9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 18‎ > ‎

17. Tìm Hiểu Tội Phước - Nguyễn Trung Hiếu

Tìm-hiểu về Tội Phước trong sinh-hoạt hằng ngày

         Nói đến tu hành là thông thường chúng ta nghĩ đến tội phước.  Nếu người tu mà cứ lao mình vào tội lỗi, ấy là người tạo tội chớ không phải là người tu hành.  Chúng ta biết rằng mọi sự an-vui và đau-khổ gốc từ tội phước mà sanh ra (do luật nhân quả: hễ làm lành hưởng phước, tạo ác mang tai, chẳng hề sai chạy).  Vì vậy, muốn thấu hiểu sự tu hành, chúng ta phải thấu hiểu tội phước.  Tội phước là những hành-động thiết-thực trong cuộc sống hằng ngày, chứ không phải là chuyện siêu-huyền mờ-ảo đâu đâu.  Thế nên, người tu hành phải thấu-đáo, phải phân-biệt rành-rẻ vấn-đề tội phước.

I.-       Thế nào là Tội ?

        Tội là hành-động làm cho mình và chúng-sanh đau-khổ trong hiện-tại và vị-lai.  Người làm tội cũng còn gọi là người dữ, người xấu, người ác.  Tội có hai loại:  Tội ngoài đời và tội trong đạo.

         Tội ngoài đời là những kẻ phạm luật pháp, bị bắt quản-chế hoặc bị tù đày đau-khổ.

         Tội trong đạo có hai loại:  Tội phạm giới, và tội làm đau-khổ chúng-sanh.  Đối với người tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo, sau khi đã quy-y trước ngôi Tam-Bảo nguyện trọn đời gìn-giữ tám điều răn cấm của Đức Huỳnh Giáo-Chủ, mà sau nầy không giữ được một hoặc nhiều điều, gọi là tội phạm giới.  Tại sao phạm giới gọi là tội ?  - Bởi vì trước mình đã nhận định những giới luật đó là hay là đúng, nếu giữ được sẽ lợi-ích cho mình và cho chúng-sanh, nên hứa-nguyện gìn-giữ.  Sau nầy mình không gìn-giữ, thế là đã phá-hoại sự lợi-ích của chính mình và của chúng-sanh nên phạm tội.  Thí dụ như người ham mê cờ bạc, á-phiện chẳng hạn.

         Còn tội làm đau-khổ chúng-sanh là gì ?  - Bất cứ một hành-động nào làm khổ cho người (hay sanh-vật) trong hiện tại hoặc vị lai đều là tội.  Bởi vì mình đã gây ra nhơn đau-khổ thì quả đau-khổ mình phải gánh lấy.  Do làm khổ mình khổ chúng-sanh nên gọi là tội.  Tội có tội nhẹ và tội nặng.

A.- Tội nhẹ

         Những điều làm đau-khổ cho người, cho chúng-sanh do thân, miệng chúng ta gây ra mà không cộng-tác với ý là tội nhẹ.  Bởi vì việc làm ấy là vô-tâm, hoặc không có ý-thức.  Việc làm vô-tâm, khi nạn-nhân cảm-thông được, họ sẽ bớt thù-hận, nếu họ đại-lượng thì có thể tha-thứ luôn.  Thí dụ, chúng ta đi bộ, có đứa bé cầm trái banh nhỏ (banh đánh baseball game) ném chơi, lại trúng vào chúng ta.  Nếu chúng ta biết nó không có ý ném mình, tuy đau điếng mà chúng ta không giận nó.  Thế nên, mọi hành-động bằng thân, bằng miệng làm đau-khổ người mà không có ý-thức là tội nhẹ, xin lỗi hoặc sám-hối sẽ hết.  Việc làm đau-khổ chúng-sanh chút ít cũng là tội nhẹ.

B.- Tội nặng

         Những điều làm đau-khổ cho người, cho chúng-sanh do thân, miệng cộng tác với ý của chúng ta gây ra là tội nặng.  Bởi vì việc làm ấy là có cố tâm, hữu ý, khiến người oán-giận không thể tha-thứ.  Thí dụ như có người cố tình đánh chúng ta, dù cái đánh ấy bị cản-trở, không chạm đến thân chúng ta, song biết kẻ ấy cố tình đánh mình, chúng ta cũng giận họ.  Vì thế, hành-động cố tâm, hữu ý là hành-động quan-trọng nên tạo thành tội nặng.

         Thế nên, tội xuất phát từ ba nghiệp của chúng ta.  Nơi thân: sát-sanh, đạo-tặc, tà-dâm.  Nơi miệng: Lưỡng-thiệt, ỷ-ngôn, ác-khẩu, vọng-ngữ.  Nơi ý: tham-lam, sân-nộ, mê-si.  Sự hợp-tác chặt-chẽ của ba nghiệp nầy là tội nặng.

         Bài LUẬN VỀ TAM NGHIỆP do Đức Giáo Chủ giảng-giải rất chi-tiết và rõ-ràng, trang 186-193 SGTVTB 2004.  Sau đây, xin tóm-lược các ý chánh trong bài LUẬN VỀ TAM NGHIỆP (sanh ra thập ác, hay là mười tội nặng) của Ngài:

1.   Thân Nghiệp:  Tội lỗi do xác thân gây ra.  Thân nghiệp sanh ra ba điều ác:

a)      Sát-Sanh (giết người, giết thú vật)

·        Người đối với người:  Giết nhau vì tiền bạc, vì sắc đẹp, vì lợi danh, vì quyền thế, vì thù hiềm, vì háo-thắng, v.v…

·        Người đối với sanh-vật:  Giết thú vật vì miếng ăn, vì sự dị-đoan mê-tín, vì sự vui-thích, v.v…

b)     Đạo-tặc (bất lương vô đạo)

·        Không làm muốn có ăn, không lo muốn có mặc.

·        Khoét vách, đào tường, cướp giựt.

·        Sống ngoài vòng pháp-luật, trốn-chui trốn-nhủi.

c)      Tà-dâm (hiếp-dâm, cưỡng-dâm, gian-dâm)

·        Giàu ỷ của hiếp-dâm kẻ khó.

·        Quan ỷ quyền cưỡng-bức dân hèn.

·        Gian-phu dâm-phụ.

2.   Khẩu Nghiệp:  Tội lỗi do miệng lưỡi gây ra.  Khẩu nghiệp sanh ra bốn điều ác:

a)      Lưỡng-thiệt (nói thêm bớt, đâm thọt hai bên để chia lìa, ly gián)

·        Gây ra sự hiểu lầm nhau, bất hòa, hiềm khích.

·        Gây ra những sự cãi vã, gây gổ sinh oán thù.

·        Tạo ra những sự chia rẽ, những cuộc phân tranh.

·        Phá tan sự đoàn-kết và tình thân-yêu giữa nhân-loại.

b)     Ỷ-ngôn (ỷ quyền, ỷ thế, ỷ tiền, ỷ khôn)

·        Chủ ỷ quyền mắng nhiếc tôi tớ.

·        Quan ỷ thế mắng chưởi dân ngu.

·        Kẻ giàu có ỷ thế xài xể người nghèo.

·        Kẻ xảo quyệt ỷ sự khôn lanh nói những điều thất thiệt.

·        Kẻ học thức ỷ sự khôn ngoan dùng lời nói hạ nhục người dốt nát.

c)      Ác-khẩu (thề thốt, lỗ mãng, hăm he, chưởi mắng tục tằn, trù rủa, kêu réo Phật Trời)

·        Con chưởi mẹ mắng cha, không kể luân-thường hiếu-thảo.

·        Mạnh bạo hăm he, đánh giết những kẻ yếu hèn.

·        Hiếp đáp xóm chòm cô bác.

·        Chưởi gió mắng mây, trù rủa gia-đình, không kiêng Thần Thánh, kêu réo Trời Phật.

d)     Vọng-ngữ (thêm thừa huyễn-hoặc, có nói không, không nói có)

·        Gây ra những sự bất công.

·        Giấu giếm sự quấy, thêu-thùa sự tốt.

·        Đặt điều nói xấu, che đậy các điều phải của người khác.

·        Khoe-khoan tự-đắc, xảo-trá đa-ngôn.

3.   Ý Nghiệp:  Tội lỗi do ý-tưởng gây ra.  Ý nghiệp sanh ra ba điều ác:

a)      Tham-lam (tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế)

·        Gây nên những thảm-họa tầy trời:  cướp của giết người, hối lộ, chiến tranh, v.v…

·        Làm cho nhân-loại điêu-linh.

·        Làm cho con người đau buồn, hận khổ.

·        Cấu xé lẫn nhau, nồi da xáo thịt, tương sát tương tàn.

b)     Sân-nộ (tánh nóng nảy)

·        Làm những chuyện bất công sái phép, chém giết oán-thù nhau.

·        Cuồng trí, mất tự chủ, dữ-dằn bạo tợn.

·        Chẳng còn nghĩ đến việc công-bình, lẽ phải trái.

c)      Mê-si (do sự thiếu óc phán-đoán, thiếu sự suy-nghĩ mà ra)

·        Không phân biệt được lẽ phải trái.

·        Bo-bo giữ thiển kiến sai lầm.

·        Chẳng chịu nhìn-nhận chân-lý.

·        Cả đời ngu-muội.

·        Chỉ biết tin bướng làm càn.

II.-    Thế nào là Phước ?

         Phước là những hành-động đem lại sự an-vui cho mình, cho người ở hiện tại và mai kia.  Người làm phước cũng còn gọi là người lành, người tốt.  Bởi vì những hành-động đem lại sự an-vui cho người, người sẽ quí mến.  Chúng ta giúp-đỡ hoặc an-ủi khiến người được an-vui, người thù đáp lại chúng ta bằng cử-chỉ biết ơn, vui-vẻ, quí mến, đó là làm phước gặp phước.  Vì vậy, người biết làm phước, hiện tại được an-vui, mai sau vẫn an-vui.  Làm phước có hai thứ:  Phước hữu lậu, và phước vô lậu.

A.- Phước hữu-lậu

         Làm cho mình, cho người an-vui tương-đối trong vòng sanh tử là phước hữu-lậu (còn gọi là phước-báu thế-gian).  Do ba nghiệp chúng ta hoạt-động đem lại sự an-vui cho người, chính hành vi ấy là sanh diệt giới-hạn, còn trong vòng sanh tử hiện tại cũng như mai sau.  Chúng ta phải nỗ-lực tạo điều-kiện cho mình và mọi người thường được an-vui.  Muốn thực-hiện được việc đó, ngay nơi ba nghiệp chúng ta phải ứng-dụng các điều nầy (tức là hành 10 điều thiện):

1.   Về Thân:  Tu phước ở thân phải tập ba điều nầy:

a)  Cứu mạng:  Chúng ta phải sẵn sàng cứu giúp, bảo-vệ sinh mạng người.  Nếu nhận thấy người gặp tai-nạn sắp mất mạng, theo khả-năng của mình, chúng ta phải tận-tâm cứu giúp.  Giải-cứu cho người thoát chết, hoặc ngăn-ngừa những sự việc có thể làm nguy-hiểm đến sinh mạng người, đó là việc làm phước của thân.  Bởi vì sinh mạng đối với con người là tối thượng, cho nên ai giải-cứu họ khỏi chết, lòng an-vui và biết ơn vô kể.

b)  Bố-thí:  Sẵn sàng cứu giúp người khi gặp cảnh cơ-hàn nguy-khốn.  Nỗi khổ đói rét cũng đe dọa sinh mạng, người đang lâm vào cảnh khổ nầy, nếu được cứu giúp, họ cũng vui mừng vô hạn.  Chúng ta muốn được an-vui thì phải sẵn sàng mang sự an-vui bủa khắp mọi người, đó là nền tảng phước đức.  Hạnh-phúc không phải đến riêng với chúng ta, mà do sự thù đáp từ hạnh-phúc của mọi người mang lại.  Chúng ta đừng dại khờ, cứ bo-bo giữ lấy tài-sản vô-thường làm của riêng mình, cần phải ban-bố cho những người thiết-tha cần nó.  Những cái vô-thường mà cứ giữ, có ngày sẽ khổ-đau khi nó không còn ở trong tầm tay của mình nữa.  Mượn của-cải vô-thường làm phương-tiện an-vui cho người, nguồn an-vui ấy sẽ trở về với chúng ta một cách bền vững lâu dài, như Đức Thầy đã từng dạy:

                         “Những người có của tiền dư,

                      Hãy nên bố-thí dành tư làm gì.”        (trang 100 SGTVTB 2004)

c)   Trinh-bạch:  Cần phải giữ hạnh trung-thành trinh-bạch.  Người biết đạo lý chẳng những không dám xâm phạm đến danh giá và hạnh-phúc gia-đình người, mà còn phải trung-thành trinh-bạch với gia-đình mình.  Tinh-thần trung-trinh ấy giúp cho người trong gia-đình tín-cẩn lẫn nhau.  Do sự tín-cẩn nhau nên trong gia-đình được sự an-vui.  Trong gia-đình đã thế, chúng ta cần nhắc-nhở, chỉ dạy cho mọi người chung quanh đều tập theo hạnh trung-trinh nầy.  Được thế, sự an-vui không những chỉ ở trong phạm vi gia-đình, mà còn tràn lẫn đến xã-hội nữa.

2.   Về Miệng:  Tu phước ở miệng phải tập bốn điều nầy:

a)  Nói hòa-thuận:  Nói hòa-thuận để đem lại tình đoàn-kết cho mọi người.  Tất cả lời nói phân-ly, chia-rẽ đều tạo nên nỗi thống-khổ cho con người.  Chúng ta đã không làm thế, mà luôn luôn dùng lời hòa-thuận để hàn-gắn lại những mối-tình đã rạn-nứt.  Ngôn-ngữ chúng ta phát ra đều đem lại tình-thương gắn-bó cho mọi người.  Thấy đâu có sự rạn-nứt, có mầm tan-rã, chúng ta đều nỗ-lực dùng lời hòa-thuận làm chất keo để hàn-gắn lại.  Lời nói cần phải thành-thật và chánh-đáng.  Tận dụng ngôn-ngữ mình để đem lại tình đoàn-kết, an-vui cho nhân-loại.

b)  Nói đúng lý:  Chúng ta cố-gắng nói ra lời đúng lý.  Nói đúng lý để mọi người nhận được lý-lẽ chân-chánh.  Chúng ta phải dùng lời đoan-trang, bình-đẳng, và không bao-biếm (tức là không khen chê nhạo-báng) để tạo nhân thiện.

c)   Nói nhã-nhặn, thanh-bai, hiền-đức:  Mọi sự căm-phẩn, bực-tức đều làm cho người đau-khổ.  Chúng ta tập nói nhã-nhặn là làm dịu mọi sự bực-dọc của người.  Lời nói nhã-nhặn khiến người dễ mến và vui-vẻ.  Muốn đem lại sự an-vui cho chúng-sanh, không có lý-do nào lại dùng lời thô-ác.  Chúng ta phải luôn luôn dùng lời nhã-nhặn đối với mọi người.

d)  Nói chơn thật:  Dùng lời chơn thật, không nên thêm bớt hầu làm sáng tỏ mọi chỗ ngờ vực của người.  Nói chơn thật để đem lại niềm tin-tưởng cho người.  Bất cứ ở trường hợp nào, chúng ta cũng phải cố-gắng nói lên lẽ thật, phát ngôn lúc nào cũng hợp với sự thật.  Chơn-thật là nguồn gốc tin yêu nhau, do đó, mọi sự mến-thương được bền-bỉ.  Đức Thầy dạy rằng:

                     “Nói những điều đức-hạnh hiền-lương,

          Chớ thêm bớt mà mang tội lỗi.”          (trang 137 SGTVTB 2004)

3.   Về Ý:  Tu phước ở ý phải tập ba điều nầy:

a)  Có lòng bố-thí:  Nỗi khổ của chúng-sanh ngập trời đều do lòng tham-lam ích-kỷ của con người tạo nên.  Chúng ta phải tận lực gây dựng tình-thương qua hạnh bố-thí, vị-tha để giảm thiểu nỗi đau-khổ của chúng-sanh.  Đức Thầy dạy rằng:

                     “Nếu đã xả thân tầm đạo-đức,

         Mở lòng bố thí ngộ thần ca.”              (trang 320 SGTVTB 2004)

b)  Hạnh nhẫn-nhục:  Tập tánh nhẫn-nhục để chịu đựng mọi cảnh  ngang trái mà không sanh sân-nộ.  Có nhẫn-nhục, chúng ta mới giữ được tình thương lâu dài đối với chúng-sanh, như Đức Thầy đã dạy:

                     Sân-si phỏng có điều thêm bận,

          Nhẫn-nhịn ắt không chuyện kéo dài.”  (trang 406 SGTVTB 2004)

c)   Trì-giới:  Cần phải giữ-gìn giới-luật một cách nghiêm-nhặt để luôn phát sinh trí-huệ và chánh-kiến.  Có chánh-kiến thì nhận-định được đúng-đắn, đưa chúng ta đi đúng hướng, sáng-suốt, vui-tươi.  Đức Thầy dạy rằng:

                      “Gìn giới cấm sửa tâm ô-tạp,

           Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.”          (trang 141 SGTVTB 2004)

                 hay là:

                     “Mau thức-tỉnh tu-thân kẻo trễ,

                      Đến tội rồi mới hối muộn-màng.

                      Chi cho bằng ta sớm lo toan,

          Gìn giới-luật nghe Kinh trọng Phật.”  (trang 160 SGTVTB 2004)

    Như lời Đức Thầy khuyên bảo, trong mười điều tạo phước nêu trên, điều “cần nhứt ở chỗ giữ giới-luật hằng ngày.” (trang 450 SGTVTB 2004).  Do đó,  trì-giới là đạo binh tiên-phong, bởi vì giới-luật chính là hàng rào để ngăn-chận các điều tội-lỗi, chúng ta có trì-giới thì mới nghĩ đúng, nói đúng và làm đúng.

    Thực hiện được mười điều thiện là tu theo phước hữu-lậu, phước nầy khiến chúng ta qua lại trên con đường an-vui, tươi đẹp.  Mặc dù còn trong vòng tương-đối sanh tử, song đến đâu cũng là hài-lòng, mãn nguyện.

B.- Phước vô-lậu

         Phước vô-lậu là sự an-vui tuyệt-đối, không giới-hạn.  Do thoát-ly sanh tử nên được an-vui miên-viễn, bởi vì sự an-vui nào mà còn sanh tử đều là sự an-vui tạm-bợ.  Chỉ có tiêu-diệt hết mầm sanh tử, an-trụ vô-sanh, mới là an-vui viên-mãn.  Tu phước vô-lậu là chúng ta nhắm hướng vô-sanh làm mục-đích, hằng ngày buông-xả cái chủ-động sanh diệt, và dùng trí-tuệ thấy rõ các tướng giả-dối sanh diệt, không lầm, không kẹt nó.  Cứ thế tiến mãi, cho đến bao giờ được viên-mãn.  Mình làm như vậy, và chỉ dạy người khác làm như vậy là tu phước vô-lậu.

III.-    Cần tránh tội và làm phước

A.- Tránh tội

         Đã biết tội là nhân khổ đau, bất như-ý, chúng ta phải cố-gắng tránh đừng gây nên tội.  Cuộc đời đã khổ-đau lắm rồi, chúng ta không thể làm cho nó tươi đẹp hơn thì ít ra cũng đừng tô thêm cho đậm nét khổ-đau.  Tránh gây khổ-đau cho người tức là tránh tạo khổ-đau cho mình.  Có ai ngu-dại đến nỗi lấy dây tự trói, lấy roi tự đánh, để rồi kêu khóc than-thở.  Mầm đau-khổ không gieo thì cây đau-khổ làm sao đâm chồi nẩy lộc được !  Biết thế, chúng ta cần phải dè-dặt tối-đa trong việc gieo nhân đau-khổ.  Dù một tội nhỏ, tránh được, chúng ta cũng cố-gắng tránh.  Tục ngữ có câu:  “Giọt nước tuy nhỏ, rơi mãi cũng đầy chậu lớn”.   Người biết sợ tội là người sẽ khỏi tội.  Chỉ có kẻ liều mạng, xem thường tội lỗi thì càng lún sâu trong tội lỗi.  Đã có tội lỗi là có đau-khổ, như có hình thì có bóng, có tiếng thì có vang.  Người học đạo phải sáng-suốt thấy rõ lý-lẽ ấy để không lầm, làm khổ mình khổ người.  Đức Thầy dạy rằng:

                     “Tuy lưới Trời thưa rộng thinh-thinh,

                      Chớ chẳng lọt những người hung-ác.

                      Khi nhắm mắt hồn lìa khỏi xác,

                      Quỉ Vô-Thường dắt xuống Diêm-Đình.

                      Sổ sách kia tội phước đinh-ninh,

                      Phạt với thưởng hai đường tỏ rõ.

                      Tìm Cực-Lạc, Đây rành đường ngõ,

                      Hãy mau-mau tu tỉnh mới mầu.

                      Tận thế-gian còn có bao lâu,

          Mà chẳng chịu làm tròn nhơn-đạo.”   (trang 82 SGTVTB 2004)

B.- Làm phước

         Chúng ta biết rằng hạnh-phúc, an-vui là điều ai cũng ước-mơ, mong-mỏi.  Người học đạo không ước-mơ, mong-mỏi suông, phải thực tế gây dựng hạnh-phúc cho người tức là gầy dựng hạnh-phúc cho chính mình.  Hạnh-phúc không thể ngẫu nhiên đến với chúng ta, mà do công-phu bồi-đắp.  Một hành-động, một lời nói, một ý nhiệm-mầu đem an-vui lại cho người, chính là gây dựng hạnh-phúc cho ta.  Trong cuộc đời tương phản, kẻ buông-xả hết lại là người được nhiều nhất.  Ngược lại, người cố giữ-gìn lại là người mất-mát nhất.  Tạo hạnh-phúc cho mình, không phải bo-bo gìn-giữ những cái của mình, mà phải xả-bỏ cái của mình, tạo cho người an-vui.  Chúng ta làm cho trăm ngàn người an-vui, quả thực đã tạo trăm ngàn điều an-vui cho chúng ta.  Vì vậy, làm phước không bao giờ thấy đủ, chúng ta làm mãi suốt đời mà vẫn thấy chưa xong.

         Có một lần Đức Phật đang ngồi trong một tịnh xá, ở phòng khác Ngài A-Na-Luật đang xỏ kim để vá y.  Vì mắt không tỏ, Ngài xỏ hoài mà chẳng được.  Ngài buột miệng than:

         -  Có ai mắt sáng làm phước xỏ kim hộ dùm tôi.

         Đức Phật nghe, Ngài đi đến chỗ A-Na-Luật và đáp:

         -  A-Na-Luật !  Đưa kim cho ta xỏ hộ, để ta làm phước.

         A-Na-Luật hoảng-hốt thưa:

         -  Thế-Tôn đã đầy đủ vô lượng phước-đức, còn làm phước chi nữa ?

         Đức Phật dạy:

         -  Thế-Tôn đầy đủ vô lượng phước-đức mà còn mót từ cái phước xỏ kim !

         Qua câu chuyện kể trên thử hỏi:  Chúng ta là người gì mà không cố-gắng làm phước ?  Phước càng to thì an-vui càng lắm, có thiệt-thòi gì đâu mà không chịu làm !  Đức Thầy dạy rằng:

                         “Chỉ có tội phước hỡi còn,

                  Đến nơi thẩm-phán cửa son Diêm-Đài.

                          Phước nhiều tiên-cảnh lên rày,

                  Tội nhiều sa-đọa nhiều ngày thảm-thê.

                          Chừng ấy mới biết chỉn ghê,

                  Ăn-năn chẳng kịp khó bề tính-toan.

                          Ngày nay sớm đến Phật-đàng,

                  Tu cầu chư Phật cứu an linh-hồn.

                          Tội tiêu phước hưởng trường-tồn,

                  Không còn mắc nẻo dại-khôn luân-hồi.” (trang 172 – 173 SGTVTB 2004)

         Tóm lại, tội phước là việc làm thực-tế trên cõi đời nầy.  Cổ-động, khuyến-khích người tránh tội là hành-động giảm thiểu khổ-đau cho nhân-loại.  Tán-thán, ca-ngợi làm phước là mang lại hạnh-phúc, an-vui cho chúng-sanh.  Đây là lý chánh đáng để chúng ta tận lực làm phước và tránh tội.  Thật là vô lý cho những kẻ đã không làm, lại còn chỉ trích người khác làm.  Còn ai không xót-xa khi thấy con người sát phạt con người như vậy !  Cho nên tránh tội làm phước là điều mỗi chúng ta phải ứng-dụng trong mọi sinh-hoạt hằng ngày, biết rõ tội phước là cội nguồn của đạo-đức:  Tội là cấy mầm đau-khổ nơi con người, và phước là gieo nhân hạnh-phúc cho chúng-sanh !  Vì vậy, chúng ta phải làm đúng theo lời dạy của Đức Thầy:

         “Điều cần yếu là phải:

·       Làm hết các việc từ-thiện,

·       Tránh tất cả điều độc-ác,

·       Quyết rửa tấm lòng cho trong sạch.”  (trang 451 SGTVTB 2004)

        Đức Thầy dạy rằng nếu trừ xong mười điều ác tức hiện ra mười điều thiện, và hơn nữa, nếu ta đã rửa sạch tấm lòng nhơ-bẩn của mình thì sẽ được Phật tiếp dẫn cho về cảnh giới siêu mầu, thoát khỏi vòng sanh tử:

                 Ác trừ xong hiện ra thiện-nghiệp,

                  Lóng nguồn chơn Phật tiếp-dẫn cho.

                  Trồng cây lành vị-quả thơm-tho,

                  Tuy không thấy mà sau chẳng mất.”  (trang 169 SGTVTB 2004)

         Nay chúng ta đã quy-y theo Thầy Tổ thì hãy thành tâm nguyện cùng Chư Phật rửa sạch tất cả bụi trần đang bám-víu nơi lòng, đồng thời phải ngăn-chừa được mười điều ác (mười tội nặng) đang tích-tụ nơi thân huyễn-hóa của mình, như Đức Thầy đã dạy:

                 “Nguyện cùng Phật dứt duyên trần-cấu,

                  Phải trừ thêm Thập-Ác huyễn thân.” (trang 162 SGTVTB 2004)

         Và chúng ta phải luôn luôn nhớ làm điều thiện để được hưởng phước-báu:

                Phật từ-bi đặng chữ cao thanh,

          Người lương-thiện hưởng muôn điều hạnh-phúc.”         (trang 392 SGTVTB 2004)

 

Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật

Nam-Mô A-Di-Đà Phật

 

Nguyễn-Trung-Hiếu

Tài-Liệu Tham Khảo:

1.   SẤM GIẢNG THI VĂN TOÀN BỘ (SGTVTB 2004) của Đức Huỳnh Giáo Chủ, Ban Trị-Sự Trung-Ương Hải-Ngoại, Giáo Hội PGHH, ấn bản năm 2004 tại Hải Ngoại.

2.   Chú Nghĩa Pháp Môn HỌC PHẬT TU NHÂN của Thanh Sĩ và Vương Kim, ấn bản năm 2000 tại Hoa Kỳ.

3.   Chú Giải SẤM GIẢNG THI VĂN TOÀN BỘ của Thiện Tâm (Lưu hành nội bộ).
 
Quan khách và đồng đạo đang cầu nguyện trong ngày Đại Lễ 18/5 tại Santa Ana, California
Quan khách và đồng đạo đang cầu nguyện trong ngày Đại Lễ 18/5 tại Santa Ana, California
 
Comments