9. Tập-San Tinh-Tấn‎ > ‎Số 18‎ > ‎

13. Ý nghĩa ngày 18/5 - Nguyễn Văn Mậu

Ý nghĩa ngày Đại Lễ 18/5

                                                            Nguyễn Văn Mậu

 

Ngày 18 tháng 5 âm lịch, đối với người tín đồ PGHH đó là 1 ngày trọng đại và thiêng liêng nhứt. Nó đã khắc ghi trong tâm khảm của mỗi tín đồ không thể nào lãng quên được.

                          “Tháng năm mười tám rõ-ràng”.

Một ngày thật chính xác của tháng 5, bất di bất dịch, không thể nhầm lẫn được. Một ngày trọng thể mà người tín đồ PGHH đều phải ghi nhớ.

Ngày ấy ra sao? Đó chính là ngày: “Cùng xóm cuối làng ai cũng cười reo”.

Một ngày mà mọi người từ đầu làng đến cuối thôn đều hân hoan đón nhận nguồn mưa pháp, trong cơn khao khát tín ngưỡng, khao khát một món ăn tinh thần đạo giáo, một sự khao khát một đấng lãnh đạo chân chính, cứu thế mang những giọt cam lồ tưới cho đại chúng, khiến ai nấy đều tươi vui hớn hở.

Một ngày 18 tháng 5 là ngày của: Phật vị chúng sanh mà sanh.

         “Ta thừa vưng sắc lệnh Thế Tôn.

          Khắp hạ giái truyền khai đạo pháp.”

Đức Huỳnh Giáo Chủ hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh trong thời buổi hạ nguơn mạt pháp. Đạo lý suy đồi. “Pháp môn bế mạc, thánh đạo trăm vu, người tâm trí tối đen, đời lắm ma vương khuấy rối”. Lại thêm cảnh nước mất nhà tan, nhân dân lầm than, thống khổ. Đã được: “Thiên Tào đà xét định, Khắp chúng sanh trong thế giới, trong cái buổi hạ nguơn nầy, say mê vật dục, chìm đắm trong biển lợi danh, gây nên nghiệp quả, luật Trời đà trị tội xét kẻ thiện căn thì ít, người tội ác quá nhiều, chư Phật mới nhủ lòng từ bi cùng các vị chơn Tiên lâm phàm độ thế”.

Do đó Ngài là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu đạo nơi quốc độ nào, thì cũng phải trở về quốc độ ấy mà trợ tế nhân dân”.

Ngày đã cho biết: Những tiền kiếp của Ngài cùng đều “Sinh trong vòng đất Việt Nam nầy, trải qua bao kiếp trong địa cầu lăn lộn mấy phen, tùy cơ pháp chuyển kiếp luân hồi ở nơi hải ngoại để thu thập những điều đạo học kinh nghiệm huyền thâm, lòng mê si đã diệt, sự vị kỷ đã tan mà kể lại nguồn gốc phát sinh, trải bao đời giúp nước vùa dân cũng đều mãi sinh cư nơi đất Việt. Những tiền kiếp dầu sống cũng là dân quan đất Việt, dù thác, cũng quỉ thần đất Việt chớ bao lìa”.

Cho nên vì lòng từ bi bác ái Đức Thầy không nở ngồi nhìn chúng sanh đang chịu nhiều tai ách, nghèo đói, bịnh tật của cơ tận diệt và đang ngụp lặn trong bể trầm luân thống khổ. Cho nên Ngài phải gắp rút nhập thế khai Đạo độ đời.

                          “Khai ngọn đuốc Từ Bi Chí Thiện,

                           Tìm con lành dắt lại Phật đường.

                           Thương dân hiền giáo đạo Nam Phương,

                           Đặng chỉ ngõ làm lành lánh dữ”.

Ngài đã quyết dìu dắt sanh chúng tiến sang bờ giác. Dù cho:

                                   “Bể trần sóng cuộn lao xao,

                          Xông thuyền bát nhã lướt vào một phen.

                                  Quảng chi lực kém tài hèn,

                          Dù đời bạc đãi ngọn đèn cứ nêu.

                                  Soi từ đài các xá lều,

                          Cho người trụy lạc biết điều nghĩa nhân.”

Ngài đã khéo đem đạo vào đời bằng pháp môn Học Phật Tu Nhân, làm 1 cư sĩ tại gia học theo phẩm hạnh của Đức Phật: Từ, Bi, Hỉ, Xả. Làm theo lời Phật dạy. Cùng trì niệm lục tự để lìa bỏ niệm chúng sanh, vọng tưởng, niệm cái bản lai thanh tịnh của Phật cho lòng mình nương theo đó mà được thanh tịnh và chẳng còn trược nhiễm trần ai.

                          “Chữ lục tự trì tâm bất viễn,

                           Thì lâm nguy có kẻ cứu mình.”

Và luôn tu sửa bản thân, lìa bỏ những thói hư tật xấu, làm lành lánh dử, và giữ cho được trọn đạo làm người, luôn tu bồi phẩm hạnh.

                          “Bạch trinh giữ trợn nghĩa nhân,

                           Muốn về cõi Phật, lập thân cõi trần.”

Hòa Thượng Tế Điên cũng từng bảo: “Dục tu tiên đạo, tiên tu nhân đạo. Nhân đạo bất tu, tiên đạo viễn hỷ”.Nghĩa là muốn tu đạo Tiên Phật, thì trước tiên phải tu đạo làm người. Đạo làm người không tu, thì đạo Tiên Phật thật xa vời. Song song với pháp môn học Phật tu nhân người cư sĩ tại gia còn phải thiệt hành Tứ đại trọng ân: “Ân Tổ Tiên cha mẹ. Ân đất nước. Ân Tam Bảo. Ân Đồng bào và nhơn loại”.

Là 1 cư sĩ tại gia ta có bổn phận phải đền đáp những trọng ân mà ta đã thọ hưởng.

                                  “Tu đền nợ thế cho rồi,

                           Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.”

Và Ngài đã thực hành 1 chương trình thật khéo léo trong suốt quảng thời gian Ngài hoằng hóa độ đời của thời Hạ ngươn mạt pháp. Chúng sanh phước mỏng, nghiệp dầy. Ngài đã áp dụng đủ các pháp để giáo hóa như: Pháp, Quyền, Thiệt, Đốn, Tiệm để quyết đưa chúng sanh đến bờ giải thoát. Với Pháp Quyền hay còn gọi là phương tiện Pháp.

                          “Tùy phong hóa dân sanh phù hạp.”

“Tùy theo trình độ, căn cơ của mỗi tín nữ, thiện nam”. Ngài đã khéo dùng đủ mọi phương tiện làm cho họ có niềm tin đối với Phật pháp, rồi sau đó họ mới hành trì kinh luật để đạt đến mức cứu cánh giải thoát.

Với pháp thiệt là pháp chơn thật. Dùng từ ngôn nói tận đáy lòng để cảm hóa họ. Và:

                          “Quyết dạy trần nên nói lời thường,

                           Cho chúng sanh đời nay dễ biết.

                           Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh,

                           Nên truyền ban cho chúng sanh tường.”

Cho nên:

                          “Thương trần ta cũng rán thề,

                           Đặng cho bá tánh liệu bề tu thân.

                           Tu hành chẳng được đức ân,

                           Thì Ta chẳng phải xác thân người đời.

                           Phật truyền ta dạy mấy lời,

                           Đặng cho trần thế thức thời tu thân.”

Đốn Giáo:Là pháp tu mau. Đối với hạng người thượng căn, họ đã gieo sâu duyên lành với Đạo thì Đức Thầy, dùng chánh pháp vô vi cảm hóa họ.“Trên thì nói Phật pháp cho kẻ có lòng mộ đạo quy căn, gây góc thiện duyên cùng Thầy tổ”. Tiệm Giáo: Là pháp tu tiến lần lần.

Ngài đã giác tỉnh họ bằng cách dùng huyền diệu của Tiên gia trị bịnh khiến họ tăng lòng kính tin Trời Phật và phát nguyện quy y. “Khuyên kẻ thế hướng thiện quày đầu, cải tà qui chánh thì mới mong Thiên Đình ân xá bớt tội căn để kíp đến Long Hoa Chầu Phật”.            

                          “Đường đạo đức bước đi từ nấc.”

Ngoài việc Ngài đã ứng dụng các pháp. Ngài còn sáng tác 6 tác phẩm trường thiên.

Quyển 1: Sấm Giảng Khuyên người đời tu niệm.

Quyển 2: Kệ Dân của Người Khùng.

Quyển 3: Sám Giảng.

Quyển 4: Giác Mê Tâm Kệ.

Quyển 5: Khuyến Thiện.

Quyển 6: Cách tu Hiền và sự ăn ở của một người bổn đạo.

Và trên 200 bài thi văn đủ loại để cho nguồn mưa pháp sớm được chan hòa trong đại chúng. Đó là 1 công đức vô lượng của 1 vị Bồ Tát. Vì chúng sanh mà thệ hiện tận độ. Dù trên con đường hoằng pháp của Ngài gặp nhiều nổi gian truân, bị người đời khinh chê, bị bắt bớ, ám hại, đày xắt đủ điều. Nhưng Ngài vẩn bình tâm trước mọi nghịch cảnh và với tấm lòng bao dung rộng mở của một bậc Đại giác.

                          “Bác ái xả thân tầm đạo chánh,

                           Độ người lao khổ dạ không phiền.”

Hay:

                          “Thân ta dù lắm đoạn trường,

                 Cũng làm cho vẹn chữ thương nhơn loài.

Và Ngài đã tha thiết nhắn nhũ:

                          “Cuộc dạy trần Ta lắm công trình,

                           Làm chẳng trọn uổng thay một kiếp.”

Hôm nay chúng ta hân hoan tổ chức Đại Lễ 18/5 Ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sang đạo PGHH năm thứ 72 là để tưởng nhớ công ơn vô lượng của Ngài đã hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh đưa từ bờ mê đến bến giác.

Và đồng thời để luôn nhắc nhở anh em chúng ta cùng dìu dắt lẫn nhau trên con đường tu học,

                          “Trên hòa dưới thuận chớ lìa chớ phân.”

Kiên trì giữ đạo chờ Thầy.

                          “Ai người tâm đạo đừng toan phụ Thầy.”

Chúng ta luôn luôn “Làm theo lời chỉ” để được Ngày rày gặp Ta Đó chính là ngày:

                                  “Chừng nào Thầy lại gia trung,

                          Thì trong bổn đạo bóng tùng phủ che.”

        Trân trọng kính chào toàn thể quý vị.

                                                     Nam Mô A Di Đà Phật

                                                     Nguyễn Văn Mậu
 
Comments