả năng.

         Đa số chúng ta, những người thuộc thế hệ thứ nhất nhập cư ở Hoa Kỳ nói riêng và ở các nước hải ngoại nói chung, nay đều đến tuổi già, tức trên dưới 65 tuổi hoặc cao hơn. Ở tuổi nầy, ít có người nào được mạnh khỏe hoàn toàn sau những năm tháng trải qua chiến tranh và lao tù ở quê nhà, cộng thêm thời gian dài phải bươn chải lao động cam go để duy trì cuộc sống khi vừa đặt chân đến xứ người với gánh nặng gia đình, với con cái còn trong tuổi vị thành niên,…

         Tuổi già là tuổi ta thường cô quạnh vì các con lớn lên đều bị cuốn hút vào vòng xoáy của cuộc sống nôn nả, thậm chí không có thì giờ để thường xuyên thăm viếng cha mẹ già, khác hẳn con cái ở quê nhà thường luôn kề cận chăm sóc cha mẹ ở tuổi cuối đời. Do đó, ở xứ người, ta cần nghĩ đến tuổi về hưu của chúng ta, trong đó, vấn đề sức khỏe là quan trọng nhất. Chúng ta cần tự chăm sóc bồi dưỡng sức khỏe bằng ăn uống vệ sinh điều độ, thể dục hàng ngày, xa lánh thói quen nghiện ngập không cần thiết như rượu, thuốc lá,… để hạn chế tối đa các bệnh của tuổi già như cao máu (high blood pressure), cao mỡ trong máu (cholesterol), tiểu đường (diabetes),…Đặc biệt, chúng ta đừng quên trau dồi đời sống tâm linh, giữ gìn chánh niệm, tập tánh buông xả, điều chỉnh cách suy nghĩ bất lợi để hạn chế càng nhiều càng tốt những âu lo vô ích. Có thế, tâm ta mới nhẹ nhàng an lạc, tinh thần mới được sảng khoái. Nếu sức khỏe còn tương đối tốt, ta chớ phung phí thời gian rãnh rỗi mà nên luôn luôn tâm niệm rằng một ngày còn sống trên đời là một ngày ích lợi cho mình và cho người. Ngoài thời gian tu tập, ta có thể tham gia các công tác từ thiện xã hội, học sâu giáo lý, quảng bá kiến thức và kinh nghiệm tu học trong tinh thần từ bi bác ái. Nguồn an lạc sẽ giúp ta có chân hạnh phúc và là chất liệu quan trọng để bồi dưỡng thân tâm ta.

         Người viết bài nầy vừa qua khỏi tuổi về hưu và nhận thấy rằng ngoài việc tự chăm sóc sức khỏe như nói trên, điều quan trọng không thể thiếu là ta cần có bảo “hiểm sức khỏe” (health insurance). Khi đến tuổi hưu, ta không còn hưởng chế độ bảo hiểm sức khỏe tốt mà ta được mua với giá hạ như lúc ta còn đi làm tại các công ty xí nghiệp nữa. Ở tuổi hưu, chúng ta chỉ còn nương nhờ vào các loại bảo hiểm sức khỏe do chánh phủ cấp mà luật lệ để xin trợ cấp và sử dụng thường rất phức tạp. Nếu không chịu khó tham khảo tài liệu hoặc nhờ người đi trước mách chỉ, các chuyên viên hướng dẫn, ta khó biết cách chuẩn bị các điều kiện cần thiết để xin và sử dụng các loại phúc lợi (benefits) nầy. Có hai loại bảo hiểm sức khỏe căn bản mà các công dân Hoa Kỳ và các thường trú nhân hợp pháp được hưởng là MedicareMedicaid cùng các chương trình trợ giúp linh tinh khác. Các loại bảo hiểm sức khỏe đó đều nằm trong chương trình An Sinh Xã Hội (Social Security). Do đó, trước khi đề cập đến Medicare và Medicaid, tưởng chúng ta cũng nên hiểu sơ qua về chế độ An Sinh Xã Hội (ASXH) tại Hoa Kỳ.

PHẦN I:

VÀI DÒNG VỀ CHẾ ĐỘ AN SINH XÃ HỘI TẠI HOA KỲ

         Mỗi năm người thọ thuế tại Hoa Kỳ sau khi có đủ 40 tín chỉ (credits) để được hưởng phúc lợi ASXH khi về hưu, vào trước mỗi sinh nhật, đều nhận một báo cáo về ASXH (Social Security Statement) do cơ quan ASXH (Social Security Administration) gởi đến nhằm giúp ước tính phúc lợi ASXH mà họ sẽ được thụ hưởng. Nội dung báo cáo nầy gồm: tiền hưu (pension) mà ta lãnh được khi ta về hưu đúng tuổi (full retirement) hoặc hưu sớm (early retirement) hoặc hưu muộn (delaying retirement), tiền trợ cấp tàn phế (disability), tiền trợ cấp cho gia đình (người phối ngẫu và các con), tiền trợ cấp cho các người thừa kế còn sống (survivors), điều kiện cần có để xin phúc lợi ASXH, các tuổi về hưu, tiêu chuẩn giảm phúc lợi nếu nhận tiền hưu sớm, tăng phúc lợi nếu về hưu muộn, các phúc lợi linh tinh cần thiết khác, trong đó có vấn đề Medicare, …

1.   Những người được hưởng phúc lợi ASXH và tuổi về hưu của họ:

         a/- Người được hưởng phúc lợi ASXH là người có lao động và có đóng thuế ASXH (FICA) đều đặn trong mỗi kỳ lương (paychecks), thời gian lao động ít nhất 10 năm với mỗi năm có 4 tín chỉ (credits). Tín chỉ được tính theo số tiền thu nhập (earnings) tối thiểu có đóng thuế ASXH đầy đủ. Thí dụ: Trong năm 2010, tiêu chuẩn để được 1 tín chỉ là ta phải có thu nhập tối thiểu $1,120 tiền lương hoặc lợi tức có đóng thuế do công việc tự ta làm chủ (self-employment); nếu ta thu nhập tối thiểu $4,480, ta sẽ đạt được 4 tín chỉ tối đa cần có trong năm đó. Số thu nhập tiêu chuẩn để có được 1 tín chỉ tăng dần theo thời gian do sự lạm phát tiền tệ.

         Ngoài cá nhân người lao động được hưởng phúc lợi ASXH nói trên, còn các thành viên gia đình người đó cũng được “ăn theo” trong một giới hạn luật định:

         - Người phối ngẫu (spouse) 62 tuổi trở lên, hoặc dưới 62 tuổi mà phải nuôi dưỡng một đứa con tật nguyền hay đứa con dưới 16 tuổi

         - Đứa con độc thân dưới 18 tuổi

         - Con 19 tuổi còn học toàn thời gian (full time) ở high school

         - Con trưởng thành tàn phế dưới 22 tuổi

         - Người phối ngẫu đã ly dị nếu đã chung sống 10 năm trở lên và hiện sống độc thân (unmarried).

         Nếu chẳng may bị tàn phế trước tuổi về hưu, ta cũng có thể nhận phúc lợi ASXH sáu tháng sau đó nếu có đủ số tín chỉ (credits) qui định.

         b/- Tuổi bắt đầu được hưởng phúc lợi ASXH toàn phần tùy theo năm sinh vì có sự điều chỉnh tăng dần theo thời gian:

         - Sinh năm 1937 về trước: tuổi về hưu là 65

         - Sinh năm 1938 đến 1942: cứ mỗi năm sau 1937, tuổi về hưu tăng thêm 2 tháng

         - Sinh năm 1943 đến 1954: tuổi hưu là 66

         - Sinh năm 1955 đến 1959: lại cứ mỗi năm sau 1954, tuổi về hưu tăng thêm 2 tháng

         - Sinh năm 1960 về sau: tuổi về hưu là 67 .

2.   Trường hợp về hưu sớm (early retirement):

         Sau khi có đủ tối thiểu 40 tín chỉ, ta có thể xin hưu sớm khi tới tuổi 62 hoặc bất cứ tuổi nào giữa tuổi 62 và tuổi hưu đúng nói trên. Tuy nhiên, phúc lợi ASXH của ta phải bị giảm 5/9% (= 0.555%) cho mỗi tháng về hưu sớm. Thí dụ: Tuổi hưu đúng của ta là 66, phúc lợi của ta sẽ bị giảm:

         25% ở tuổi 62,

         20% ở tuổi 63,

         13.33% ở tuổi 64,

         6.66% ở tuổi 65.

3.   Vừa hưởng phúc lợi ASXH vừa tiếp tục đi làm:

         Nếu ta vẫn làm việc để kiếm tiền thêm trong khi ta đã nhận hưu bổng sớm thì số tiền kiếm thêm không được vượt mức giới hạn ấn định cho năm đó; số tiền trên mức giới hạn sẽ bị giữ (withheld) lại: ½ trong những tháng trước năm ta hưu đúng tuổi và 1/3 trong những tháng của năm ta hưu đúng tuổi (full retirement age), tính tới tháng sanh của ta. Tiền bị giữ sẽ được trả dần bằng cách ta đựợc nhận hưu bổng hàng tháng cao hơn khi ta đến tuổi hưu đúng (full retirement age). Thí dụ: Ông A sanh ngày 15-6-1945, tuổi hưu của ông A bắt đầu từ 15-6-2011 (66 tuổi); ông A xin hưu sớm từ tháng 7 năm 2009 (sớm 24 tháng) và vẫn tiếp tục đi làm. Luật quy định như sau: lợi tức của ông A sẽ bị giữ $1 trong $2 vượt quá mức lợi tức giới hạn trong các tháng trước năm ông A 66 tuổi tức từ tháng 7 năm 2009 đến tháng 12 năm 2010 (giới hạn nầy là $14,160 cho năm 2009); sau đó, ông A bị giữ $1 trong số $3 vượt mức lợi tức giới hạn trong các tháng của năm ông A sang 66 tuổi tức từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011 (giới hạn nầy là $37,680 cho năm 2009). Hai loại lợi tức giới hạn nầy thường tăng dần mỗi năm theo đà lạm phát của tiền tệ.

         Ta cũng có thể tiếp tục đi làm mà không nhận tiền hưu khi đúng tuổi hưu. Làm như vậy, hưu bổng của ta sẽ được tăng một số bách phân cho mỗi tháng sau tuổi 70 của ta.

4.   Medicare:

         Medicare (gồm 2 phần: Part A và Part B) là bảo hiểm sức khỏe cho người về hưu. Phúc lợi nầy được cấp khi ta đúng 65 tuổi. Dù ta về hưu sớm hoặc hoãn ngày về hưu vì còn tiếp tục đi làm, ta nên xin Medicare (đặc biệt Part A, không phải trả lệ phí hàng tháng) trong thời hạn 7 tháng, kể từ 3 tháng truớc ngày 65 tuổi + tháng đúng 65 tuổi + 3 tháng sau tháng ta 65 tuổi. Quá hạn trên, ta có thể bị phạt đăng ký trễ khiến tiền lệ phí hàng tháng (premium) của Part B ta phải trả cao hơn bình thường.

5.   Chuẩn bị hồ sơ xin phúc lợi ASXH:

         Ta cần chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ cần thiết sau đây để xin phúc lợi ASXH trước 3 tháng ngày đúng tuổi về hưu theo luật định:

         - Thẻ ASXH (Social Security Card),

         - Giấy khai sanh (birth certificate),

         - W-2 Forms mới nhất,

         - Tên ngân hàng và số trương mục ngân hàng (bank account number) của ta nếu ta muốn tiền phúc lợi của ta được gởi trực tiếp vào trương mục của ta,

         - Khai sanh, thẻ ASXH của người phối ngẫu và giấy hôn thú của ta (marriage certificate) nếu người phối ngẫu muốn hưởng phúc lợi ASXH theo ta,

         - Khai sinh, thẻ ASXH của các con có đủ điều kiện hưởng phúc lợi ASXH theo ta,

         - Giấy chứng minh quốc tịch hoặc thường trú hợp pháp chưa quá hạn của tất cả những người xin hưởng phúc lợi ASXH.

         Các giấy tờ trên phải là bản chánh.Văn phòng Sở ASXH (Social Security Administration) sau khi xem xét, giữ lại bản copy nếu cần, sẽ trả lại bản chánh cho ta.

         Nơi nộp hồ sơ: Sở An sinh Xã Hội (Social Security Administration, ĐT: 1-800-772-1213). Gọi lấy hẹn (appointment) trước và xin xác nhận Sở ASXH nào gần nhà nhất; giờ gọi:7 a.m. đến 7 p..m., Thứ Hai đến Thứ Sáu. Hoặc đăng ký trên Internet tại: www.socialsecurity.gov/planners.

6.   Trợ cấp ASXH (SSI):

         Trợ cấp ASXH (Supplemental Security Income = SSI) là loại trợ cấp bổ sung của chánh phủ nhằm giúp người già (65 tuổi trở lên), người mù và người tàn phế không có lợi tức hoặc có lợi tức và tài sản thấp kém không đủ để tự lực sinh sống. Chương trình SSI cũng do Sở An Sinh Xã Hội (Social Security Administration) quản lý. Nhưng kinh phí dành cho chương trình nầy do tiền thuế của người dân đài thọ chớ không do tiền được giữ từ lương bổng của chính người thụ hưởng. Người thụ hưởng trợ cấp SSI thường nhận thêm cả food stamps, chỗ ở và medicaid (một loại bảo hiểm sức khỏe rất quan trọng).

         Điều kiện để xin hưởng trợ cấp SSI như sau:

         - Công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân hợp pháp,

         - 65 tuổi trở lên hoặc mù hoặc tàn phế theo tiêu chuẩn luật định,

         - Tài sản theo tiêu chuẩn áp dụng từ năm 1989 là không quá $2,000 cho cá nhân và không quá $3,000 cho hai vợ chồng sống chung trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Không kể vào tài sản qui định: ngôi nhà đang ở, xe hơi dùng làm chân di chuyển, ...

         SSI là chương trình phối hợp giữa tiểu bang và Liên bang; phần căn bản SSI do chánh phủ Liên bang đài thọ, còn phần gia tăng theo giá sinh họat do chánh quyền tiểu bang đài thọ. Năm 2009 và 2010, phần căn bản do Liên bang trợ cấp hàng tháng là $674 cho cá nhân, vợ chồng sống chung thì tiền trợ cấp của hai người sẽ giảm bớt.

         Trường hợp ta làm việc chưa đủ 40 tín chỉ (credits) hoặc hưu bổng của ta quá thấp so với trợ cấp SSI, ta có thể xin trợ cấp SSI nếu hội đủ tiêu chuẩn trên. (Trường hợp hưu bổng quá thấp, ta được lãnh thêm phần sai biệt giữa trợ cấp SSI và hưu bổng).

PHẦN II :

VẤN ĐỀ BẢO HIỂM SỨC KHỎE TRONG TUỔI VỀ HƯU

         Vấn đề bảo hiểm sức khỏe trong tuổi về hưu hay trong tuổi già nói chung thật vô cùng quan trọng ở Hoa Kỳ. Vì tuổi già là tuổi ở thời kỳ hoại trong quá trình Sinh-Trụ-Hoại-Diệt nên bệnh họan rất thường viếng thăm. Vì ở tuổi già, đa số chúng ta không còn được bảo vệ (covered) bởi chương trình bảo hiểm sức khỏe (health insurance) ở hãng xưởng (công ty) lúc ta còn đi làm nữa trong khi chi phí về chữa bệnh tại Hoa Kỳ vô cùng đắt đỏ, vượt khỏi rất xa khả năng tài chánh của người công nhân hồi hưu. Có hai hình thức chánh về chương trình bảo hiểm sức khỏe cho người già do chánh phủ bảo trợ là Medicaid Medicare, cùng một số chương trình linh tinh bổ túc khác mà trong phần nầy ta sẽ lần lượt tìm hiểu.

 

I.- MEDICAID:

         Medicaid là chương trình bảo hiểm sức khỏe phối hợp giữa chánh phủ Liên bang và Tiểu bang nhằm giúp trả chi phí y tế cho những người có lợi tức cùng tài sản thấp và hội đủ một số điều kiện khác do luật đòi hỏi. Các điều kiện đó thường như sau:

         - Công dân Mỹ (có quốc tịch) hoặc thường trú nhân hợp pháp (có thẻ xanh),

         - 65 tuổi trở lên hoặc dưới 65 tuổi mà mù hoặc bệnh tật (disabilities),

         - Lợi tức thấp (thường là mức lợi tức giới hạn để được hưởng trợ cấp SSI do luật tiểu bang quy định, có thể gọi hỏi tại số: 1-800-772-1213),

         - Tài sản (resources) không hơn $2000 (cá nhân) hay không hơn $3000 (hai vợ chồng chung sống) không kể nhà và xe thường để di chuyển hàng ngày.

         Một số người vừa có quyền hưởng Medicare (sẽ đề cập kế tiếp bên dưới) vừa có thể xin Medicaid, nghĩa là có “lưỡng tư cách“ (dual eligibles). Hầu hết mọi chi phí chăm sóc sức khỏe cho những người nầy đều được các chương trình liên hệ đài thọ. Tuy nhiên, chương trình Medicaid không hoàn toàn giống nhau giữa các tiểu bang. Mỗi tiểu bang có luật riêng giới hạn mức lợi tức (income) và tài sản (resources) khác nhau, điều kiện trợ cấp Medicaid cũng khác nhau, thậm chí tên gọi đôi khi cũng khác nhau: Medicaid, Medical Assistance, Medi-Cal,...

II.- MEDICARE:

         Nếu những người có lợi tức và tài sản thấp được hưởng trợ cấp SSI cũng thường xin được cả Medicaid thì Medicare (hay Medicare Health Plans) là quyền lợi chánh thức của công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân có đủ thời gian lao động do luật định và đến tuổi về hưu như đã trình bày tại Phần I.    

         Medicare là chương trình bảo hiểm sức khỏe do chánh phủ Liên bang cung cấp. Chương trình nầy khá phức tạp nên ta rất cần hiểu rõ các căn bản cần thiết để tránh quyền lợi bị thiệt thòi. Căn bản cần nhớ đầu tiên là chương trình Medicare gồm có 2 phần: Phần A và Phần B (tức Medicare Part A và Medicare Part B) mà điều kiện để xin thụ hưởng, thời gian đăng ký, dịch vụ bảo vệ và sự chọn lựa cách bảo vệ như sau:

1.   Điều kiện xin đăng ký Medicare (Medicare Enrollment):

         - Đúng 65 tuổi trở lên (không cần đợi đến lúc xin tiền hưu tức phúc lợi ASXH),

         - Dưới 65 tuổi và ốm đau tàn tật (disabilities),

         - Bất cứ tuổi nào và bị bệnh thận ở thời kỳ cuối (đang lọc nước thận thường xuyên hoặc đã thay thận – kidney dialysis or kidney transplant)

         2. Thời gian đăng ký (Enrollment Period):

                 a/. Thời gian đăng ký đầu tiên:

         Thời gian nầy kéo dài 7 tháng: 3 tháng trước tháng ta sang 65 tuổi + tháng ta sang 65 tuổi + 3 tháng sau tháng ta sang 65 tuổi.

         Đây là thời gian đăng ký dành cho người chưa có phúc lợi ASXH toàn phần (tức tiền hưu toàn phần) vì vẫn còn đi làm hoặc dành cho những người đã lãnh phúc lợi ASXH sớm, trước 65 tuổi. Nếu ta đăng ký trong thời gian 3 tháng trước tháng ta sang 65 tuổi thì Medicare của ta có hiệu lực kể từ ngày đầu của tháng ta sang 65 tuổi; nếu ta đăng ký trong 4 tháng sau đó thì Medicare của ta có hiệu lực trễ (từ 1 tới 3 tháng kể từ tháng ta đăng ký).

         Chú ý:

         - Người không đủ điều kiện hưởng Part A miễn phí, có thể mua Part A và Part B khi sang 65 tuổi trở lên nhưng lệ phí khá cao.

         - Gọi lấy hẹn để đăng ký hoặc cần biết thêm chi tiết tại số 1-800-772-1213, cũng có thể vào web-site: www.socialsecurity.gov/retirement.

         - Bài viết nầy không đi sâu vào chi tiết những người có phế tật và đau thận ở thời kỳ chót.

                 b/. Thời gian đăng ký tổng quát (General Enrollment Period):

         Nếu ta không đăng ký Part A (miễn phí) và/hoặc Part B trong thời gian đăng ký đầu tiên, ta có thể đăng ký trong 3 tháng đầu mỗi năm (từ 1 tháng 1 đến 31 tháng 3); Medicare của ta sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 của năm đăng ký. Trong trường hợp nầy Medicare Part B sẽ bị phạt vì đăng ký trễ (phải đóng lệ phí hàng tháng tăng 10% cho mỗi 12 tháng trễ), trừ trường hợp đặc biệt sẽ nói bên dưới.

         Chú ý: Năm 2011, lệ phí Part B là $115.40, người có lợi tức nhiều hơn $85,000/năm phải trả lệ phí cao hơn.

                 c/. Thời gian đăng ký đặc biệt (Special Enrollment Period):

         Nếu ta không đăng ký Part A và/hoặc Part B trong thời gian đăng ký đầu tiên vì lý do ta còn bảo hiểm sức khỏe của cơ quan, hãng xưởng ta làm việc, ta có thể đăng ký như sau:

         - Bất cứ lúc nào ta, hoặc người phối ngẫu của ta, còn đang đi làm và ta có bảo hiểm sức khỏe (group health plan) của hãng xưởng liên hệ.

         - Trong thời hạn 8 tháng, bắt dầu từ tháng mà việc làm hoặc bảo hiểm của ta chấm dứt (kể cái nào xảy ra trước).

         Ta không phải trả tiền phạt nếu ta có đủ điều kiện đăng ký trong thời gian đặc biệt. Trong trường hợp đặc biệt nầy, Medicare của ta có hiệu lực từ tháng ta đăng ký.

         3. Dich vụ y tế do Part A bảo vệ:

         Medicare Part A là bảo hiểm chi phí bệnh viện (Hospital Insurance). Do đó, Part A chỉ trả các chi phí nằm bệnh viện với tư cách là “inpatients”(bệnh nhân nội trú), các chăm nom y tế đặc biệt (Skilled nursing home), chăm sóc bệnh nhân sắp từ trần (Hospice care) và vài loại chăm sóc tại gia (Home care).

         Part A chỉ bảo vệ ta trong giới hạn mỗi “benefit period”. Ngoài “benefit period”, ta phải trả thêm chi phí mà Part A không trả như sau (thí dụ năm 2008):

         $1,024 cho mỗi lần nhập viện,

         $256/ngày trong thời gian từ ngày 61 đến ngày 90,

         $512/ngày trong thời gian từ ngày 91 đến ngày 150,

         trả 100% chi phí nếu trên 150 ngày.

         Về chi phí nursing home (skilled nursing facility care), ta phải trả như sau:

         $0 trong 20 ngày đầu,

         $128 từ ngày 21 đến ngày 100,

         trả 100% chi phí nếu trên 100 ngày.

         Chú ý:

         - Benefit period là thời gian 60 ngày kể từ ngày nhập viện hay vào nursing home để trị liệu phục hồi (rehabilitation) đến ngày bệnh nhân không còn nhận sự chăm sóc trong thời hạn 60 ngày liền. Nếu xuất viện rồi nhập viện lại trong thời hạn nầy thì không phải đóng thêm tiền nhập viện (admission) vì còn trong “benefit period”; nếu xuất viện rồi nhập viện lại ngoài 60 ngày nầy thì kể bắt đầu một “benefit period” mới, bệnh nhân phải đóng tiền nhập viện lần thứ hai.

         - Skilled nursing facility (SNF) care là dịch vụ chăm sóc đặc biệt cho bệnh nhân, có thể do một trung tâm chuyên môn phụ trách, có thể do các chuyên viên như nurses, therapists do bác sĩ gởi đến nursing home hay nhà của bệnh nhân. Dịch vụ nầy thường ngắn hạn, sau đó là “custodial care” (giúp tắm rửa, ăn uống, đi đứng cho bệnh nhân) mà Medicare không bảo vệ.

         - Home care là chăm sóc tại gia và Hospice care là chăm sóc bệnh nhân sắp từ trần. Medicare trả các chi phí nầy nếu bệnh nhân hội đủ điều kiện và qua sự chứng nhận của bác sĩ.

         4. Dịch vụ y tế do Part B bảo vệ:

         Medicare Part B là bảo hiểm chi phí khám bệnh tại các phòng mạch bác sĩ, tiền điều trị tại bệnh viện với tư cách “outpatient”(bệnh nhân ngoại trú) và vài loại chăm sóc y tế khác như “ambulance service”, emergency care (dịch vụ cấp cứu),…trong giới hạn. Part B chỉ trả 80% tiền bác sĩ, tiền dịch vụ “outpatient”, 45% tiền “outpatient mental health care” (năm 2011), không trả tiền mua thuốc, không trả chi phí nursing home nếu bệnh nhân chỉ cần “custodial care”; ngoài ra, ta còn phải trả tiền khấu trừ (deductible) mỗi năm ($155 trong năm 2010) trước khi Part B trả các khoản nói trên. Ta cần nhớ hỏi bác sĩ và bệnh viện xác định tư cách “outpatient” nếu ta tới điều trị tại bệnh viện và về trong ngày, vì có nhiều trường hợp thuộc “inpatient”(nội trú) mà ta điều trị theo cách “outpatient”(ngoại trú) thì Part B lẫn Part A đều không trả tiền cho ta .

         5. Chọn phương cách bảo vệ (coverage):

         Sau khi đã có Medicare Part A và Part B rồi, căn bản kế tiếp là ta cần chọn cách bảo vệ sức khỏe đầy đủ theo khả năng của ta. Lý do là vì các phần A và B của Medicare chỉ bảo vệ (cover) cho ta giới hạn về nhiều mặt khi ta có vấn đề sức khỏe như đã nói trên. Để tránh các khoảng trống mà Medicare không bảo vệ, luật Medicare cho ta chọn một trong 2 phương cách bảo vệ (coverages) sau đây:

         - Cách 1 có tên là ORIGINAL MEDICARE: Đây là cách gốc (original) mà cơ quan Medicare quản lý hầu hết mọi dịch vụ điều hành.

         - Cách 2 có tên là MEDICARE ADVANTAGE PLAN: Đây là cách mà cơ quan Medicare muốn tạo ra một chương trình thuận lợi (advantage) cho người thụ hưởng bằng cách cho ta chọn một công ty bảo hiểm tư nhân (có hợp đồng với cơ quan Medicare) để phụ trách việc bảo vệ (coverage) sức khỏe cho ta.

         CÁCH I: ORIGINAL MEDICARE

         Nếu ta quyết định chọn Original Medicare tức là ta đã có bảo hiểm khi nằm bệnh viện (hospital insurance) và vài dịch vụ khác do Part A đài thọ, ta cũng được trả tiền khám bệnh tại các văn phòng bác sĩ, các loại khám nghiệm (tests) và các trường hợp “outpatient“ ở bệnh viện do Part B đài thọ. Tuy nhiên, như đã nói, Medicare chỉ bảo vệ cho ta có giới hạn; ngoài giới hạn, ta phải trả bằng tiền túi của ta. Do đó, luật Medicare cho phép ta mua thêm các chương trình của các hãng bảo hiểm tư nhân có hợp đồng với cơ quan Medicare để bổ túc cho các khoảng trống mà Medicare không bảo vệ. Có 2 chương trình bổ túc mà ta có thể mua thêm là: Medicare Part D để trả tiền thuốc theo toa bác sĩ (Prescription Drug Coverage) và Medigap policy (Medicare Supplement Insurance Policy) để trả các phần Medicare Part A lẫn Part B không trả. Dĩ nhiên, lệ phí hàng tháng (premiums) của các chương trình nầy do ta đài thọ.

         Ưu điểm của Original Medicare là không buộc ta phải chọn bác sĩ gia đình, không buộc có giấy giới thiệu (referral) để đi bác sĩ chuyên khoa, không giới hạn bệnh viện miễn là các nơi cung cấp dịch vụ y tế đó có đăng ký làm việc với Medicare.

         A. Medicare Part D:

         Chương trình Medicare Part D có mục đích phụ giúp người có Medicare nhẹ bớt chi phí về thuốc men, thường là một gánh nặng rất lớn cho người bệnh. Tất cả những người có Medicare Part A và Part B (hoặc chỉ có Part A) đang sống trong vùng có dịch vụ nầy (service area) đều có thể mua Medicare Part D.

                 a/- Thời gian đăng ký và tiền phạt đăng ký trễ:

         - Trong thời gian đăng ký đầu tiên của Part A và Part B (gồm 7 tháng như đã nói trên) ;

         - Trong 63 ngày kể từ ngày chương trình bảo vệ thuốc (creditable prescription drug coverage) của ta bất cứ phát xuất từ đâu đã chấm dứt như: ta dời ra sống ngoài “vùng phuc vụ” của chương trình, ta không còn bảo hiểm sức khỏe của hãng ta làm việc…;

         - Trong khoảng 1 tháng rưỡi cuối mỗi năm (15 tháng 11 đến 31 tháng 12). Trong trường hợp nầy, Part D bắt đầu có hiệu lực kể từ 1 tháng 1 năm sau đó. Nếu thời gian đăng ký bổ túc cuối năm nầy vượt ngoài hai thời gian giới hạn trên thì ta phải trả tiền phạt đăng ký trễ (late enrollment penalty), ta phải trả thêm 1% tiền lệ phí căn bản hàng tháng ($31.94 là lệ phí căn bản trong năm 2010) cho mỗi tháng đăng ký trễ. Thí dụ: Bà A thay vì đăng ký đúng trước ngày May 15, 2006, bà lại đăng ký trong khoảng Nov 15 – Dec 31, 2009 để có hiệu lực từ Jan 1, 2010. Bà A cũng không có bảo vệ thuốc (creditable drug coverage) nào khác tối đa 63 ngày trước đó nên Bà A phải trả phạt 43 tháng (June 2006 – Dec. 2009) đăng ký trễ như sau: $31.94 x 1% x 43 = $13.73, tính tròn là $13.70 thêm vào lệ phí hàng tháng của Part D do Bà A chọn.

         - Nếu ta có EXTRA HELP (sẽ nói sau), ta có thể đăng ký Part D bất cứ lúc nào mà không phải trả thêm tiền phạt.

         - Riêng đối với người mắc phải bệnh tật (disability) thì thời gian đăng ký Part D hợp lệ là trong 3 tháng trước tới hết 3 tháng sau tháng thứ 25 có tật bệnh đó.

                 b/- Medicare Part D bảo vệ tiền thuốc như thế nào ?

         Part D cũng không bảo vệ hoàn toàn tiền thuốc cho ta. Ngoài lệ phí hàng tháng, nhiều hãng bảo hiểm còn buộc ta phải trả một khoản khấu trừ (deductible) truớc khi bảo vệ. Do đó, điều quan trọng là ta nên chọn mua Part D từ một hãng bảo hiểm nào vừa ít tốn kém cho ta vừa có dịch vụ tốt, đặc biệt là cần biết bảng tên thuốc cung cấp (formulary) phải có loại thuốc mà ta đang cần dùng. Giới hạn tiền thuốc mà Part D trả cho ta thay đổi hàng năm. Trong năm 2011, ngoài lệ phí hàng tháng và tiền khấu trừ (nếu có) ta phải trả, Part D sẽ trả tiền thuốc cho ta trong giới hạn chung sau đây:

         - Trong giới hạn $2,840: Part D trả tiền thuốc theo toa bác sĩ sau khi ta trả    copayment hoặc coinsurance;

         - Từ trên $2,840 đến $4,550: Đây là khoảng trống mà Part D không trả; kể từ năm 2011 với luật mới, Part D trả cho ta 50% riêng các loại thuốc “brand name” (thuốc có giá cao);

         - Từ trên $4,550, ta chỉ trả một ít copayment cho mỗi toa, còn lại Part D trả giúp ta cho đến hết năm.

         (Năm 2011, Medicare chọn AARP là hãng tốt nhất đạt tối đa 5 ngôi sao.   Lệ phí Part D của hãng nầy là $32.40 mỗi tháng, không có khấu trừ đầu tiên, copay là $7 - $88, coinsurance là 33%).

                 c/- Điều kiện để xin Extra Help:

         Nếu ta có lợi tức và tài sản thấp trong giới hạn luật định, ta có thể xin “Extra Help”để trả tiền thuốc cho ta tức là trả giúp ta các khoản mà Part D không trả. Extra Help có ý nghĩa là sự trợ giúp thêm cho người có lợi tức thấp nên nó cũng được gọi là “the low-income subsidy (LIS)”. Trong năm 2010, điều kiện để có thể xin trợ cấp nầy được ấn định như sau:

         - Người độc thân: lợi tức dưới $16,245 (tức $1,354/tháng), tài sản dưới $12,510 ;

         - Vợ chồng chung sống không con phải nuôi dưỡng: lợi tức dưới $21,855 (tức $1,821/tháng) và tài sản dưới $25,010.

         Số tiền trên có thể thay đổi (thường là tăng) trong những năm sau đó do tiền mất giá, hoặc sống ở tiểu bang Alaska hay Hawaii, hoặc có con cái phải nuôi dưỡng (dependents) đang chung sống. Còn tài sản (resources) thì gồm có: tiền trong các trương mục ngân hàng, cổ phiếu (như 401k), trái phiếu. Tài sản đó không kể nhà, xe, vật dụng trong nhà, đất dành cho sự mai táng trị giá không quá $1,500 cho mỗi người và cả bảo hiểm nhân thọ.

         Nếu ta có Extra Help và Part D, ta sẽ được trợ giúp như sau:

- Giúp trả Medicare Part D: lệ phí hàng tháng, tiền khấu trừ (deductible), copayment và coinsurance;

         - Không có khoảng trống (từ $2,840 đến $$4,550) mà Medicare không chi trả như nói trên;

         - Không bị phạt vì đăng ký trễ.

                 Extra Help cũng có thể tự động có mà ta không phải xin nếu ta có Medicare và được hưởng một trong các chương trình có điều kiện cao hơn Extra Help sau đây:

         - Ta có Medicaid toàn phần;

         - Ta đang có trợ cấp ASXH (SSI),

         - Ta được giúp đỡ từ chương trình Medicaid của tiểu bang (có tên là Medicare Savings Programs) chi trả phần lệ phí Part B cho ta– sẽ đề cập sau.

         Trong các trường hợp tự động nầy, cơ quan Medicare sẽ gởi đến cho ta một “Thư màu tím”(purple letter); ta cần giữ thư nầy trong hồ sơ của ta.

         Nếu không tự động có Extra Help, ta có thế xin (apply) bằng cách:

         - Trên online: www.socialsecurity.gov .

         - Gọi Sở ASXH (Social Security) tại số: 1-800-772-1213 để xin qua điện thoại hoặc xin mẫu đơn (paper application) để điền gởi sau.

         - Liên hệ văn phòng Medicaid của tiểu bang ta ở. Ta goi số: 1-800-MEDICARE (1-800-633-4227) để được cho số phone ta cần hoặc vào website: www.medicare.gov.

         Extra Help hầu như chi trả gần hết tiền thuốc cho ta; ta chỉ cần trả copay không quá $2.50 cho mỗi toa thuốc thường và $6.30 cho mỗi toa thuốc “brand-name“. Ta cũng có thể tiếp xúc với chương trình hoặc xem trên thư Extra Help mà ta có để biết giá chính xác.

                 d/- Cần trả đúng giá được trợ giúp:

         Medicare luôn có tin tức từ tiểu bang của ta hoặc Sở ASXH để biết rằng ta có Extra Help chưa. Nếu Medicare không có dữ kiện đúng, ta có thể trả tiền lầm về việc bảo vệ tiền thuốc cho ta. Nếu ta có Extra Help tự động thì ta trình Thư màu tím, vàng, hoặc xanh của Medicare gởi cho ta để làm bằng chứng. Nếu ta đã xin Extra Help thì ta có thể trình Thông báo trợ cấp (Notice of Award) của Sở ASXH làm bằng chứng. Ta cũng có thể trưng cho chương trình của ta bất cứ giấy tờ nào để làm bằng chứng tốt nhất (Best Available Evidence) chứng minh ta có Medicaid.

         B. Medigap policy:

         “Medigap policy” cũng được gọi “Medicare Supplement Insurance“, là loại bảo hiểm tư có hợp đồng với Medicare, nhằm phụ giúp trả cho ta các khoảng trống (gaps) mà Medicare Part A và Part B không trả. Muốn có Medigap policy, ta phải mua bằng tiền túi của ta. Tài liệu biên khảo nầy dựa vào Luật mới áp dụng từ ngày 1-6-2010 về sau . Theo đó, các Medigaps đều gồm có tất cả 10 plans: A, B, C, D, F, G, K, L, M và N. Plan A nhằm vào các dịch vụ y tế căn bản như: Trả coinsurance bệnh viện đến 365 ngày sau giới hạn quyền lợi mà Part A bảo vệ cho ta, trả coinsurance hoặc copayment cho Part B, trả tiền thử máu, trả coinsurance hoặc copayment cho sự chăm sóc người sắp từ trần thuộc Part A. Các plans còn lại có thể trả phụ thêm một số chi phí thuộc các dịch vụ khác của Part A và Part B, tùy sự lựa chọn của ta, như: chăm sóc tại nursing home, tiền nhập viện, tiền khấu trừ của Part B, tiền phụ trội khi dùng Part B (được luật cho phép), cấp cửu trong khi đi du lịch nước ngoài, chăm sóc phòng ngừa thuộc Part B.

         Các công ty bảo hiểm y tế dựa trên một số điều kiện trong từng trường hợp để định lệ phí Medigap hàng tháng khác nhau. Do đó, muốn có giá cả phải chăng, ta cần phải chọn lựa kỹ trước khi mua và phải mua trong thời gian quy định. Tại một vài tiểu bang, có một loại Medigap khác có tên là Medicare SELECT policy áp dụng trong một số giới hạn nếu ta muốn được bảo vệ đầy đủ (full coverage).

                 a/- Điều kiện mua Medigap:

         - Phải có đủ Part A và Part B,

         - Trong thời hạn tốt nhất là 6 tháng kể từ tháng ta 65 tuổi trở lên và đã         đăng ký Part B. Thí dụ: Ta trên 65 tuổi và đã đăng ký Part B trong tháng         2, tốt nhất là ta mua Medigap từ tháng 2 đến tháng 7; vì sau tháng 7, ta có     thể bị từ chối mua Medigap và nếu ta được mua thì giá có thể cao hơn   giá bình thường.

                 b/- Vài ghi nhớ cần thiết:

         - Medigap chỉ bảo vệ cho 1 người; người phối ngẫu nếu cần phải mua riêng.

         - Nếu ta đã chọn Original Medicare và sau đó chuyển sang Medicare Advantage Plan (sẽ đề cập sau), ta có thể bỏ (cancel) Medigap. Điều nên nhớ là nếu đã bỏ Medigap thì ta rất khó trở lại chương trình nầy.

         - Nếu ta đã chọn Medicare Advantage Plan thì ta không cần phải mua Medigap, công ty bảo hiểm nào bán thêm cho ta Medigap là không hơp lệ (illegal) trừ phi ta chuyển về Original Medicare.

         - Nếu lần đầu tiên ta chọn Medicare Advantage Plan và thấy chương trình bảo hiểm ở đó không tốt nên xin chuyển về Original Medicare, ta có quyền mua Medigap trong thời hạn 12 tháng sau đó.

         - Hiện nay Medigap không còn trả tiền thuốc cho ta nữa nhưng nếu ai đã mua Medigap trước đây có bảo vệ thuốc thì có thể giữ nó. Sau đó, ta mua Part D để được bảo vệ thuốc thì Medigap sẽ điều chỉnh lệ phí hàng tháng lại cho ta.

         CÁCH II: MEDICARE ADVANTAGE PLAN             

         Cách thứ hai để sử dụng Medicare mà ta có quyền chọn là Medicare Advantage Plan, đôi khi cũng được gọi là Part C. Có nhiều loại Medicare Advantage Plans ,viết tắt là “MA Plans”. Nếu ta chọn MA Plans, ta không phải mua Part D và Medigap. MA Plans sẽ cung cấp cho ta mọi dịch vụ y tế của Part A (bệnh viện), Part B (bác sĩ) và Part D (thuốc), luôn cả trường hợp cấp cứu (emergency and urgent care) và bảo vệ về mắt, tai, răng,…. Nói cách khác, MD Plans bảo vệ cho ta mọi dịch vụ y tế mà Medicare Part A và Part B bảo vệ, cộng thêm một số dịch vụ cần thiết khác, trừ dịch vụ chăm sóc bệnh nhân sắp từ trần (hospice care), vẫn còn thuộc Original Medicare. Dĩ nhiên, ngoài lệ phí hàng tháng mà ta phải trả cho Part B, ta phải trả thêm lệ phí hàng tháng cho công ty bảo hiểm mà ta đăng ký MA Plan. Các MA Plans chăm sóc sức khỏe cho ta gần giống như các loại bảo hiểm lúc ta còn đi làm cho các hãng, xưởng,…

         A. Điều kiện gia nhập, chuyển đổi hoặc rời bỏ MA Plans:

              a/- Thời gian xin gia nhập:

         - Khi ta sang 65 tuổi và xin đăng ký Medicare Part A và Part B (thời gian nầy kéo dài 7 tháng như đã nói tại các phần trên),

         - Trường hợp người hưởng Medicare do tật bệnh thì thời gian xin gia nhập là bắt đầu 3 tháng trước tới hết 3 tháng sau tháng thứ 25 có tật bệnh.

         - Trong 1 tháng rưỡi, từ ngày15 tháng 11đến ngày 31 tháng 12 mỗi năm, và hiệu lực sẽ bắt đầu từ 1 tháng 1 năm sau đó .

               b/- Gia nhập cách nào ?

         Ta có thể điền đơn xin, gọi điện thoại, đăng ký online trên web-site của công ty bảo hiểm ta chọn. Hoặc ta đăng ký bằng cách gọi số: 1-800-MEDICARE (1-800-633-4227) hoặc lên web-site: www.medicare.gov. Trong khi đăng ký, ta phải sẵn sàng cung cấp số, ngày tháng mà Part A và Part B của ta bắt đầu có hiệu lực (được ghi trên thẻ Medicare của ta).

              c/- Chuyển đổi MA Plan:

         Nếu ta đang ở MA Plan và muốn chuyển nó, điều ta cần làm như sau:

         - Để chuyển sang một MA Plan khác, ta phải áp dụng thời hạn gia nhập nói tại điểm a/ trên. Ta sẽ được tự động rời khỏi MA Plan cũ khi MA Plan mới bắt đầu;

         - Để chuyển sang Original Medicare, thể thức sẽ phức tạp hơn. Ta cần tiếp xúc với chương trình hiện tại của công ty bảo hiểm mà ta đã gia nhập hoặc gọi số 1-800-MEDICARE để được hướng dẫn. Vừa rồi, Medicare ra thể lệ cho ta được quyền chuyển đổi từ MA Plan sang Original Medicare trong thời hạn từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 14 tháng 2 năm 2011. Nếu ta chuyển đổi trong thời gian nầy, ta cũng phải đồng thời đăng ký Part D đến hạn chót là 14 tháng 2 nếu muốn. Medicare mới của ta sẽ có hiệu lực kể từ ngày đầu tháng sau ngày đăng ký. Trong thời gian nầy, mọi sự chuyển đổi, gia nhập khác đều bị hạn chế cho đến đầu năm sau, trừ các trường hợp: ta dời ra sống khỏi “vùng dịch vụ“ (service area), ta có tư cách Extra Help, ta vào nursing home.

         B. Các loại MA Plans:

         MA Plans có nhiều loại khác nhau và vì hợp đồng với Medicare nên MA Plans phải theo luật lệ của Medicare ấn định. Tuy nhiên, mỗi MA Plan cũng có thể lệ riêng, có quyền ấn định mức lệ phí hàng tháng mà người mua phải trả, có các dịch vụ phụ thêm khác nhau, cách điều hành khác nhau,…Hơn nữa, các MA Plans còn giới hạn bác sĩ, bệnh viện,…và thể lệ cũng thường thay đổi hàng năm. Do đó, điều quan trọng là ta cần hiểu rõ cách thức hoạt động của MA Plan ta chọn trước khi xin gia nhập để phù hợp với sở thích và nhu cầu của ta. Có 4 loại MA Plan hiện đang áp dụng:

-        Health Maintenance Organization (HMO)Plan

-        Preferred Organization (PPO) Plan

-        Private Fee-for-Service (PFFS) Plan

-        Special Needs Plan (SNP)

         Sau đây là bảng so sánh khái quát phương thức hoạt động của các loại đó:

 

Câu hỏi:

HMO Plan:

PPO Plan:

PFFS Plan:

SNP:

1.Ta có quyền điều trị tại bất cứ bác sĩ và bệnh viện nào không?

1. Không. Ta phải điều trị với bác sĩ và bệnh viện trong network.

1. trong đa số trường hợp.

1. trong giới hạn một vài trường hợp.

1. Không, chỉ bác sĩ và bệnh viện trong network.

2.Ta có được trả tiền mua thuốc theo toa bác sĩ không?

2. nhưng cần hỏi kỹ thuốc trước khi gia nhập.

2. nhưng cần hỏi kỹ thuốc  trước khi gia nhập.

2. Đôi khi có. Nếu không thì ta phải mua  Part D.

2. .

3.Ta có buộc phải chọn bác sĩ gia đình không?

3.

3. Không

3. Không

3. Thường thường có.

4. Ta có cần giấy giới thiệu để điều trị  chuyên khoa không?

4.

4. Không

4. Không

4.

5. Ta có cần biết thêm điều gì khác về  loại MA Plans nầy?

5.*Ta sẽ được thông báo khi bác sĩ của ta rời khỏi chương trình để ta chọn bác sĩ khác.         *Nếu điều trị ngoài network ta phải trả toàn chi phí.           *Ta cần hiểu thể lệ của chương trình hoặc cần được thỏa thuận trước đối với một vài dịch vụ mà ta nghi ngờ.

5. Có 2 loại PPO: Regional PPOs phục vụ 1 trong 26 khu vực ấn định bởi Medicare, Local PPOs phục vụ  tại các quận (counties) mà PPO chọn làm “khu dịch vụ” (service area).

 

 

 

            III.- CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỢ GIÚP BỆNH NHÂN CÓ LỢI TỨC THẤP:

         Nếu ta tham gia Medicare một cách đầy đủ, ta phải trả chi phí hàng tháng khá cao, đôi khi vượt quá khả năng người có lợi tức thấp (low-income). Do đó, nếu ở trong trường hợp nầy, ta có thể có đủ tư cách để xin sự trợ giúp trả tốn kém cho ta. Sau đây là các chương trình trợ giúp:

         1. EXTRA HELP: Giúp trả tiền thuốc cho ta như: lệ phí hàng tháng của Part D, trả tiền khấu trừ hàng năm của Part D (nếu có), trả co-insurance, co-payment cho các toa thuốc (Xem lại chi tiết đã trình bày trong mục Original Medicare).

         2. MEDICARE SAVINGS PROGRAMS: Đây là các chương trình thuộc các tiểu bang giúp trả lệ phí Medicare (premiums) hàng tháng, trong một vài trường hợp cũng giúp trả tiền khấu trừ (deductibles), co-insurance, co-payments cho Part A và Part B. Cần ghi nhớ chi tiết sau đây:

         a/- Điều kiện xin trợ giúp:

         - Phải có Medicare Part A

         - Người độc thân: lợi tức dưới $1,239/tháng, tài sản dưới $6,600

         - Vợ chồng sống chung: lợi tức dưới $1,660/tháng, tài sản dưới $9,910 .

         Mức lợi tức và tài sản trên áp dụng trong năm 2010, có thể thay đổi từng năm và được quy định khác nhau trong mỗi tiểu bang. Cách khai tài sản giống như trong điều kiện xin Extra Help.

         b/- Ghi chú thêm:

         - Tên gọi và cách làm việc của các chương trình nầy có thể thay đổi theo luật tiểu bang. Cần gọi tại số 1-800- MEDICARE (1-800-633-4227) và nói “Medicaid” để có số điện thoại riêng cho tiểu bang ta ở.

         - Ta cũng có thể tiếp xúc với State Health Insurance Assistance Program (SHIP) (Chương trình giúp bảo hiểm sức khỏe tiểu bang) để được chỉ dẫn. Số điện thoại của SHIP được in trên bìa sau của tập “MEDICARE &YOU” liên hệ tiểu bang ta đang ở.

         - Ta cũng có thể xem tập chỉ dẫn (brochure) “Get Help With Your Medicare Costs”: Getting Started” trên web-site http://go.usa.gov/loA hoặc gọi xin một bản copy tập nầy tại số 1-800-MEDICARE (1-800-633-4227).

         3. MEDICAID: đã được đề cập tại đoạn I trong phần II nầy.

         4. STATE PHARMACY ASSISTANCE PROGRAMS (SPAPS): Đây là các chương trình tiểu bang giúp trả tiền thuốc cho một số người dựa trên nhu cầu tài chánh, tuổi tác, hoặc điều kiện y tế. Mỗi chương trình đều có luật lệ riêng . Nếu ta có nhu cầu xin trợ giúp, ta phải hỏi chương trình SHIP như đã nói.

         5. PROGRAMS OF ALL-INCLUSIVE CARE FOR THE ELDERLY (PACE): Đây là chương trình thuộc Medicare và Medicaid tại nhiều tiểu bang nhằm cho phép những ai cần điều trị trong nursing home . Điều kiện căn bản là 55 tuổi trở lên và sống trong “vùng dịch vụ” (service area) của PACE. Cần gọi hỏi văn phòng Medicaid để xem ta có đủ điều kiện để xin chương trình nầy không và có sống trong vùng dịch vụ nầy không.

         6. SUPPLEMENTAL SECURITY INCOME (SSI) BENEFITS: Đây là chương trình trợ cấp tiền mặt dành cho người có lợi tức và tài sản thấp đang bệnh tật, mù, hoặc 65 tuổi trở lên. SSI giúp nhu cầu sinh sống căn bản về ăn, mặc và ở. Xem lại Phần I khoản 6 bên trên.

         7. PROGRAMS FOR PEOPLE WHO LIVE IN THE U.S. TERRITORIES: Đây là các chương trình dành trợ giúp các cư dân thuộc các hải đảo (như Puerto Rico, the Virgin Islands, Guam, the Northern Mariana Islands, và American Samoa) có lợi tức và tài sản thấp để trả chi phí Medicare của họ.

          Có lẽ 3 chương trình trợ giúp bổ sung cho Medicare mà ta cần quan tâm nhất là :

-        Extra Help để phụ giúp chi trả tiền thuốc cho ta,

-        Medicare Savings Programs để phụ giúp chi trả cho ta một số chi phí Part A, Part B,

-        Medicaid là chương trình phụ giúp đầy đủ nhất cho chi phí Medicare nếu ta có đủ điều kiện để xin hưởng chương trình nầy.

TỔNG KẾT

         Tóm lại, ta không thể nào phủ nhận “Vấn đề chăm sóc sức khỏe” là việc tối cần thiết trong tuổi về già tại Hoa Kỳ. Có hai chế độ bảo hiểm sức khỏe do Chánh phủ Hoa Kỳ phụ trách:

-        Medicaid là chế độ bảo hiểm sức khỏe do Chánh phủ trợ giúp cho người già 65 tuổi trở lên hoặc người mù, tàn phế có lợi tức và tài sản thấp, bằng tiền của người dân đóng thuế .

-        Medicare là chế độ bảo hiểm sức khỏe thuộc phúc lợi An Sinh Xã Hội dành cho người có lao động đủ thời gian quy định trong lúc về hưu bằng chính tiền do người thụ hưởng đã đóng góp trong thời gian lao động của họ.

         Có hai cách chánh để nhận bảo hiểm sức khỏe thuộc Medicare: Original Medicare hoặc Medicare Advantage Plan. Sau đây xin tóm lược những bước giúp ta quyết định nhận bảo hiểm Medicare cho ta:

Bước 1: Quyết định cách nhận bảo hiểm Medicare:

                     _______________________________

                                                                           

    ORIGINAL MEDICARE              MEDICARE ADVANTAGE PLAN

      _______________                         (như một HMO hoặc PPO)

                                                                                           

Part A         &       Part B                     Phối hợp Part A, Part B, cả

Bảo hiểm               Bảo hiểm                               Part D

bệnh viện              y tế (bác sĩ,                              

                             thử nghiệm…)                        Kết thúc

Bước 2: Quyết định cần được bảo vệ thuốc:

                     

                 Part D

Trả tiền thuốc theo toa bác sĩ.

                     

Bước 3: Quyết định cần bổ sung chỗ Part A và Part B không trả:

                     

                  Medigap

(Medicare Supplement Insurance Policy

    Bảo hiểm bổ sung các chỗ trống)

                     

                  Kết thúc

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Centers for Medicare & Medicaid Services (CMS):

1. Medicare & You, 2011

2. Choosing a Medigap Policy, 2010

3. Welcome to Medicare (2010)

4. Medicare Basics (2010)

5. Medicare and the New Health Care Law –What it Means for You (2010)

Social Security Administration (SSA):

1. Your Social Security Statements

2. Retirement Benefits

3. Medicare

4. Medicare Premiums: Rules for Higher-Income

5. Understanding The Extra Help With Your Medicare - Prescription Drug Plan

6. How Work Affects Your Benefits

7. What You Need To Know When You Get Retirement Or Survivors Benefits

8. Supplemental Security Income (SSI)

9. You May Be Able To Get Supplemental Security Income (SSI)

10. What You Need To Know When You Get Supplemental Security Income (SSI)


Comments