9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 18‎ > ‎

25. Bút Ký Du Sơn - Hướng Dương

Tượng Phật Di Lặc trên núi Cấm.

Tượng Phật Di Lặc trên núi Cấm.

MỘT CHUYẾN DU SƠN

                                                                 Bút Ký Hướng Dương

Thất Sơn nổi tiếng là nơi địa linh nhơn kiệt, cái rún tâm linh của Miền Nam Việt Nam. Nơi đó, nhiều người hâm mộ đạo đức ao ước được viếng thăm. Du sơn không phải chỉ để thưởng thức thắng cảnh thiên nhiên mà còn để chiêm ngưỡng vẻ hùng vĩ và linh thiêng của chốn núi đồi, viếng thăm nơi in dấu chân của các đấng tiên hiền, các đại nhân thánh triết đã từng xuất hiện cứu đời. Du sơn còn là cơ hội để gặp gỡ các thiện tri thức đồng hành trên một tuyến đường,…

LÊN ĐƯỜNG ĐỘT XUẤT.

Ý định du sơn của chúng tôi sẵn có nhưng cứ nghĩ đó là một chuyến đi nhiều vất vả nên cần điều kiện sức khỏe tốt và hội đủ các tiện nghi cần thiết. Bất ngờ trưa ngày mùng 7 tháng 7 (nhuần) năm Đinh Mão (30-8-1987), hai đồng đạo (Giáo Sanh và Hai Thanh) từ Cao Lãnh đột xuất đến chúng tôi (Xã Long Giang, Chợ Mới, An Giang) rủ đi ngay trong ngày bằng xe đạp. Miền Nam Việt Nam lúc nầy ở trong cảnh thiếu công ăn việc làm nên chúng tôi túng thiếu mà rảnh rổi. Trong thoáng chốc, chúng tôi quy tụ được 7 người để hợp cùng 2 người bạn từ Cao Lãnh thành đoàn 9 người cỡi xe đạp xuất phát lên đường do đồng đạo Giáo Sanh làm trưởng đoàn hướng dẫn.

Rời Long Giang hồi 2 giờ chiều, chúng tôi đi theo trục hương lộ Long Giang – Thuận Giang – Hòa Hảo – Năng Gù – Liên tỉnh lộ Long Xuyên – Châu Đốc. Lúc 6 giờ chiều, chúng tôi đến Chợ Ba Tiệm và rẽ qua xã Khánh Hòa, nghỉ đêm tại nhà đồng đạo Ba Bộ - vị nầy đựợc chư thánh thần dẫn thần thức đi thăm cõi địa ngục, các cõi thiên và cõi Tây phuơng Cực lạc 12 lần. Đồng đạo Ba Bộ là một mẩu người đạo đức mực thước, điềm đạm và nhân ái. Chúng tôi dùng cơm chay chiều tại nhà đồng đạo và đựợc nghe kể lại một số mẩu chuyện điển hình trong số 12 chuyến đi bằng tâm linh hy hữu của đồng đạo. Những mẩu chuyện đó có công năng khuyến tấn tu hành và trợ duyên cho những ai đã phát tâm tu thêm tinh tấn trên bước đường hành đạo.

Hôm sau, lúc 6 giờ sáng, chúng tôi tiếp tục đạp xe thẳng đến thị xã Châu Đốc. Trên đường đi, chúng tôi có dịp ghé thăm qua một số gia đình đồng đạo có đạo tâm tốt. Chúng tôi đến Châu Đốc lúc 9 giờ, dùng cơm trưa tại một quán cơm chay của một đồng đạo tốt lòng. Xong, chúng tôi gởi xe đạp tại một nhà quen rồi đón xe đò đi thẳng vào Núi Sam. Chúng tôi viếng và làm lễ mộ Đức Phật Thầy và chùa Tây An, thăm đền thờ Bà Chúa Xứ, lăng và đền thờ Thoại Ngọc Hầu, rồi đón xe đến chiếc cầu gẫy, trên tuyến đường  đi vào Thất Sơn, cách Núi Sam 3 cây số.

DUYÊN KỲ NGỘ.

Sang bờ bên kia chiếc cầu gẫy, chúng tôi dự định đáp xe đi vào Bến Su (chợ Dầy-Đét) để lên viếng Thiên Cấm Sơn (Núi Cấm) trước. Nhưng sự tính toán không được nhất trí, chúng tôi phải bỏ lỡ một chuyến xe nên phải chờ một chuyến khác sau đó. Lên xe, vừa tìm xong chỗ ngồi, chúng tôi được một bạn đồng hành tốt lòng mời đến ngồi gần. Tôi ngẫng nhìn và tự nhiên có thiện cảm với người khách lạ nên nhận lời mời . Sau vài lời trao đổi, chúng tôi thông cảm nhau rất mau qua tình đồng đạo và tình bạn đồng hành. Tên anh là Tư Xinh (ở Cái Dầu) đang hướng dẫn một đoàn du sơn sáu người. Đồng đạo nầy là một tu sĩ bồ tát hạnh, có nhiều năm hành đạo trên núi nên rất am tường địa dư vùng Bảy Núi và thông thạo tiếng Khmer. Anh cũng là bạn cố tri với đồng đạo Giáo Sanh, trưởng đoàn chúng tôi, từ 17 năm trước. Đồng đạo Tư Xinh mời đoàn chúng tôi gia nhập với đoàn do anh hướng dẫn và đề nghị một chương trình hợp lý như sau: thăm Phụng Hoàng Sơn (Núi Tô) trước, rồi kế đó là Liên Hoa Sơn (Núi Tượng), Thủy Đài Sơn (Núi Nước), Thiên Cấm Sơn (Núi Cấm), Anh Vũ Sơn (Núi Két), nếu có đủ thời giờ thì thăm lướt qua Ngọa Long Sơn (Núi Dài Giao Liên) và Ngũ Hồ Sơn (Núi Dài Năm Giếng) trước khi đi về. Đoàn chúng tôi nhất trí xin gia nhập và chấp nhận chương trình do đồng đạo Tư Xinh hướng dẫn. Thế là đoàn mới của chúng tôi gồm có 15 người với đầy đủ thành phần già trẻ và nam nữ, đi xe đò thẳng vào chợ Tri Tôn (Sà-Tón). Chúng tôi mua một ít lương thực rồi đi bộ đến chân núi Phụng Hoàng Sơn cách chợ Tri Tôn 7 cây số.

VIẾNG PHỤNG HOÀNG SƠN.

Chúng tôi bắt đầu leo Phụng Hoàng Sơn lúc 4 giờ chiều ngày 8-7 âm lịch (âl). Vì đó là sườn đông của núi nên lúc nầy trời không còn ánh nắng và không khí rười rượi mát. Dù vậy, chúng tôi cũng cảm thấy mỏi mệt nhiều. Một bà cụ 76 tuổi trong đoàn dường như kiệt sức sau khi leo núi chưa đầy 500 mét. Do đó, đoàn dừng nghỉ, xuống suối rửa mặt, dùng cơm cho vững dạ. Đồng đạo trưởng đoàn Tư Xinh có tài hùng biện và thông thạo đạo lý nên đã gây được bầu không khí hào hứng khích lệ cho đoàn rất nhiều. Bà cụ tỉnh lại và các thành viên của đoàn lấy lại được sức khỏe nên tiếp tục leo dốc.

Chẳng mấy chốc chúng tôi tới Mũi Hải, rồi tới Chùa Huỳnh Thạnh Tự - một ngôi chùa đã bị chiến tranh tàn phá trong thời chiến nên chủ chùa chỉ dựng lại được một cái cốc nhỏ để tiếp tục hương khói. Sau đó, chúng tôi đến Điện Năm Căn – một điện đá uy nghi do một tảng đá lớn nhô ra như một mái nhà. Chúng tôi vào điện làm lễ Phật, chào kính chư thánh thần Phụng Hoàng Sơn rồi sang thăm Hang Ông Hổ gần đó. Ông từ Điện Năm Căn cho biết trong hang có một hổ cái đang đẻ con; hổ mẹ thường xuất hiện kín đáo vào các lúc thanh vắng – hiện còn để lại dấu chân trên cát và phân. Chúng tôi cáo từ Điện Năm Căn tiến lên Sân Tiên. Sân Tiên Phụng Hoàng Sơn là một sân đá bằng phẳng, dốc thoai thoải hướng vế phía chợ Tri Tôn, diện tích ước chừng 2.000 mét vuông. Trên Sân Tiên còn rõ nét dấu một “bàn chân tiên” dài 1m,1, lún sấu dưới mặt đá độ 3 cm. Cách “bàn chân tiên” bốn năm tầm (1tầm=3m) là một “hầm chén” mà miệng hầm đã bị bít kín; dùng tay gõ nhẹ trên mặt hầm ta nghe âm thanh lồng lồng bên dưới. Tương truyền mỗi khi khách hành hương viếng núi lỡ bữa, cần mượn chén ăn cơm , khách cầu nguyện thì chén xuất hiện ngay trên mặt hầm. Có một ít khách vì lòng  thế tục còn nặng, không cầm lòng  tham trước những chiếc chén kiểu xinh đẹp nên lén trao đổi bằng những chiếc chén trần gian. Đó là lý do chư thánh thần phải bít kín hầm chén lại.

Chúng tôi rời Sân Tiên đi lên phía Vồ Hội và đến đó lúc quá 5 giờ chiều. Đây là một vồ đá lớn trống trải thanh vắng. Về hướng Tây Nam trời lồng lộng gió. Khách du sơn phóng xa tầm mắt cảm thấy lòng mát mẻ, thơ thới vô cùng. Chúng tôi đến xem một số ghềnh đá lớn của Vồ, có dốc hướng về phía Đông Nam. Những ghềnh đá nầy có một vị trí độc đáo hùng vĩ. Nếu khách du sơn bạo dạn bước sâu xuống dốc sẽ cảm thấy mình đứng cheo leo trên sườn núi và thân thể vô cùng bé nhỏ trước cảnh thiên nhiên. Cảnh vật đồng bằng bên dưới như một bức tranh treo trước mắt, ruộng lúa được kẻ từng ô xinh đẹp; chợ Tri Tôn, làng mạc, đường xá,… chỉ còn là những nét chấm phá của một danh họa trên bức tranh thiên nhiên tuyệt vời đó. Trời đã chạng vạng mà chúng tôi vẫn không muốn rời sớm điểm nầy. Vì phải sửa soạn cơm chiều và nghỉ đêm tại Chùa Bồng Lai nên chúng tôi phải đành dời bước. Chúng tôi đến chùa Bồng Lai thì trời vửa sụp tối. Dừng chân tại một dòng suối đẹp cạnh chùa, chúng tôi xuống tắm rửa. Nước suối mang lại cho chúng tôi một luồng  sinh khí mát mẻ.  Chùa Bồng Lai là một ngôi chùa lớn đã bị chiến tranh tàn phá, nay được xây cất lại bằng một ngôi chùa nhỏ hơn, lợp lá nhưng tương đối có đủ tiện nghi cho khách du sơn dừng chân tạm nghỉ. Đoàn chúng tôi đến chùa thì đã có độ 80 khách hành hương đến trước. Chúng tôi lễ bái, dùng cơm chiều xong rồi tìm chỗ nghỉ cho một đêm đầu tiên trên núi.Trời đêm trên cao độ rất mát mẻ; chúng tôi quay quần quanh đồng đạo Tư Xinh say sưa nghe pháp cho đến thời lễ bái giữa đêm.

Lúc 4 giờ sáng ngày 9-7 âl, chúng tôi đồng thức dậy lễ bái sáng, dùng cơm nước  để chuẩn bị lúc 6 giờ bắt đầu leo lên cấp cao nhất của Núi Tô. Trên đỉnh cao sáng sớm hôm nay, mây áp núi, trời lộng gió mát mẻ . Rất tiếc là mây phủ núi mỗi lúc một dầy đặc nên chúng tôi không thể ngắm nhìn cảnh đẹp dưới đồng bằng cũng như cảnh trời biển về hướng Hà Tiên. Chúng tôi sang thăm Điện Ông Hổ, Điện Chư Vị và cuối cùng là Điện Kín. Điện Kín là nơi thờ phượng trang nghiêm ngầm dưới mặt đá. Điện được xếp đặt thờ cúng theo nghi thức PGHH: bàn thờ hai cấp, cấp dưới thờ Cửu Huyền Trăm Họ, cấp trên thờ Tam Bảo (giữa là khung trần dà, bên cạnh là hình Đức Huỳnh Giáo Chủ). Bây giờ khách đến viếng Điện có khoảng 50 người cùng vào làm lễ, cầu an và cầu siêu cho một số đồng đạo. Đồng đạo Tư Xinh điều khiển lễ bái và phát biểu lời khuyến tấn tu hành. Lời nói của vị trưởng đoàn thâm trầm tế nhị khiến mọi người (nhất là các bà) cảm động nhiều về thân phân tạm giả của kiếp người mà hứa hẹn phát tâm tu hành dõng mãnh.

Rời Điện Kín, chúng tôi xuống núi theo lối đã đi lên. Trên đường đổ dốc, chúng tôi gặp nhiều đoàn người từ chân núi tiến lên. Chúng tôi chào hỏi nhau bằng câu “A Di Đà Phật” và cùng chúc lành cho nhau trong không khí vui vẻ thanh thoát cơ hồ như anh em ruột thịt lâu ngày được gặp gỡ lại.

Từ chân núi, chúng tôi lại đi bộ ra chợ Tri Tôn rồi đến bến xe  Ba Chúc để đáp xe đi đến núi Tượng – Thánh địa của Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

TRÊN ĐƯỜNG THĂM LIÊN HOA SƠN VÀ THỦY ĐÀI SƠN.

Trên đường đến Ba Chúc, xe chạy ngang qua mộChùa Đức Phật Trùm. Đây là một địa điểm hấp dẫn đối với khách hành hương thuộc hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Đoàn chúng tôi đi trên một chuyến xe khách chạy suốt nên không thể thân hành viếng thăm điểm nầy. Xe đến Ba Chúc lúc 4 giờ rưỡi chiều ngày 9-7 âl, chúng tôi xuống xe bách bộ đến một ngôi cổ miếu rộng rãi cách chợ Ba Chúc không xa. Cô Chín trụ trì nơi đây là một cư sĩ đầy lòng nhân từ và hiếu khách. Cô bảo chúng tôi gởi hành trang cho cô giữ trong khi lo giùm cơm chiều để chúng tôi đi thăm ngay các nơi cần thiết cho kịp giờ. Ba Chúc là một vùng có rất nhiều chùa và chùa nào cũng rộng rãi đồ sộ. Chúng tôi đến viếng và lễ Phật tại Linh Bửu Tự trước rồi ra phía sau chùa thăm Thủy Đài Sơn. Thủy Đài Sơn chỉ là một quả núi nhỏ xinh xắn như một hòn non bộ lớn. Xung quanh núi có các thung lũng sâu. Đuợc biết cứ vào mùa nước nổi, Thủy Đài Sơn như trầm mình dưới nước trông vẻ thật ngộ nghĩnh.

Rời Thủy Đài Sơn, chúng tôi leo lên Liên Hoa Sơn (tức Núi Tượng). Ngọn núi nhỏ nầy từng in dấu vết và chứng kiến bao cảnh tang thương của các nạn nhân do giặc Khmer Đỏ gây nên năm 1978. Ngoằn ngoèo qua các lối đi hiểm hóc, chúng tôi đến viếng Cửu Trùng Đài của Cao Đài Giáo – một kiến trúc đã bị giặc tàn phá, chỉ còn lại những tường đá điêu tàn và hình như còn phuởng phất đâu đây những oan hồn uổng tử đã bị giặc giết chết tập thể. Chúng tôi xuống Liên Hoa Sơn, dừng chân giải khát tại nhà của một đạo tâm rồi về chỗ trọ tắm rửa, giặt giũ và dùng cơm chiều. Cơm xong, tranh thủ thời gian chúng tôi đi thăm Tam Bửu Tự, Nhà Mồ Tập Thể Phi Lai Tự trong lúc trời đang sụp tối.

Bước vào Tam Bửu Tự, chúng tôi được một bà trù phòng (nhà bếp) vồn vã đón tiếp và hỏi đã dùng cơm chưa để bà đi dọn. Cử chỉ hiếu khách đó khiến chúng tôi rất cảm động – đồng đạo Giáo Sanh luôn nhắc nhở tán thán lòng tốt của bà trong suốt cuộc hành trình. Kế tiếp, chúng tôi nhanh chân ra thăm Nhà Mồ Tập Thể phía trước chùa. Những chiếc đầu lâu, những ống xương khô được sắp xếp thứ tự trong nhà kiếng đã cho chúng tôi ấn tượng về thân phận con người. Chúng tôi quán nghĩ mọi người còn sống đi đứng đó đây rồi cũng phải trở thành thân tàn cốt rụi như những mảnh xương trong lồng kiếng kia. Hình hài nào cũng do tứ đại duyên hợp tam bợ, luôn luôn bị vô thường chi phối để kết cuộc, đất nước gió lửa sẽ phải trả về cho đất nước gió lửa ! Vậy thì có lý nào chúng ta mãi mãi đắm say, bám víu cái giả tạm mà không biết sớm phát tâm tu hành để thoát khổ, để sớm trở về với cái thật tướng chơn hằng ? Chúng tôi xúc cảm cầu nguyện trước Nhà Mồ cho các vong linh bạc phận được thoát chốn mê đồ mà vãng sanh về Phật quốc.

Phi Lai Tự là điểm chót mà chúng tôi định thăm lướt qua vì trời đã tối. Chùa không có điện, chỉ có những chiếc đèn dầu leo lét trên các bàn thờ. Ông từ thấy chúng tôi đến viếng chùa bèn bưng đèn ra mời vào. Chúng tôi lễ Phật, lễ các bàn thờ chánh trong chùa trong khi cảm thấy có mùi khăn khẳn của xác chết lâu ngày. Ông từ cho biết trong chùa nầy có khoảng 400 người vào ẩn trú đều bị giặc Miên (Khmer Đỏ) tàn sát! Riêng trong hầm bên dưới Bàn Thờ Phật Tổ đã có 40 người chết. Các xác chết vẫn còn in dấu lòng bàn tay, lòng bàn chân hoặc cả thân người trên các bức tường trong chùa mà được cạo rửa vẫn chưa hết. Chúng tôi lom khom bưng các chong dầu do ông từ trao cho để đi rọi xem. Dưới ánh sáng lờ mờ của các chiếc đèn dầu mà chúng tôi cũng nhận thấy rõ các dấu vết đó.

Ôi, hận thù và bạo ác! Chính các ngươi đã khiến con người mất hết lương tri và biến thành loài thú dữ nhất trên đời ! Chúng tôi thầm cầu nguyện nhân loại sớm nhận chân kẻ thù đích thực của mình: chúng không phải là con người bằng da bằng thịt mà chính là lòng hận thù và bạo ác. Tận diệt hận thù và lòng bạo ác thì con người không phân biệt chủng tộc nhất định sẽ được cùng sống an vui, nhất định không trở thành loài thú dữ.

Chúng tôi quay về ngôi cổ miếu nghỉ đêm và cầu nguyện. Đúng 2 giờ khuya, chúng tôi đồng thức dậy tọa thiền niệm Phật để tâm hồn thanh tịnh và đàm luận đạo đức cho đến thời cúng sáng. Cô Chín trụ trì ngôi cổ miếu rất mến hạnh đức của đoàn chúng tôi. Một nữ Phật tử lữ hành (tên Lê Thị Nước ở Tân Châu) cùng nghỉ đêm nơi đây cũng thức dậy tham gia đàm luận với chúng tôi. Trong tinh thần bồ tát hạnh, đồng đạo Tư Xinh và Giáo Sanh đề nghị chúng tôi hợp thành một liên danh 12 người phát tâm tu vãng sanh Cực Lạc và lập nguyện rằng người vãng sanh trước không quên độ người còn lại không ngừng tu tiến để cùng gặp nhau nơi Phật quốc. Chúng tôi cùng nhất trí !

TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG VIẾNG THIÊN CẤM SƠN.

Ngày 10-7 âl lúc 6 giờ rưỡi sáng chúng tôi sẵn sàng rời ngôi cổ miếu để đi đến Thiên Cấm Sơn (Núi Ông Cấm). Chúng tôi lội bộ trên lộ trình dài 7 km mà không biết mệt. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đến sườn Tây Thiên Cấm Sơn. Đây là một quả núi lớn nhất của Thất Sơn và cũng nổi tiếng là linh thiêng và huyền bí nhất. Thiên Cấm Sơn gồm có 5 vồ đá lớn được gọi là năm non: Vồ Đầu, Vồ Bướm, Vồ Bồ Hông, Vồ Cấm và Vồ Thiên Tuế.

1. Viếng Vồ Đầu:

Chúng tôi leo lên sườn Tây Núi Cấm (dân gian gọi là Núi Ông Cấm) và viếng Vồ Đầu trước. Kỉnh lễ chư thần ải địa đầu xong, chúng tôi nghỉ chân, phóng tầm mắt về đất Miên xa thẳm thấy đồi núi chập chùng và dãy Tà Lơn mờ trong sương sớm.

Chúng tôi tiếp tục lộ trình đến Điện Cửu Phẩm. Đó là một điện đá uy nghi xinh đẹp. Khi chúng tôi đến thì đã có mặt một số khách hành hương tới trước đó tự bao giờ. Chúng tôi trang nghiêm làm lễ chư thần rồi tiếp tục đi. Chúng tôi lần lượt viếng qua Điện Dương Tiễn, Hang Trầm Hương (Hang Thơm), Vồ Tứ Thiên Vương và cuối cùng lên đến đỉnh cao của Vồ Đầu. Chúng tôi dừng chân giải khát rồi thọ thực tại một quán nước nơi nầy. Gió sáng trên độ cao thật mát khiến chúng tôi lấy lại được sức khỏe và cảm thấy tinh thần vững vàng. Chúng tôi tiếp tục đến Điện Kín 13 tầng, làm lễ ra mắt chư thánh thần sở tại rồi chuẩn bị đi xuyên qua hang 13. Đây là một hang đá dài, quanh co, thiếu ánh sáng; khách xuyên qua hang cần chuẩn bị tinh thần và tư thế theo sự chỉ dẫn của người hướng đạo. Chúng tôi đi xuyên qua hang trong tinh thần khám phá và hâm mộ chốn huyền linh. Hang thật chật hẹp, có nhiều chỗ cần phải uốn mình, lốc thân qua. Vào đến một bùng binh giữa hang, đồng đạo Tư Xinh đề nghị cả đoàn nên chọn thế ngồi hoặc đứng thoải mái để thiền định. Chúng tôi lặng yên, nhiếp tâm vào sáu chữ Di Đà, xua đi hết mọi vọng niệm thế gian. Tâm hồn chúng tôi trở nên định tĩnh, thoải mái và nhẹ nhàng hạnh phúc. Rồi chúng tôi tiếp tục ra khỏi miệng hang; phút chốc chúng tôi nhận được ánh sáng bên ngoài rọi vào như ánh đèn sáng trong đêm. Chúng tôi tự dưng cảm thấy mình đã lập xong một thành tích !

Tiếp tục cuộc hành trình, chúng tôi đi xuống thung lũng để sang qua một vồ khác. Dưới lòng thung lũng là con Suối Tiên, nước chảy róc rách quanh năm. Chúng tôi dừng chân, kẻ tắm, người rửa mặt để lấy lại sức. Rời Suối Tiên, chùng tôi đến Vồ Bạch Tượng lúc 1 giờ 30 phút trưa, viếng Điện Kín Ông ThẻHang Ông Hổ bên cạnh, thăm Điện Đôi (gồm hai hang Bát Tiên và Bạch Hổ), rồi viếng Giếng Bích Thủy.

2. Viếng Vồ Bướm:

Rời khỏi Vồ Đầu, chúng tôi đi qua địa phận Vồ Bướm (hay Non Bướm). Đầu tiên chúng tôi viếng Vồ Đá Dựng, Điện Đá Dựng rồi Động Thủy Tiên. Tại Động Thủy Tiên có một thác nước xinh đẹp mà khách du sơn không ngang qua đây là điều thiếu sót. Chúng tôi lội sâu vào dòng thác nầy tắm rửa. Nước thác từ cao đổ xuống ầm ầm, sùi bọt mát mẻ. Động Thủy Tiên cũng có một “bàn chân tiên” dài 4 tấc, in sâu xuống mặt đá độ 2 phân.

Chúng tôi rời khỏi Động Thủy Tiên thì trời vừa sụp tối. Chúng tôi được đồng đạo trưởng đoàn dẫn đến chỗ trọ đêm: nhà Thầy Thiện Huệ. Nơi đây, “trù phòng” của đoàn là cô Út Ngộ cùng một đồng đạo khác đã đến trước để lo cơm chiều. Thầy Thiện Huệ là một Phật tử xuất gia tu gần 30 năm trên núi. Thầy rất vui vẻ, tử tế, đón tiếp chúng tôi ân cần niềm nở. Nơi Thầy tu không phải là cảnh chùa mà chỉ là một ngôi nhà khá rộng, có gác cao để thờ Phật, tọa lạc giữa một khu vườn rộng hai mẫu. Thầy cho biết nơi đây có thể chứa được vài trăm người nghỉ đêm miễn phí với tiện nghi khá đầy đủ. Tuy nhiên, gần đây chánh quyền địa phương có tạo chỗ nghỉ, quán ăn, nhà hát… để đón tiếp khách hành hương và du lịch nên nhà của Thầy không còn được phép chứa khách nghỉ đêm nữa. Thầy đề nghị chúng tôi nên dùng cơm sớm rồi cử người đi đăng ký xin lưu lại nhà Thầy đêm nay xem sao. Dùng cơm xong, hai đồng đạo Tư Xinh và Giáo Sanh góp mỗi người 20 đồng kèm danh sách nghỉ đêm tại nhà Thầy Thiện Huệ đến Chùa Phật Lớn (là trụ sở của Công an) để xin phép. Thầy Thiện Huệ không nghĩ chúng tôi được chấp thuận nhưng chúng tôi tin tưởng nơi “miệng lưỡi Tô Tần” của đồng đạo Tư Xinh… Thật vậy, nhờ tài khéo nói của hai đồng đạo Tư Xinh và Giáo Sanh mà chúng tôi được Công an thuận cho nghỉ đêm vui vẻ tại nhà Thầy Thiện Huệ.

Sáng hôm sau, chúng tôi thức dậy công phu khuya, chuẩn bị cơm nước và lên đường sớm. Thầy Thiện Huệ chúc lành chúng tôi và mong muốn chúng tôi đi vãng cảnh xong, trở lại nghỉ thêm một đêm nữa tại nhà Thầy. Hôm nay, đoàn 11 người của chúng tôi nhận thêm 6 đạo hữu khác xin gia nhập – trong đó có một ni cô đang tu tại Cai Lậy (Tiền Giang).

Trên đường đi, chúng tôi dừng chân lễ Phật tại chùa Ông Ba thuộc phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Trước chùa nầy có một cây cổ thụ, gốc to đến hai người vòng tay ôm mới giáp.  Xong, chúng tôi ghé qua chùa Phật Lớn lễ Phật và mua một ít lương thực mang theo đường.

3. Viếng Vồ Bồ Hông:

Từ Chùa Phật Lớn chúng tôi trực chỉ Vồ Bồ Hông – đỉnh cao nhất của Thiên Cấm Sơn. Sáng nay khách hành hương có mặt nơi đây rất đông. Sát đỉnh Vồ là một  vách đá thật dốc. Trước kia bác vật Lang đã thám địa huyệt nơi nầy; hiện nay miệng địa huyệt đã bị bít kín. Câu chuyên khám địa huyệt của nhà bác vật lừng danh nầy rất dài và chứa đầy màu sắc huyền bí. Chúng tôi lễ kính chư thánh thần xong rồi cáo từ để bắt đầu viếng thăm nhiều nơi khác hầu kịp giờ viếng Vồ Cấm trong ngày.

Trên đường di chuyển, chúng tôi ghé làm lễ tại Đền Thờ Vồ Pháo Binh. Đây là điểm cuối của một truc lộ xe hơi từ đồng bằng chạy lên trong thời chiến. Tiếp tục, chúng tôi đến Vồ Bà – đỉnh cao thứ hai của Thiên Cấm Sơn, Điện Rau TầnĐiện Tam Thanh. Điện Rau Tần là một trong những điện đá uy nghi, có những cây dông đồng đưa nhánh để khách có thể leo lên đỉnh cao rất xinh đẹp.

Cuộc du hành hôm nay càng thêm hào hứng, vì cứ mỗi điểm nghỉ chân đều được đồng đạo Tư Xinh thuyết một thời pháp ngắn đầy xúc cảm, rung động lòng người, dễ khiến người nghe phát tâm và tinh tấn tu hành.

Chúng tôi đến Chùa Phật Nhỏ (tức Thất Bửu Tự) thì trời đã xế bóng. Định đi lướt nhanh qua đây để kịp thăm Vồ Cấm nhưng hình ảnh Đức Phật có sức giữ chân chúng tôi ghé chùa lễ Phật trước khi qua khỏi nơi nầy.

4. Viếng Vồ Cấm:

Từ Chùa Phật Nhỏ đến Vồ Cấm, đường đi quanh co hiểm hốc. Vồ Cấm, đúng như cái tên gọi nó, là một nơi u tịch nhất của Thiên Cấm Sơn. Nơi nầy nổi tiếng là vùng linh thiêng, nơi tuyệt đối không thể chụp được hình (máy chụp không có ảnh) và bom rơi cũng không nổ. Do đó, khách hành hương hâm mộ dù khó khăn mấy cũng muốn đến viếng Vồ nầy, thậm chí còn muốn nghỉ đêm tại đây để chiêm ngưỡng tính huyền bí và bày tỏ lòng hâm mộ của khách đối với cảnh núi non.

Chúng tôi lên đến đỉnh Vồ Cấm khoảng 3 giờ chiều, dọn bánh tét mang theo ra cúng và trang nghiêm làm lễ chư thánh thần. Tiếng cầu nguyện của đồng đạo Tư Xinh rung cảm và âm vang khắp cả núi đồi, chắc hẳn cảm ứng đến người khuất mặt. Làm lễ xong, chúng tôi chia bánh tét ăn thì trời bắt đầu vần vũ, rồi mưa bắt đầu nặng hột. Trời không có tiếng gầm nhưng bỗng một tiếng sét nổ long trời, ánh sét tạt thẳng vào mặt chúng tôi như phép mầu của Đức Ngọc Đế xé toang đi màn vô minh của những người mộ đạo.

Phút chốc mưa tạnh hẳn. Chúng tôi xuống thăm Điện Chư Thần gần đó rồi xuống Vồ đến Chùa Phật Nhỏ ăn cơm nước, cũng định tắm rửa và nghỉ đêm nơi đó. Nhưng không. Đêm nay gió núi thổi vèo vèo, mưa rơi lắc rắc. Dưới mưa có một đoàn người du sơn hành hương trên 20 người dùng cơm xong tại chùa Phật Nhỏ, âm thầm đi về Vồ Cấm nghỉ đêm tại chốn u tịch đó.

Trưởng đoàn Tư Xinh chiều nay bị cảm nắng nên có vẻ uề oải nhưng không bỏ lỡ dịp đàm đạo với các thành viên của đoàn trong đêm. Đồng đạo Tư Xinh nói chuyện hùng biện, duyên dáng và thắm tình đạo đức nên có sức mạnh lôi cuốn người nghe không biết mỏi mệt. Lời của đồng đạo có công năng lớn: ai chưa tu đều muốn phát tâm tu, ai đã tu đều tăng thêm phần tinh tấn.

Trên Đường Xuống Núi:

Như đã nói, đồng đạo trưởng đoàn mệt vì cảm nên có ý sáng sớm ngày 12-7-87 đưa đoàn xuống Dầy-Đét để đón xe ra viếng Thới Sơn (Núi Két). Nhưng nữ đồng đạo Út Ngộ mà chúng tôi dí dỏm gán cho danh hiệu “người trù phòng” của đoàn và “thị giả” của trưởng đoàn nhất quyết yêu cầu viếng thêm Vồ Thiên Tuế và Vồ Cây Quế. Theo cô, hai nơi nầy không thể thiếu trong một chuyến du sơn. Cô Út Ngộ là một đạo tâm hiếm có thuộc phái nữ. Cô luôn luôn có nhã ý mong muốn các đạo hữu trong đoàn biết thêm nhiều nơi cần thiết mặc dầu nơi đó cô đã từmg viếng qua (vì cô đã từng viếng núi nhiều lần). Ý kiến của cô được cả đoàn tán thành nên đồng đạo trưởng đoàn phải chiều theo. Do đó, ngày 12-7 âl dùng cơm sáng xong lúc 6 giờ, trên đường xuống núi, chúng tôi được hướng dẫn viếng Vồ Thiên Tuế (Vồ còn lại của Năm Non) và viếng thêm Vồ Cây Quế - vồ địa đầu của tuyến đường từ Dầy-Đét lên núi.

5. Viếng Vồ Thiên Tuế: Một Thắng Cảnh Bậc Nhất Của Thiên Cấm Sơn

Trên đường đến Vồ Thiên Tuế, chúng tôi ghé viếng và kỉnh lễ Đền Thờ Diêu Trì Kim Mẫu (thuộc Cao Đài Giáo). Đồi Thiên Tuế quả là một thắng cảnh bậc nhất của Thiên Cấm Sơn. Còn 500 mét nữa lên tới đỉnh Vồ, chúng tôi đi trên một quãng đường trống bằng phẳng, hai bên lề đường đầy hoa dại, sum sê cây thiên trúc và lác đác những bụi thiên tuế. Gần đền Vồ, hiện dưới mắt chúng tôi một sân hoa rực rỡ chen lẫn bên các bụi thiên tuế xanh dưới nắng sớm. Phóng tầm mắt qua hai bên đường, chúng tôi còn thấy phong cảnh như hai bức tranh tuyệt tác khổng lồ sau làn sương mỏng; xa xa có núi, có sông, có đồng bằng xanh thẳm. Lên đến đỉnh Vồ lúc 7 giờ 15 phút sáng, sau khi lễ kính, chúng tôi thỏa thích ngắm cảnh thiên nhiên. Nhìn về hướng Đông Bắc, chúng tôi thấy dòng sông Cửu Long trắng xóa và những con kinh, con rạch như những mạch máu mang nước đi nuôi khắp các ruộng đồng. Chúng tôi cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng thoải mái, tiêu diêu lạc đạo.

Chúng tôi rẽ sang thăm giếng nước Vua Gia Long. Tương truyền nơi nầy vua Gia Long từng dừng quân nghỉ. Vì trên núi cao thiếu nước nên nhà vua khẩn nguyện rồi dùng thanh gươm cắm sâu xuống mặt đá vạch thành các miệng giếng rộng từ 2 đến 3 mét và sâu độ 2 mét. Do đó, binh sĩ nhà vua có đủ nước dùng và khách du sơn về sau cũng được hưởng những mạch nước trong sạch quanh năm khi cần.

Sau đó, chúng tôi đến kỉnh lễ Đền Thờ Thiên Tuế và viếng Vồ ghế thiên tử với những tảng đá có hình chiếc ghế bành lật nghiêng lật ngữa.

Viếng xong Vồ Thiên Tuế, chúng tôi thẳng đường xuống Bến Su (Dầy-Đét). Dừng chân tại Điện Sơn Thần, chúng tôi làm lễ từ giả Thiên Cấm Sơn rồi ra thẳng Suối Thanh Long.

Viếng Vồ Cây Quế: Cái Bao Lơn Của Sườn Đông Thiên Cấm Sơn.

Sau khi nghỉ chân 10 phút bên dòng Suối Thanh Long, chúng tôi leo lên viếng Vồ Cây Quế. Đây là một vồ đá cao hiểm hóc. Chúng tôi phài len qua một vách đá cao gần thẳng đứng trước khi lên đến đỉnh Vồ. Đứng trên vồ cao nhìn về phía Lâm Viên và chợ Dầy-Đét, chúng tôi có cảm tưởng như đứng trên bao lơn của sườn Đông quả núi. Sau khi lễ kính chư thần, chúng tôi ngồi thiền định tại đây 15 phút. Nghỉ ngơi, ngắm cảnh và nghe đồng đạo Tư Xinh đàm luận đạo đức gần một giờ đồng hồ, chúng tôi trở lại chỗ cũ bên dòng Suối Thanh Long. Sau đó, chúng tôi  thẳng hướng Bến Su để ra lộ xe dưới đất bằng.

TRÊN ĐƯỜNG ĐI VỀ THỚI SƠN TỰ (ANH VŨ SƠN).

Từ chợ Dầy-Đét, chúng tôi định đón xe đò đi ra chợ Nhà Bàn để đến Thới Sơn Tự. Nhưng vì xe đò cho giá quá cao nên đồng đạo trưởng đoàn quyết định đi bộ ra chợ Chi Lăng cách đó 4 cây số để tiết kiệm phí tổn cho đoàn. Vì quen mấy ngày đi núi nên mọi người đều vững chân, đi bộ giỏi hơn trên thế đất bằng. Chiếc xe đò mất dịp rước khách nên chạy theo cho giá hạ xuống sau khi chúng tôi đi được một quãng xa... Đồng đạo trưởng đoàn muốn mọi người giữ chữ “tín” cho chính mình nên cương quyết lội bộ. Chẳng mấy chốc chúng tôi đến chợ Chi Lăng rồi đáp xe đò đi Nhà Bàn. Xuống xe trước ngõ vào xã Thới Sơn, chúng tôi ghé viếng và kỉnh lễ Đình Thần lúc 2 giờ 15 phút chiều rồi đi thẳng vào Thới Sơn Tự. Trên đường, chúng tôi còn ghé thăm hồ nuôi “Sấu Năm Chèo” của Ông Đình Tây, viếng mộ Ông Bùi Tăng Chủmộ ông bà Đình Tây. Ông Tăng Chủ và ông Đình Tây là 2 trong số 12 đại đệ tử (thập nhị hiền thù) của Đức Phật Thầy Tây An thuở trước. Câu chuyên ông Đình Tây nuôi “Sấu Năm Chèo” bị Phật Thầy quở trách nhưng ông vẫn lén nuôi để sấu lớn lên vượt hồ đi mất… vẫn còn là câu chuyện hấp dẫn mọi người.  Phật Thầy trao cho ông Đình Tây 2 cây lao, 1 dây mun, 1 lưỡi câu bắc cùng sợi nhợ để sau nầy bắt sấu là mẩu chuyện rất huyền bí. Các hiện vật nầy hiện các hậu duệ của ông Đình Tây vẫn còn cất giữ.

Chúng tôi đến Thới Sơn Tự khoảng 3 giờ chiều, đến vấn an bà Chín trụ trì, gởi hành trang, tắm rửa rồi đến thăm Trại Ruộng của Đức Phật Thầy lúc 4 giờ 30 phút.

Thới Sơn Tự là một ngôi chùa cổ lớn, có sân rộng rãi, đủ chứa vài ngàn người vào ngày vía Đức Phật Thầy 12-8 âl hàng năm. Trải qua chiến tranh dai dẳng và sự thay đổi của thời cuộc mà ngôi chùa vẫn còn tương đối nguyên vẹn và sinh hoạt tương đối còn bình thường. Nhà chùa tiếp đãi khách thập phương rất ân cần; cơm nước và chỗ nghi ngơi rất chu đáo. Còn Trại Ruộng, nay là Chùa Phước Điền, cách Thới Sơn Tự 2 cây số, chính là nơi Đức Phật Thầy cùng các hiền thủ từng đến lập nghiệp và mở đạo khi xưa. Phước Điền vẫn là một ngôi chùa lá, chưa đủ tài chánh để trùng tu. Trước chùa vẫn còn cái giếng nước của Đức Phật Thầy mà nước giếng  được khách thập phương xem như là “nước phép trị bệnh”.

Sau khi thăm viếng, chúng tôi về nghỉ đêm và công phu đêm tại Thới Sơn Tự. Ngày 13-7 âl, sau thời công phu sáng, chúng tôi được Ban Trù phòng đãi cho bữa ăn sáng trước khi rời khỏi chùa. Đúng 5 giờ 30 phút sáng, chúng tôi trở ra Đình Thới Sơn, theo một ngả rẽ gần Đình để leo lên Anh Vũ Sơn (Núi Két).

Sườn Tây Nam Núi Két là một vùng vườn mãng cầu ta trù phú. Đất đai đều được cư dân khai khẩn trồng trọt nên không còn vẻ u tịch nữa. Chúng tôi đi theo lối mòn, len qua các ghềnh đá đến viếng Điện Bà (cũng gọi là Điện Dơi), Điện Ông (thờ Quan Thánh Đế Quân) và Điện Năm Ông.  Điện nào cũng có các vồ đá lớn nhô ra trông thật uy nghi. Sau đó, chúng tôi lên thăm Sân Tiên, đỉnh cao nhất của Anh Vũ Sơn,  lúc 7giờ 30 phút. Dừng lại trên Sân Tiên 30 phút, chúng tôi được đồng đạo Tư Xinh thuyết cho một thời pháp cuối trước khi chia tay. Tiếng đồng đạo âm vang vào lòng mọi người, nhắc nhở khách hành hương các nguyên nhân khiến ta hâm mộ chốn núi đồi và nhắn nhủ những điều cần làm của một người đã phát tâm tu cầu giải thoát. Mọi người trong đoàn đều xúc động chia tay sau một chuyến du sơn đầy lợi lạc.

Trên đỉnh núi, chúng tôi nhìn thấy cảnh đồng bằng phía Nhà Bàn như một bức tranh tuyệt đẹp. Bên trái chúng tôi là Ngũ Hồ Sơn (Núi Dài Năm Giếng) và phía trước mặt là quả Núi Trà Sư cách không xa.

Trước khi xuống núi, chúng tôi còn tới thăm hai điểm chót: Vồ Ngọc HoàngĐiện Hàm Ếch – đều là những tác phẩm huyền diệu cùa Hóa Công.

Còn cách chân núi khoảng 100 mét thì một số khách đã tách khỏi đoàn. Riêng 18 người kết hợp từ núi Cấm (và thêm 2 đạo hữu mới gia nhập hôm nay) dừng chân nghỉ để nói lên những lời từ giả đầy cảm động. Chúng tôi không thể ngờ tình cảm chan chứa trong lòng của các huynh đệ cùng Thầy Tổ gắn bó nhau đậm đà đến nỗi phải bộc lộ ra bằng những giọt lệ chia tay !

Ra tới chợ Nhà Bàn, dừng chân đợi lên xe đến chợ Châu Đốc, chúng tôi lại gặp thêm một dịp may hy hữu nữa: vào nhà cháu ngoại Ông Đình Tây (tại Bến Xe Nhà Bàn) xem tận mắt những di vật  mà Đức Phật Thầy Tây An trao cho Ông Đình Tây để bắt “con sấu năm chèo” như đã nói trên.

TỪ CHÂU ĐỐC, TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG VỀ NHÀ.

Chúng tôi ra đến chợ Châu Đốc lúc 1 giờ 13 phút chiều và cỡi xe đạp thong dong trên tuyến đường liên tỉnh Châu Đốc – Long Xuyên để về nhà. Trên đường về, chúng tôi định ghé thăm một số bạn đạo, thiện tri trức nên thì giờ không gắp gáp lắm.

Trước hết, chúng tôi ghé thăm đồng đạo Sáu T. – người bạn cố tri của đồng đạo Giáo Sanh – cách Châu Đốc 2 cây số. Gia đình đồng đạo Sáu tọa lạc trên một mẫu đất vừa vườn vừa ruộng. Vườn đầy cây trái và đặc biệt có hai vườn hoa kiểng thật đẹp. Chủ nhà đã phát tâm tu và trường chay lâu năm. Ông có có một cuộc sống rất thoải mài, an lạc và tính rất hiếu khách. Chúng tôi chỉ ghé vài phút sau thì vợ con của gia chủ đang làm lụng ngoài đồng đều tập trung về nhà lo tiếp khách – đó là thông lệ chớ không dành riêng cho đoàn chúng tôi. Và, chẳng mấy chốc, một mâm cơm chay thanh đạm, tươm tất được dọn ra đãi khách !

Cáo từ gia đình đồng đạo Sáu, chúng tôi lại tiếp tục đạp xe đi thăm các bạn đạo khác, mỗi nơi năm ba phút. Đến 6 giờ chiều, chúng tôi đến cầu chữ S (gần chợ Cái Dầu) rẽ vào thăm nhóm tu sĩ PGHH nổi tiếng trong lòng rạch nầy. Chúng tôi gởi xe đạp tại nhà Bác Tám Huệ - một tu sĩ trường chay rất tử tế - rồi đi cầu qua rạch để vào điểm muốn thăm viếng. Trước đây, tại địa điểm nầy có rất nhiều cốc của các nữ tu. Họ kết hợp thành một xóm đạo tương trợ, hướng dẫn nhau tu tiến. Nay theo chánh sách mới của Nhà Nước Cộng Sản, các cốc nầy được lịnh thu dọn, một số tu sĩ phải về gia đình, số ít còn lại biến thành các gia cư có đăng ký hộ khẩu sinh sống tại địa phương. Trong đó, gia đình chị Bảy Khôi là cái rún của xóm đạo.

Chị Bảy và các con đón tiếp chúng tôi rất lịch sự và thắm tình đạo. Chị đãi chúng tôi bữa cơm chay chiều rất thịnh soan, bánh trái dẫy đầy. Chị Bảy là hiền nội của cố đồng đạo Bảy Khôi – một cư sĩ PGHH đã vãng sanh năm 1980 với những chứng cứ rõ rệt. Chúng tôi được chị kể cho nghe trường hợp ra đi tốt đẹp và linh diệu của người chồng khiến chúng tôi thêm tinh tấn trên đường hành đạo. Sau khi lễ bái chiều tại nhà chị Bảy, chúng tôi sang nghỉ đêm tại nhà đồng đạo Tư Đô – cũng một gia đình PGHH tu hành rất tinh tấn và nồng thắm đạo vị. Người nhà đồng đạo Tư Đô chuyện trò thân mật và xem chúng tôi như bà con ruột thịt lâu ngày mới gặp lại.

Sáng sớm ngày 14-7 âl, chúng tôi từ giả gia đình đồng đạo Tư Đô để sang viếng thăm nữ tu Út Đồng – một tu sĩ có đạo hạnh và tinh tấn hàng đầu trong phái nữ mà chúng tôi được biết. Cô Út trạc trên 40 tuổi, tính tình điềm đạm, phong cách lịch sự, tiếp chúng tôi trong một túp lều lá nhỏ hẹp của cô. Ba tiếng đồng hồ trao đổi đạo đức với cô Út Đồng trôi qua mà chúng tôi tưởng như 1 giờ ngắn ngủi. Buổi họp mặt đã mang đến cho chúng tôi thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm thật chứng quý báu. Chúng tôi cáo từ người nữ tu với lòng kính mến. Chị Bảy Khôi mời chúng tôi quay lại nhà thọ thức sáng trước khi ra về.

Những chiếc xe đạp chúng tôi xuôi đường tráng nhựa hướng về Long Xuyên, lại tiếp tục ghé thăm một số bạn đạo khác trên tuyến đường, mỗi người vài phút để kịp giờ ghé viếng Từ Quang Tự (một ngôi chùa PGHH trong lòng rạch Thầy Phó, dưới bến bắc Năng Gù).

 Chúng tôi thật may mắn, vừa rẽ sang ngõ vào chùa thì gặp ngay Tu sĩ Út Kiệt, trụ trì Chùa Từ Quang, trên đường đạp xe đi ra. Tu sĩ thấy chúng tôi đường xa mà có lòng hâm mộ nên quay xe đạp trở lại để tiếp chúng tôi. Sau khi lễ Tam Bảo, Tu Sĩ mời chúng tôi ra nhà khách. Chúng ngỏ ý muốn nghe pháp. Tu sĩ chẳng những vui vẻ nhận lời mà còn tán thán tinh thần của chúng tôi – đường xa mà không quản ngại mất thời giờ. Tu sĩ hỏi chúng tôi có thể lưu lại chùa bao lâu và muốn trao đổi về đề tài gì.

Chúng tôi đề nghị Tu Sĩ giảng cho nghe 2 vấn đề:

1.    Tu như thế nào để công quả được thành tựu viên mãn trong một đời ?

2.    Làm thế nào để khỏi hôn trầm và tán loạn (vọng niệm) trong giờ tĩnh tọa ?

         Tu sĩ phân tích cho chúng tôi thấy rất rõ ràng và mạch lạc tính chất tối cần thiết của Tín-Nguyện-Hạnh của người tu Pháp Môn Tịnh Độ và khuyến tấn chúng tôi bằng những mẩu chuyện cổ kim để giúp chúng tôi hiểu biết cần thiết hầu củng cố đức tin, lập nguyện và tinh tấn hành trì viên mãn trong một đời. Kế tiếp, Tu Sĩ nói về việc ngăn hôn trầm và tán loạn theo bố cục: Tướng trạng - Nguyên nhân - Tai hại - Cách diệt trừ. Tu sĩ rất thông thạo vấn đề, nói chuyện đanh thép rõ ràng, lý luận vững vàng và thực tiễn. Nhờ thế mà chúng tôi đã tiếp thu thêm một số vốn kiến thức rất cần thiết được thuyết trực tiếp từ một hành giả, một liên hữu đi trước, vững chãi và đầy uy tín trên bước đường hành đạo.

         Ba tiếng đồng hồ nghe pháp qua thật mau. Chúng tôi cáo từ Tu Sĩ Út Kiệt và cảm tạ lòng ưu ái của Tu Sĩ đã giúp chúng tôi nhận một pháp bảo quý giá, lợi lạc trên bước đường tu tiến.

         Chúng tôi ra đến đường cái lúc 3 giờ chiều và đạp thẳng xe về nhà sau 8 ngày dành cho một chuyến du sơn mà kết quả lợi lạc ngoài sự mong cầu.

                                                    Hướng Dương

                                           Kỷ niệm chuyến thăm Thất Sơn

                                  Viết xong ngày 20 tháng 7 nhuần năm Đinh Mão

                                                       (12/9/1987)

 
 
Comments