1. Trang Nhà‎ > ‎Tin Cập Nhật‎ > ‎

Thỉnh-cầu Góp ý và Đề-nghị cho công-tác Điều-Chỉnh Kỹ-thuật.

posted Jun 6, 2013, 11:21 AM by Trung Hiếu Nguyễn   [ updated Jun 6, 2013, 11:27 AM ]

GIÁO-HỘI PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO

BAN TRỊ-SỰ TRUNG-ƯƠNG HẢI-NGOẠI

4141  11th Ave., Sacramento, CA. 95817, USA.

Tel. 905-619-0398   916-731-8331   Fax. 905-619-0398

E-mail:  btstuhn.ghpghh@gmail.com

Domain: www.phatgiaohoahao.net

THÔNG-BÁO

Số: 28/BTSTƯHN/TB

Trích-yếu: V/v Thỉnh-cầu Góp ý và Đề-nghị cho công-tác Điều-Chỉnh Kỹ-thuật.

Ø  Chiếu Biên-bản Đại-Hội Đạo tại Sacramento ngày 07-7-2012,

Ø  Chiếu Quyết-Định số 18 về việc thành-lập Ban Điều-Chỉnh Kỹ-Thuật và Ấn-Tống ngày 04-9-2012.

         Tiếp theo Thông-Báo số 26, sau hơn 6 tháng công-tác vất-vả của Ban Điều-Chỉnh Kỹ-Thuật và Ấn-Tống (BĐCKT & ÂT) đã hoàn-tất, Ban Trị-Sự Trung-Ương Hải-Ngoại (BTSTƯHN) sẽ xem-xét lại (review) kết-quả đạt được, cẩn-thận làm bản đúc-kết các đề-nghị để trình đến quý đồng-đạo, các Ban Trị-Sự và Ban Đại-Diện địa-phương để góp ý lần cuối trước khi chúng tôi chuyển đến nhà in. Để cho công-tác tái ấn-tống quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ (SGTVTB) của Đức Huỳnh Giáo-Chủ được hoàn-chỉnh một cách tốt đẹp thì cần có sự đóng góp của nhiều người từ tịnh-tài, công-sức, kiến-thức chuyên môn, v.v... Chúng tôi tin chắc rằng tất cả đồng-đạo đều mong muốn có một quyển SGTVTB được in đúng, chính xác lời vàng ngọc của Đức Thầy, được trình-bày rõ-ràng, dễ nghiên-cứu tìm-kiếm. Đó chính là mục-tiêu của BTSTƯHN trong công-tác tái ấn-tống quyển SGTVTB năm 2013.

         Để đi vào chi-tiết thực-hiện công-tác Điều-Chỉnh Kỹ-Thuật, chúng ta cần phải xác-định chữ sai nào thuộc về lỗi chánh-tả, và lỗi nào thuộc về quá-trình ấn-loát. Đối với những lỗi thuộc về chánh-tả thì Ban Điều-Chỉnh Kỹ-Thuật và Ấn-Tống (ĐCKT & ÂT) có thể nhận ra và điều-chỉnh dễ-dàng trong khả-năng, còn đối với chữ do lỗi kỹ-thuật ấn-loát thì khó được nhận ra và cũng ngoài thẩm quyền điều-chỉnh của Ban ĐCKT & ÂT. Vì vậy, chúng tôi xin đưa ra một số từ-ngữ cần được xem-xét lại (có thể được xem là do lỗi kỹ-thuật ấn-loát từ trước) để thỉnh-cầu quý đồng-đạo, các Ban Trị-Sự và Ban Đại-Diện địa-phương góp ý và đề-nghị. Sau khi nhận được các đề-nghị và lời giải-thích, chúng tôi sẽ dựa vào ý-kiến của đa-số và đem kết-quả đạt được vào chung một biên-bản (bao gồm kết-quả đạt được của Ban ĐCKT & ÂT trước đây) để gởi đến quý đồng-đạo, các Ban Trị-Sự và Ban Đại-Diện địa-phương góp ý lần cuối.

         Đính kèm theo Thông-Báo nầy là các từ-ngữ cần được xem lại và góp ý. Hạn chót để BTSTƯHN nhận được Phiếu Góp ý và Đề-nghị (xin xem đính kèm) là ngày Thứ Sáu 28-6-2013. Chúng tôi mong rằng quý Ban Trị-Sự và Ban Đại-Diện địa-phương dùng tài liệu gởi đính kèm để hội-thảo với các đồng-đạo tại địa-phương sở-tại để thống-nhất trong việc góp ý và đề-nghị. Quý Đồng-đạo, các Ban Trị-Sự và Ban Đại-Diện địa-phương đi dự Đại-Hội Đạo và Đại Lễ tại Toronto, Canada có thể đưa trực-tiếp các Phiếu nầy cho BTSTƯHN, còn nếu không có đi dự thì gởi Phiếu Góp ý và Đề-nghị về địa-chỉ của BTSTƯHN (như trên đầu bản Thông-Báo) hay qua địa-chỉ e-mail: btstuhn.ghpghh@gmail.com

         Xin lưu-ý, nếu Quý đồng-đạo, các Ban Trị-Sự và Ban Đại-Diện địa-phương trả lời “Không Đồng ý” về bất kỳ chữ nào được đề-nghị điều-chỉnh thì cần có lời giải-thích rõ-ràng lý-do để chúng tôi nghiên-cứu, chứ chỉ trả lời suông “Không Đồng ý” thì không có giá-trị. Nên biết, đây không phải là sự bầu phiếu, mà là việc góp ý và đề-nghị (nên cần có giải-thích lý-do).

         Để cho công-tác tái-bản quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ của Đức Huỳnh Giáo-Chủ được hoàn-thành một cách tốt đẹp, đáp-ứng đúng nguyện-vọng của đa-số Quý Đồng-đạo, BTSTƯHN mong rằng Quý Đồng-đạo, các Ban Trị-Sự và Ban Đại-Diện địa-phương tích-cực tham-gia vào việc góp ý và đề-nghị nói trên.

         Chân thành cảm tạ Quý Đồng-đạo, các Ban Trị-Sự và Ban Đại-Diện địa-phương.

                                                                                             Hoa kỳ, ngày 03 tháng 6 năm 2013

                                                                                      TM. BAN TRỊ-SỰ TRUNG-ƯƠNG HẢI-NGOẠI

                                                                                                                HỘI-TRƯỞNG

 

                                                                                                                   (ấn ký)

 

                                                                                                       NGUYỄN-TRUNG-HIẾU

Bản Sao kính gởi:

- Quý Vị Cố-Vấn và Trị-Sự-Viên BTSTƯHN

- Quý BTS và BĐD Địa-Phương

   “Để kính tường và thông-báo.”   

- Hồ-Sơ / Lưu

________________________________________________________

 

Những Lỗi do quá-trình kỹ-thuật ấn-loát quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ được đề-nghị điều-chỉnh

         Kể từ ngày 19-12-1963, Giáo-Hội Phật-Giáo Hòa-Hảo được tái-lập và phục-hoạt đến nay, quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ của Đức Huỳnh Giáo-Chủ đã được ấn-tống chính thức khá nhiều lần từ trong nước và tại hải ngoại. Ấn bản chính thứ đầu tiên là ấn bản năm 1965, đây là ấn bản kết tập và sửa-chữa tính “tam sao thất bổn” của các ấn bản trước đó do các đồng-đạo có nhiệt-tâm đứng ra ấn-loát (vì lúc đó chưa có một cơ-quan nào trong Giáo-Hội theo dõi việc ấn-loát từ trước năm 1963). Do đó, ấn bản 1965 còn tồn đọng rất nhiều lỗi kỹ-thuật (chánh tả) do nhiều nguyên-nhân khác nhau.

         Vì nhu-cầu phổ-truyền kinh giảng của Đức Huỳnh Giáo-Chủ, không đầy một năm sau, ấn bản 1966 ra đời, ấn bản nầy có chỉnh sửa một số lỗi kỹ-thuật của ấn bản 1965, nhưng gây thêm một số lỗi kỹ-thuật mới (do kỹ-thuật ấn-loát vào thời đó quá thô-sơ). Không hiểu vì lý-do gì mà 2 ấn bản 1965 và 1966 lại in ở 2 nhà in khác nhau, nên ấn bản 1966 phải làm lại bản kẻm (master plate) từ đầu (số trang và cỡ chữ khác nhau giữa 2 ấn bản).

         Như chúng ta đã biết, việc ấn-loát vào các thập niên 1940 – 1970 rất phức-tạp, phải qua khá nhiều giai-đoạn từ bản viết tay đến khi thành quyển sách được phép xuất-bản, sơ-lược như sau:

1.   Bản viết tay của soạn-giả hay tác giả,

2.   Chuyển thành bản đánh máy,

3.   Nộp bản đánh máy để xin giấy phép xuất-bản,

4.   Sau khi được cấp giấy phép, chọn nhà in và gởi bản đánh máy đến nhà in,

5.   Dựa vào bản đánh máy, ấn công sắp bản kẻm,

6.   Ấn công in thử 1 bản và trao cho soạn giả để đọc lại (ấn-cảo),

7.   Ấn công sửa lại các lỗi trên bản kẻm theo yêu cầu của soạn giả,

8.   Ấn công hoàn tất công việc ấn-loát,

9.   Nếu vì lý-do gì đó, soạn-giả còn sót lỗi sau khi xem bản in kiểm-tra, nhà in sẽ in thêm bản Đính-Chánh theo yêu-cầu của soạn-giả trước khi đóng bìa quyển sách,

10.  Ấn công đóng bìa quyển sách và nhà in hoàn tất công việc ấn-loát.

         Xin chú-thích: Đối với quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ, tác-giả là Đức Huỳnh Giáo-Chủ, soạn-giả có thể là một nhóm người trong Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-Ương nhiệm-kỳ I (1964 – 1966).

         Qua 10 giai-đoạn nói trên, và áp-dụng vào việc ấn-loát quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ qua các ấn bản 1965, 1966, ... 1972 của Đức Huỳnh Giáo-Chủ, chúng ta thấy khó mà tránh khỏi các lỗi kỹ-thuật đáng tiếc xảy ra, các lỗi nầy có thể xảy ra ở các giai-đoạn: đánh máy, xin giấy phép xuất-bản (vì không được chấp-thuận, nên phải sửa lại), ấn công sắp chữ bản kẻm, sơ-sót của người kiểm-tra ấn-cảo, ... Như đã nói trên, mỗi lần tái bản lại đổi nhà in, và làm bản kẻm mới, nên những lỗi của ấn bản trước chỉ được chỉnh-sửa một phần, nay lại làm ra những lỗi mới ngoài ý muốn. Do đó, các ấn bản 1965, 1966, ... 1972 tiếp-tục in sai-lệch từ ấn bản nầy đến ấn bản theo sau. Ngoài ra, do tính bảo-thủ nên những đồng-đạo có trách-nhiệm trong việc ấn-loát thường viện-dẫn các lý-do để không điều-chỉnh như sau:

1.   Không thấy được bản chính của Đức Thầy viết thì không được sửa (nghĩa là tin hoàn toàn vào ấn bản hiện có là đúng như của Đức Thầy đã viết).

         Thật ra, trong công-tác Đính-chánh Kệ Giảng của Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-Ương nhiệm kỳ I (1964 – 1966) do hội-nghị ngày 17-5-1965 tại Thánh-Địa Hòa-Hảo cũng không có đầy-đủ các bản chánh (do Đức Thầy viết) được trình ra để cứu-xét (mời xem bài “Khải Ngôn” từ trang 20 – 26, sđd SGTVTB 2004 để hiểu rõ hơn). Vì vậy, ngày nay mà còn đòi hỏi phải có bản chánh của Đức Thầy viết thì có hợp lý hay không?

2.   Mặc dù biết sai, nhưng không dám sửa vì sợ bị đồng-đạo kết tội, chụp mũ là sửa giảng của Đức Thầy, nên chủ-trương không sửa gì cả.

3.   Không hiểu hết ý-nghĩa Kinh Giảng của Đức Thầy nên không dám sửa, vì nếu sửa sai ý Đức Thầy thì bị mang trọng tội, tốt hơn là không sửa gì cả.

    Chúng ta đừng quên Đức Thầy có nói rất rõ:

             “Quyết dạy trần nên nói lời thường,

               Cho sanh-chúng đời nay dễ biết.”

                          (Câu 47 – 48 Giác Mê Tâm Kệ – Q4, trang 116 SGTVTB 2004)

    Đức Thầy còn dạy thêm rằng: “Đừng thấy ai theo mối Đạo nào đông-đảo rồi ta cũng vội-vàng theo Đạo ấy mà lúc đó ta chưa hiểu giáo-lý ấy như thế nào... Nếu tu như thế, ... càng tỏ ra cho thiên-hạ thấy rõ ta mê-tín bấy nhiêu.” (Trong việc tu thân xử kỷ, trang 459 SGTVTB 2004). Rõ ràng, Đức Thầy quyết dạy chúng-sanh bằng lời thường để cho dễ hiểu, nếu nói chưa hiểu giáo-lý mà tu theo thì ta quả thật là kẻ mê-tín.

         Với các lý-do viện-dẫn nói trên nên đã đưa đến hậu-quả là nhiều chữ in sai trong quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ được truyền-bá từ thế-hệ nầy sang đến thế-hệ khác.

         Vì vậy,  nếu chúng ta thiếu nhận-thức về các nguyên-nhân sai-sót, và không có những hành-động cụ-thể để chấn-chỉnh, và tiếp-tục in sai để phổ-truyền Giáo-Lý thì thử hỏi có tội với Thầy Tổ hay không? Chúng tôi tin chắc rằng tất cả đồng-đạo đều mong muốn có một quyển SGTVTB được in đúng, chính xác lời vàng ngọc của Đức Thầy. Do đó, chúng ta cần phải xác-định chữ sai nào thuộc về lỗi chánh-tả, và lỗi nào thuộc về quá-trình ấn-loát.

         Đối với những lỗi thuộc về chánh-tả thì Ban Điều-Chỉnh Kỹ-Thuật và Ấn-Tống (ĐCKT & ÂT) có thể nhận ra và điều-chỉnh dễ-dàng trong khả-năng, còn đối với chữ do lỗi kỹ-thuật ấn-loát thì khó được nhận ra và cũng ngoài thẩm quyền điều-chỉnh của Ban ĐCKT & ÂT. Vì vậy, chúng tôi xin đưa ra một số từ-ngữ cần được xem-xét lại (có thể được xem là do lỗi kỹ-thuật ấn-loát):

1.  Tuần trải hay từng trải ?

                 “Lập thân-danh tuần trải nơi nơi,

                   Chờ thời-đại mới là khôn-khéo.”

                          (câu 717 – 718 Giác Mê Tâm Kệ – Q4, tr. 139 SGTVTB 2004)

         Chúng ta thường nghe nói:  tuần hoàn, tuần tự, tuần tra, tuần hành, ...  nhưng là:  từng đi học, từng đi bơi, từng đi Sài-Gòn, từng đi Huế, từng đi Hà-Nội, từng trải, ...  nghĩa là đã từng đi qua, từng làm việc gì đó và có kinh-nghiệm về việc gì đó.

         Có người lại giải-thích rằng: “tuần trải” có nghĩa là “tuần-tự trải qua”. Tuy nhiên, nếu giải-thích như thế thì chữ tuần trải” đã được bao gồm trong ý nghĩa của chữ từng trải”, nhưng từ “tuần trải” không nói lên kinh-nghiệm đã qua. Chính vì vậy, từ từng trải” mang đầy-đủ và chính-xác với ý-nghĩa của câu giảng kế tiếp: “Chờ thời-đại mới là khôn-khéo.” (vì đã đi qua nhiều nơi, đã biết rõ và có kinh-nghiệm nên phải nhẫn-nại, chờ thời-cơ cho phù-hợp mới ra tay hành-động, như vậy, mới được gọi là người khôn-khéo)

         Do đó, chữ “tuần trải”trong câu trên là diễn đạt không trọn vẹn ý của Đức Thầy (và chữ “tuần trải” cũng hoàn-toàn không có trong Tự-Điển VN).

         Dưới đây là ảnh chụp về việc dùng từ “từng trải” thay vì “tuần trải”:

·       Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ, ấn bản 1958 trang 96 dòng 11:

 

·       Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ, ấn bản 2005 trang 113 dòng 3 (lưu-hành trong nước):

 
 

·       Đức Huỳnh Giáo-Chủ, trang 255 dòng 3 của Vương-Kim (tức Ông Phan-Bá-Cầm, Sử-gia PGHH, tác giả của rất nhiều quyển sách viết về PGHH và Bửu-Sơn Kỳ-Hương, nguyên Tổng-Bí-Thư Đảng Dân-Xã và cũng là Cựu Dân-Biểu VNCH Tỉnh Châu-Đốc):

 
 

·       Bài Pháp-luận: “Chữ NHẪN trong Giáo-Lý PGHH”, GS. Nguyễn-Thành-Long, Cựu Hội-Trưởng Ban Trị-Sự Trung-Ương Hải-Ngoại, có viết và xin phép trích dẫn như sau:

         “Ðể làm sáng tỏ, rõ ràng thêm, đồng-thời dễ thu-nhận nhập-tâm về Ðạo Nhẫn trong giáo-lý PGHH,  về sau trong quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ, Ðức Thầy còn diễn ý bài thơ Bát Nhẫn súc-tích, cô-động, thâm-thúy nêu trên:

                                “Chữ thứ nhứt nhẫn năng xử thế,

                                  Là người hiền khó kiếm trong đời.

                                  Lập thân danh từng trải nơi nơi,

                                  Chờ thời đợi mới là khôn-khéo.”  (hết trích)

 

          Điều đó cho thấy chữ “từng trải” đã được phổ truyền từ lâu, đã được dùng bởi nhiều nhân-sĩ PGHH là chính-xác theo đúng ý-nghĩa câu thơ của Đức Huỳnh Giáo-Chủ:

                                   “Lập thân-danh từng trải nơi nơi,

                                     Chờ thời-đại mới là khôn-khéo.”

          Kính mong Quý Đồng-đạo xem lại “tuần trải” hay “từng trải”, chữ nào diễn-tả chính-xác, đúng theo ý-nghĩa câu thơ của Đức Huỳnh Giáo-Chủ?

2.  Nhẫn Phụ-Mẫu hay Nhẫn Phu-Phụ ?

          Một sự kiện rất quan-trọng có liên-quan đến sự tái-thế của Đức Phật-Thầy Tây-An (1807-1856), đó là hai bài thơ: Bát Nhẫn (八 忍) Đạt Đạo Ngao Du Châu Di Viễn Cận ( ). Trong quyển “Đức Huỳnh Giáo-Chủ” của Ông Vương-Kim (tức Cố ĐĐNL Phan-Bá-Cầm), từ trang 54 – 58 có ghi như sau:

         5. Ông Bảy Còn tức ông Nguyễn Phước Còn ở gần chợ Cà Mau, xã Long Kiến, quận Chợ Mới, và là cháu nội ông Đạo Thắng, một trong Thập Nhị Hiền Thủ của Đức Phật Thầy Tây An. Những vị Hiền Thủ đều được Đức Thầy truyền diệu pháp nên có thần thông chữa trị bịnh nhơn bằng phương pháp huyền diệu, như uống nước lã, phù hay các thứ lá thứ bông. Khi ông Đạo Thắng tịch, truyền lại cho thân phụ ông Bảy Còn, rồi ông nầy đến lược truyền lại cho con cách chữa trị mầu nhiệm ấy.

        Khi Đức Huỳnh Giáo Chủ mới phát bịnh, vì là chỗ quen thuộc với ông Bảy Còn nên Đức Ông chở Ngài xuống nhờ cứu chữa, nhưng chữa mãi mà vô hiệu.

        Nay nghe tin Đức Thầy ra đời chữa bịnh và tỏ ra phi phàm thì ông Bảy không tin. Ông cho đó là ma quỉ chi chi, nên không chịu đến xem cho biết.

        Theo lời ông Bảy cho biết: có một đêm, ông nằm mộng thấy chư Thần đến cho biết là Phật đã giáng thế ở Hòa Hảo. Thức dậy, ông cho đó là điều mộng mị nên không đi.

         Một đêm khác, ông cũng nằm mộng thấy chư Thần kêu ông một lần nữa, nhưng ông cũng không tin.

        Đến lần thứ ba, lần nầy chư Thần quở trách ông nên ông bắt đầu tin và định đi Hòa Hảo cho biết hư thiệt.

         Cứ theo lời ông Bảy thuật, ông lại nhà ông Út, chú của Đức Thầy trước. Trong lúc ông đang chuyện vãng với ông Út thì Đức Thầy bước sang lại nắm tay ông mà nói rằng:

        - Dữ hôn ! Đợi chư Thần đòi ba lần, ông mới chịu đi. Thôi mời ông qua nhà.

       Khi ông Bảy bước sang, Đức Thầy mời ông Bảy ngồi rồi nói:

        - Ông Bảy muốn thử tôi phải không?

        Nói xong, Ngài bước vào trong lấy viết mực làm một bài thơ trao cho ông Bảy và nói:

        - Ông đọc đi coi có phải không ?

        Bài thơ ấy là bài thơ khoán thủ cách cú mà Đức Phật Thầy Tây An đã mật truyền cho ông Đạo Thắng, dặn sau nầy có ai đưa ra bài thơ nầy tức là Ngài tái thế. Bài thơ ấy, nguyên văn như sau:

ĐẠT ĐẠO NGAO DU CHÂU DI VIỄN CẬN

Đạt Đạo hoằng khai kế nghiệp truyền,

Chư bang hành thiện hiếu vi tiên.

Ngao Du thế giới hoàn sanh chúng,

Quí tiện trí ngu trạch nhơn hiền.

Châu Di phục thỉ an bá tánh,

Thượng cổ hoàn ư thế tự nhiên.

Viễn Cận chư châu qui nhứt thống,

An cư lạc nghiệp phước vô biên.

 

        Nên để ý tám chữ khoán thủ cách cú: Đạt Đạo Ngao Du Châu Di Viễn Cận ( ) đều thuộc bộ xước ().

        Ông Bảy trả lời là không biết chữ quốc ngữ nên nhờ Ngài đọc lại cho ông nghe.

         Khi nghe xong, ông Bảy đã khâm phục rồi, nhưng Ngài còn làm thêm một bài nữa, tức bài “Bát Nhẫn” mà nội tổ ông Bảy đã chép trong phòng của Đức Phật Thầy và hằng lấy đó làm bài giáo huấn truyền lại cho con cháu. Đây là bài Bát nhẫn:

                                               

                                           

                                             

                                             

                                            

                                            

                                           

                                            

                                          綿   綿

                                            BÁT NHẪN

Nhẫn Năng Xử Thế thị nhơn hiền,

Nhẫn Giái kỳ tâm thận thủ tiên.

Nhẫn giả Hương-Lân hòa ý hỷ,

Nhẫn hòa Phu-Phụ thuận tình duyên.

Nhẫn Tâm nhựt nhựt thường an lạc,

Nhẫn Tánh niên niên đắc bảo tuyền.

Nhẫn Đức bình an tiêu vạn sự,

Nhẫn Thành phú quí vĩnh miên miên.


        Khi nghe xong bài "Bát nhẫn", Ông Bảy xụp xuống lạy nhưng Đức Thầy đỡ dậy mà rằng: Không nên, ông Bảy. Phần xác đáng con cháu, ông lạy như thế không nên. Như ông muốn lạy, hãy lạy bàn Phật kia.”

         (hết trích)

         Sự kiện nói trên cũng đã đưọc kể lại trong quyển “Thất Sơn Mầu Nhiệm” của Dật-Sĩ và Nguyễn-Văn-Hầu (trang 203 – 206).

         Qua bài "Bát nhẫn" nói trên, chúng ta thấy có tám nhẫn, đó là:

1.   Nhẫn Năng Xử Thế,

2.   Nhẫn Giái,

3.   Nhẫn Hương-Lân,

4.   Nhẫn Phu-Phụ,

5.   Nhẫn Tâm,

6.   Nhẫn Tánh,

7.   Nhẫn Đức,

8.   Nhẫn Thành.

         Bài "Bát nhẫn" nói trên đã được Đức Thầy giảng-giải trong Quyển Tư – Giác Mê Tâm Kệ (trang 139 SGTVTB 2004) như sau:

             “Mùi đạo diệu chúng dân rán kiếm,

             Trễ thời kỳ khó gặp đặng Ta.

             Rồi hành luôn Bát-Nhẫn mới là,

             Thì muôn việc đều an bá tuế.

             Chữ thứ nhứt Nhẫn Năng Xử Thế,

             Là người hiền khó kiếm trong đời.

             Lập thân-danh tuần trải nơi nơi,

             Chờ thời-đại mới là khôn-khéo.

             Chữ Nhẫn Giái trì tâm trong trẻo,

             Khuyên dương-trần giữ phận làm đầu.

             Nhẫn Hương-Lân cùng khắp đâu đâu,

             Trên cùng dưới đều hòa ý hỉ.

             Nhẫn Phụ-Mẫu gọi trang hiền-sĩ,

             Phận xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.

             Nhịn xóm chòm cô bác mới cao,

             Nhẫn Tâm nọ ngày ngày an-lạc.

             Nhịn tất cả những người tuổi-tác,

             Nhẫn Tánh lành yên-tịnh dài lâu.

             Giữ một lòng hiền-hậu mới mầu,

             Quanh năm cũng bảo-toàn thân-thể.

             Chữ Nhẫn-Đức kể ra luôn thể,

             Thì trong đời vạn-sự bình-an.

             Chữ Nhẫn Thành báu-quí hiển-vang,

             Khắp bá-tánh được câu hòa-nhã.

             Câu đạo-đức bay mùi thơm lạ,

             Muốn nếm thì phải rán sưu-tầm.”

             Qua lời diễn giảng của bài “Bát Nhẫn”, chúng ta cũng thấy có tám điều nhẫn, đó là:

1.   Nhẫn Năng Xử Thế,

2.   Nhẫn Giái,

3.   Nhẫn Hương-Lân,

4.   Nhẫn Phụ-Mẫu,

5.   Nhẫn Tâm,

6.   Nhẫn Tánh,

7.   Nhẫn Đức,

8.   Nhẫn Thành.

             So-sánh 8 điều nhẫn giữa bài “Bát Nhẫn” và bài diễn giảng trong Quyển Tư, chúng ta nhận thấy có 7 điều nhẫn giống nhau, chỉ có điều nhẫn thứ tư là khác nhau:

             Bài Bát Nhẫn: Nhẫn thành Phu Phụ thuận tình duyên.”

             Quyển Tư:      Nhẫn Phụ-Mẫu gọi trang hiền-sĩ,

                                Phận xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.”

             Vì sao có sự khác biệt nầy, có phải là do lỗi kỹ-thuật ấn-loát ? Các lý-do sau đây cần phải xét:

             1.- Như chúng ta đã biết, vào thời-kỳ Đức Phật-Thầy Tây-An và Đức Huỳnh Giáo-Chủ mở Đạo cứu đời, xã-hội Việt-Nam là một xã-hội phong-kiến, phụ-nữ chưa được quyền bình-đẳng với phái nam, người chồng (hay đàn ông) làm chủ gia-đình. Hơn nữa, kẻ (chỉ hạng trí-thức) là hạng đứng đầu trong xã-hội (Sĩ, Nông, Công, Thương) nên luôn được trọng vọng, trong gia-đình mọi người phải nghe theo. Vì vậy, Đức Phật-Thầy Tây-An và Đức Huỳnh Giáo-Chủ đã đưa ra điều nhẫn thứ tư để chấn-chỉnh điều bất-công của xã-hội, làm cho gia-đình chồng vợ được thuận-hòa với nhau, bình-đẳng giữa nam và nữ, chồng nói vợ nghe và vợ nói chồng nghe, chứ không phải chỉ có “Phu xướng Phụ tùy” (chồng nói vợ nghe theo lối một chiều của cổ-tục phong-kiến), nghĩa là:

                              Nhẫn Phu-Phụ gọi trang hiền-sĩ,

                                Phận xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.”

             Rõ-ràng, câu sau bổ-sung, làm sáng tỏ ý-nghĩa cho câu trước.

             2.- Giáo-lý Tứ-Ân đã được Đức Phật-Thầy Tây-An khai-thị và đã được Đức Huỳnh Giáo-Chủ nối tiếp và xướng-minh, đó là nền tảng căn-bản của pháp môn Học Phật Tu Nhân mà các môn nhân, đệ tử thuộc giáo-hệ Bửu-Sơn Kỳ-Hương, và tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo cần phải hành theo. Trong Giáo-lý Tứ-Ân thì Ân Tổ-Tiên Cha Mẹ được đặt lên hàng đầu, người con hiếu thảo có bổn phận phải đền đáp ân Tổ-Tiên Cha Mẹ. Vì vậy, nó bao gồm và vượt ra ngoài ý-nghĩa của chữ Nhẫn Phụ-Mẫu (tức là nhẫn-nhục đối với Cha Mẹ). Nếu nói rằng: chúng ta phải nhẫn-nhục đối với Cha Mẹ, có nghĩa là Cha Mẹ làm những điều sai quấy, phiền lòng ta nên ta phải nhẫn. Nói như vậy là còn thiếu so với ý-nghĩa của Ân Tổ-Tiên Cha Mẹ mà Đức Thầy đã dạy: “Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm-lẫn trái với nhân-đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên-lơn ngăn-cản. Chẳng thế ta còn phải lo nuôi dưỡng báo đền, lo cho cha mẹ khỏi đói rách, khỏi bịnh-hoạn ốm-đau, gây sự hòa-hảo trong đệ-huynh, tạo hạnh-phúc cho gia-đình, cho cha mẹ vui lòng thỏa-mãn.” (Những điều sơ-lược cần biết của kẻ tu-hiền – Quyển 6, trang 181 SGTVTB 2004).

             Như Đức Thầy đã dạy:

                  “Vẹn mười ơn mới đạo làm con,

                  Lúc sanh-sống chớ nên phụ-bạc.”

                 (Câu 351 – 352 Q.2 Kệ Dân của Người Khùng – trang 83 SGTVTB 2004)

hay là

                           “Học theo mối đạo làm con,

                 Luận xem học mới mấy đon đời nầy.”

                                  (Câu 519 – 520 Q.3 Sám Giảng – trang 108 SGTVTB 2004)

                          “Ở cho biết nhượng biết tùy,

                  Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan.”

                                  (Câu 349 – 350 Q.3 Sám Giảng – trang 102 SGTVTB 2004)

             Rõ ràng, đó là hành-sử bổn-phận của người con hiếu thảo để đền-đáp công-ơn đối với cha mẹ, nó vượt hẳn ra ngoài ý-nghĩa nhẫn-nhục đối với cha mẹ (tức Nhẫn Phụ-Mẫu), không phân-biệt đó là kẻ (chỉ hạng trí-thức) hay người thiếu học thức. Vì vậy, nói rằng: Nhẫn Phụ-Mẫu gọi trang hiền-sĩ,” là chưa đúng với ý-nghĩa mà Đức Thầy muốn truyền-đạt.

             3.- Xét về phương-diện lịch-sử và thời-gian tính, Đức Thầy viết hai bài thơ Đạt Đạo Ngao Du Châu Di Viễn CậnBát Nhẫn trưóc mặt Ông Bảy Còn vào khoảng thời-gian ngắn sau ngày khai-sáng Đạo PGHH (18-5 năm Kỹ-Mão) tại làng Hòa-Hảo, và Quyển Tư – Giác Mê Tâm Kệ viết vào ngày 20 tháng 9 năm Kỹ-Mão (1939), trong đó có giảng-giải bài thơ Bát Nhẫn, nghĩa là khoảng cách thời gian trong vòng 4 tháng, có lý nào Đức Thầy lại giải-thích: “Nhẫn hòa Phu-Phụ thuận tình duyên.” (bài thơ Bát Nhẫn) là “Nhẫn-Phụ-Mẫu gọi trang hiền-sĩ, Phận xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.” (Giác Mê Tâm Kệ, trang 139 SGTVTB 2004). Nếu Đức Thầy nói 2 lần khác nhau như vậy (chỉ trong 1 thời-gian ngắn) thì làm sao có thể chứng-minh cho mọi người tin-tưởng rằng Ngài là bậc tái-sanh của Đức Phật-Thầy Tây-An được. Như chúng ta đã biết, Đức Thầy là bậc siêu-phàm, nếu ai đã từng dõi gót theo Ngài đều phải công-nhận Ngài là bậc “mồm sông bút sấm”. Một điều đặc-biệt đáng chú-ý hơn nữa là trong khi cầm bút, dù tản-văn hay vận-văn, Ngài luôn luôn viết thẳng một mạch không vấp không ngưng, không dùng giấy nháp như các văn-sĩ thường làm. Điều đó cho thấy Nhẫn Phụ-Mẫu là do lỗi kỹ-thuật trong quá-trình ấn-loát đã in sai, đúng ra là “Nhẫn Phu-Phụ”. Như chúng ta đã biết, sự sai-sót nầy đã xảy ra quá lâu, nên đa số đồng-đạo cứ nghĩ đó là do Đức Thầy giải-thích như vậy trong quyển Giác Mê Tâm Kệ, và rồi cứ tiếp-tục giải-thích sao cho “thuận ý hợp tai.”

             Tóm lại, với các phân-tích trên đây, chúng tôi mong rằng Quý Đồng-đạo nên xét lại chữ Nhẫn Phụ-Mẫu, đề-nghị in lại thành “Nhẫn Phu-Phụcho phù-hợp với ý-nghĩa của bài thơ “Bát Nhẫn”, để chứng-minh rằng Đức Huỳnh Giáo-Chủ là vị tái-sanh từ Đức Phật-Thầy Tây-An, cũng như Ngài đã từng dẫn-chứng ở nhiều nơi khác trong quyển SGTVTB, nghĩa là:

                              Nhẫn Phu-Phụ gọi trang hiền-sĩ,

                                Phận xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.”

3.  Đề-nghị đem bài thơ “Đạt Đạo Ngao Du Châu Di Viễn Cận vào quyển SGTVTB, in trước bài thơ “Bát Nhẫn”.

         Như đã nói trên, hai bài thơ nầy đã được Đức Thầy viết trước mặt Ông Bảy Còn để chứng-minh Đức Phật-Thầy Tây-An tái-sanh là Đức Huỳnh Giáo-Chủ, bài thơ “Bát Nhẫn” đã được đem vào quyển SGTVTB, nhưng bài thơ Đạt Đạo Ngao Du Châu Di Viễn Cận” bị bỏ sót. Vì vậy, chúng tôi đề-nghị đem bài thơ Đạt Đạo Ngao Du Châu Di Viễn Cận” kế trước bài thơ “Bát Nhẫn” vào quyển SGTVTB ấn bản 2013 vì giá-trị lịch-sử và để tránh sự thất-lạc bài thơ sau nầy.

         Tương-tự, bài thơ “Báo Hiếu Đạo Nhà” (trang 561 SGTVTB 2004) cũng đã được thêm vào ấn bản 2004, trong khi các ấn bản 1965, 1966, ... thì không thấy bài thơ nầy.

4.  “Luân-lý Tứ-Ân” hay “quân lý Tứ-Ân” ?

    Trong Quyển Ba – Sám Giảng, Đức Thầy có viết như sau:

                          “Nào là luân-lý Tứ-Ân,

                  Phải lo đền-đáp xác thân mới còn.”

                                                    (câu 85 – 86 trang 94 SGTVTB 2004)

         Tuy nhiên, trong bài “Vọng Bắc Hòa Nam” lại có câu:

                  “Câu quân lý Tứ-Ân chạm dạ,

                  Nếu chẳng gìn phải đọa đừng than.”

                 (câu 16 – 17 trang 423 bài “Vọng Bắc Hòa Nam” SGTVTB 2004)

         Nếu xét về ý-nghĩa của hai câu thơ nói trên trong Quyển Ba và hai câu thơ trong bài “Vọng Bắc Hòa Nam” thì gần như cùng nghĩa. Nhưng tại sao lại có sự “tiền hậu bất nhất” khi nói về Tứ-Ân, “luân-lý Tứ-Ân” hay “quân lý Tứ-Ân” ? Có phải đây là do lỗi kỹ-thuật trong quá-trình ấn-loát?

         Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu ý-nghĩa của chữ luân-lý và sau đó là quân lý.

         Luân-lý: luân thường đạo-lý; điều lý-lẽ, đạo-đức của con người (theo Tự-Điển Việt-Nam của Thanh-Nghị, giấy phép xuất-bản ngày 12-5-1958 tại VN).

         Quân lý: chữ nầy không có trong tự-điển tiếng Việt. Có người giải-thích rằng chữ Quân bắt nguồn từ chữ “quân thần”, do đó, chữ quân lý có nghĩa là “đạo Vua Tôi”. Lời giải-thích nầy mới nghe qua có vẻ hợp lý, nhưng nếu ghép vào quân lý Tứ-Ân thì không đúng bởi vì trong luân-lý Tứ-Ân có ân thứ hai là Ân Đất-Nước, ân nầy cao cả, trọng đại bao gồm cả “đạo Vua Tôi”.

         Do đó, xin Quý Đồng-đạo xem lại chữ quân lý Tứ-Ân, đây là do lỗi kỹ-thuật trong quá-trình ấn-loát, đề-nghị dùng chữ luân-lý Tứ-Ân cho đồng nhất với câu nói trước của Đức Thầy.

         Cũng tương tự, câu thơ: “Một câu quân lý Tứ-Ân,” (Câu 313 bài “Để Chơn Đất Bắc”, trang 312 SGTVTB 2004) trở thành “Một câu luân lý Tứ-Ân,” cho đồng nhất trong cùng một quyển SGTVTB của Đức Huỳnh Giáo-Chủ.

5.  “... Sai hay hoặc nguyền-rủa”?

         Trong bài “Lời Khuyên Bổn-Đạo” (tức Tám Điều Răn Cấm) có viết:

         Điều thứ tư: Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai hay hoặc nguyền-rủa vì Thần Thánh không can phạm đến ta.” (trang 214 SGTVTB 2004).

         Trong ngôn-ngữ tiếng Việt, chữ hayhoặc có cùng ý-nghĩa. Do đó, không thể nói liên-tục như trường-hợp trên, tiếng Anh và tiếng Pháp cũng tương-tự như vậy. Thí dụ: Ngày mai tôi đi Sài-gòn bằng xe hơi (auto), hay bằng xe đò, hoặc bằng máy bay (airplane), chứ có ai nói: Ngày mai tôi đi Sài-gòn bằng xe hơi hay hoặc bằng xe đò, bằng máy bay ?

         Trong điều thứ tư nói trên, người đánh máy hoặc ấn-công đã làm dư chữ hoặc. Chúng ta hãy đọc lại điều thứ tư nói trên sau khi bỏ ra chữ hoặc:

         Điều thứ tư: Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai hay nguyền-rủa vì Thần Thánh không can phạm đến ta.”

         Về ý-nghĩa, không có gì thay đổi. Hơn nữa, lại đúng với cú-pháp viết tiếng Việt. Tuy nhiên, chữ “sai” khi dùng độc nhất như vậy thì rất mơ-hồ, có thể là sai chạy, sai con, sai-dịch, sai lầm, sai lời, sai-khiến, sai số, sai ước, v.v... Vì vậy, chữ sai cần phải đi chung với một chữ nữa thì mới rõ nghĩa. Theo lời giải-thích của Ông Thiện-Tâm (Cố Đồng-đạo Bùi-Văn-Ưởng), đó là từ sai-khiến, như lời giải thích sau đây trong Quyển Trung Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ CHÚ GIẢI về điều răn cấm thư tư như sau: “Từ lâu người nước ta, nhứt là giới nữ hễ giận hoặc ghét ai nhứt là đối với con cháu thì thường có tật kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai-khiến hoặc trù rủa...” (trang 184 SGTVTB Chú Giải Quyển Trung của Thiện-Tâm).

         Đức Thầy là bậc siêu-phàm, lẽ nào Ngài lại viết sai cú pháp, không rõ-ràng trong điều răn cấm thứ tư như thế, Ngài đã từng daỵ:

             “Quyết dạy trần nên nói lời thường,

               Cho sanh-chúng đời nay dễ biết.”

                          (Câu 47-48 Giác Mê Tâm Kệ – Q4, trang 116 SGTVTB 2004)

         Do đó, đây chính là lỗi trong quá-trình ấn-loát, đề-nghị Quý Đồng-đạo xem xét lại, và nên in thành:

         Điều thứ tư: Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai-khiến hay nguyền-rủa vì Thần Thánh không can phạm đến ta.”

6.  Long-hoa hải-hội” hayLiên-hoa hải-hội” ?

         Trong “Bài Nguyện trước bàn thờ Phật” (bài “Tây-Phương ngũ nguyện”, trang 211 SGTVTB 2004) có đoạn:

         Nam-Mô nhứt nguyện-cầu: Thiên-Hoàng, Địa-Hoàng, Nhơn-Hoàng, Liên-hoa hải-hội, thượng Phật từ-bi, Phật-vương độ chúng, thế-giới bình-an.”

         Thật ra, câu nguyện nầy không đúng với nguyên bản của Đức Thầy viết, xin mời đọc đoạn trích dẫn sau đây từ quyển “Đức Huỳnh Giáo-Chủ” của Ông Vương-Kim (tức Phan-Bá-Cầm, Sử-Gia Phật-Giáo Hòa-Hảo) từ trang 97 – 100 ấn bản 1974 tại VN):

         “Để đáp ứng sự đòi hỏi của tín đồ quá đông đảo, Sấm Giảng phải in thành sách, chớ không thể chép tay hay đánh máy như lúc ban sơ. Nhưng muốn in, nhà in đòi hỏi phải có giấy phép của sở kiểm duyệt. Như có lần anh em đem kiểm duyệt, nhà cầm quyền giữ lại một thời gian, vì có những câu chúng không chấp thuận. Nếu bằng lòng sửa chữa lại, chúng mới cho phép in. Những điểm chúng kiểm duyệt là những câu nói về Thánh Chúa.

         .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. ..

         Cũng như trong bài Ngũ nguyện, về câu nguyện thứ nhứt:

         Nam mô nhứt nguyện cầu: Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhơn hoàng Long Hoa hải hội, Thượng Phật từ bi, Minh Vương trị chúng, thế giới bình an.”

         Sau phải sửa lại:

         Nam mô nhứt nguyện cầu: Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhơn hoàng, Liên hoa hải hội, Thượng Phật từ bi, Phật vương độ chúng, thế giới bình an.”

         Ngoài ra, chúng còn cho lính theo dõi và chép được những bài chưa in ra, nhưng được truyền tay, truyền khẩu nhau có tánh cách chống Pháp.”

         .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. ..

         Mặc dầu sách in được kiểm duyệt, các bài truyền khẩu được lột bỏ những điểm chống Pháp, nhưng những khoản kiểm duyệt cũng như những bài truyền khẩu có tánh cách chống Pháp được kết tập thành hồ sơ kể cả những cuộc đối đáp của Đức Huỳnh Giáo Chủ với những người đến tiếp kiến, những ý kiến được xem là bài Pháp hay phục hồi đế nghiệp hoặc phục quốc cũng được chúng sưu tầm và mật báo tất cả. Chẳng hạn như câu Ngài đáp một người hỏi Ngài tại sao tu mà còn để tóc, không thế phát như các nhà sư thì Ngài đáp một cách khí khái: Vì tôi không muốn để người ta cạo đầu.

         Danh từ “cạo đầu” được bọn gia nô diễn dịch là có ý bất phục đối với nhà cầm quyền bảo hộ.

         Sở Liêm phóng cho sưu tập những tư tưởng “phản nghịch” ấy lập thành hồ sơ, và sau khi nghiên cứu, chúng đi đến kết luận: Đức Huỳnh Giáo Chủ là người khá nguy hiểm và nền Đạo của Ngài là một tổ chức “chống Pháp” trá hình tôn giáo rất nguy hại cho an ninh, chánh sách thực dân thống trị. Do đó mà chúng quyết định an trí Ngài.”

         (hết trích)

         Trong bài “Sứ-mạng của Đức Thầy”, Ngài có dạy như sau: “Phật-Vương đà chỉ rõ máy diệu-huyền chuyển lập hội Long-Hoa, chọn những đấng tu-hành cao công-quả để ban cho xứng vị xứng ngôi, ... khuyên kẻ thế hướng thiện quày đầu, cải-tà qui-chánh thì mới mong Thiên-Đình ân-xá bớt tội-căn để kíp đến Long-Hoa chầu Phật” (trang 30 SGTVTB 2004).

         Ngài còn cho biết:

                          “Muôn thu thiên-định nhứt kỳ,

                 Hạ-nguơn sắc-lịnh khai kỳ Long-Hoa.”

                          (câu 57 – 58 bài “Thiên Lý Ca”, trang 237 SGTVTB 2004)

         Đức Thầy còn cho biết rõ thêm về sứ-mạng của Ngài:

                  “Khùng vưng lịnh Tây-Phương Phật-Tổ,

                   Nên giáo-truyền khắp cả Nam-Kỳ.

                   Hội Long-Hoa chọn kẻ tu-mi,

                   Người hiền-đức đặng phò chơn Chúa.”

         Kế tiếp, Ngài cho biết thêm:

                          Lập rồi cái Hội Long-Hoa,

                  Đặng coi hiền-đức được là bao nhiêu.

                          (câu 71 – 72 Quyển 3 Sám Giảng, trang 93 SGTVTB 2004)

         Đức Thầy khuyến tấn chúng-sanh lo tu-hành hiền-đức để có mặt tại Hội Long-Hoa:

                          “Trở chơn cho kịp Long-Hoa,

                 Long-Hoa có mặt ấy là hiền nhơn.”

                          (câu 64 – 66 bài “Thiên Lý Ca”, trang 237 SGTVTB 2004)

         Hay là:

                          Long-Hoa Tiên Phật đáo ta-bà,

                            Lừa-lọc con lành diệt quỉ ma.”

                 (“Thức-tỉnh một nữ tín-đồ ở Bạc-Liêu”, trang 432 SGTVTB 2004)

         Rán lo niệm Phật, làm y chánh-pháp, Đức Thầy hứa sẽ dắt đến Hội Long-Hoa:

                  “Thiện-duyên ấy cũng tại nơi ta,

                   Hộ niệm oai-linh Đức Phật-Đà.

                   Sớm, tối, đi, nằm, y chánh-pháp,

                   Thầy nguyền dắt đến cảnh Long-Hoa.”

(“Cho ông Hạnh, rể của ông Võ-Văn-Giỏi” ở Bạc-Liêu, trang 417 SGTVTB 2004)

         Ngoài ra, Đức Thầy còn viết ra bài thơ sau đây để cho anh em tín-đồ nguyện trước khi niệm Phật:

                                  NIỆM DI-ĐÀ

                          Mắt nhìn trần đỏ niệm Di-Đà,

                          Nguyện vái thân nầy khỏi đọa-sa.

                          Muôn đạo hồng quang oai Đức Phật,

                          Soi đường minh-thiện đến Long-Hoa.

                                                   (“Niệm Di-Đà”, trang 420 SGTVTB 2004)

         Như Đức Thầy cho biết, hội Long-Hoa được lập ra vào cuối đời Hạ-nguơn để chọn người hiền-đức ở cõi Ta-Bà để lập lại đời Thượng-nguơn Thánh-đức.

         Còn chữ “Liên-hoa” thì đã được Đức Thầy giải-thích như thế nào trong quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ?

         Trong bài “Bát-Chánh”, mục “Chánh Mạng”, Đức Thầy có cho biết: “Thế nên, hãy xa lánh những điều làm tinh-thần bị đen-tối; bỏ hết đài-các xa-hoa, thân mình tự-chủ để tìm chỗ bất-diệt bất-sanh; thiền-định đặt làm thể, trí-tuệ đặt làm mạng, linh-hồn nhập liên-hoa, siêu-sanh vào cõi Niết-Bàn.” (trang 198 SGTVTB 2004). Vì vậy, liên-hoa ở đây có nghĩa là hoa sen của chư Phật ở cõi Niết-Bàn.

         Nói cách khác:

                          Liên-hoa đua nở nụ cười,

                  Rước tôi lương-đống chào người chơn tu.”

                                  (“Xuân-Hạ Tác Cuồng-Thơ”, trang 239 SGTVTB 2004)

         Đức Thầy còn cho biết rất rõ “Liên-hoa” là ở đâu qua đoạn thơ sau đây:

                          Liên-hoa chín phẩm ở ngọc tòa,

                            Được lịnh Thiên-Hoàng nấy sai ta.

                            Hạ-giái dạy khuyên truyền đạo-lý,

                            Giả dạng Điên Khùng mượn thi ca.”

                                           (“Để Chơn Đất Bắc”, trang 239 SGTVTB 2004)

         Qua sự phân-tích và trích-dẫn về ý-nghĩa của hai từ “Long-hoa” và “Liên-hoa” trên đây, chúng tôi đề-nghị câu nguyện thứ nhứt trong bài “Tây-Phương ngũ nguyện” nên đổi chữ “Liên-hoa” thành chữ “Long-hoa” cho đúng với nguyên bản và cũng là đúng với ý của Đức Huỳnh Giáo-Chủ:

         Nam-Mô nhứt nguyện-cầu: Thiên-Hoàng, Địa-Hoàng, Nhơn-Hoàng, Long-hoa hải-hội, thượng Phật từ-bi, Phật-vương độ chúng, thế-giới bình-an.”

         Xin lưu-ý, chúng tôi không đề-nghị thay-thế chữ “Phật-vương độ chúng” thành “Minh-vương trị chúng” theo như nguyên bản vì việc xin giấy phép xuất-bản không được chấp-thuận, vì bị hiểu lầm là Phật-Giáo Hòa-Hảo chủ-trương phục-hồi “chế-độ Quân-Chủ” (vào các thời-kỳ khác nhau kể từ khi khai-sáng nền Đạo Phật-Giáo Hòa-Hảo).

7.  Đề-nghị đem hai đôi liễn tại chùa Linh-Quang-Tự vào quyền Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ.

         Xin trích một đoạn sau đây từ quyển “Thất Sơn Mầu Nhiệm” của Dật-Sĩ và Nguyễn-Văn-Hầu, trang 248:

        Trong một dịp đi khuyến nông vào ngày 9 tháng 5 năm Ất-Dậu (18-6-1945 d.l.), Đức Huỳnh Giáo-Chủ có đi ghe vô Linh-Quang-Tự của ông Chung-Bá-Khánh dựng trong đồn điền của ông ở làng Vĩnh-Lợi (Bạc-Liêu) và thuyết pháp tại đây.

         Chính Đức Thầy đã đặt tên cho ngôi chùa nầy và có làm hai đôi liễn (theo lời yêu cầu của ông Khánh) như vầy:

   a.  Phật-pháp khai-thông, khổ-hải trùng-trùng tâm bất khiếp,

        Trần-duyên bế-tắc, liên-đài điệp-điệp đạo vô cùng.

   b.  Phật-pháp hoằng-khai, chuẩn-tế thương-sanh đăng giác-ngạn,

       Trần-tâm tịnh-tận, siêu-thăng cực-lạc tọa liên-đài.

         ....” (hết trích)

         Xin chú-thích: Ông Dật-Sĩ, tức là Giáo-Sư Trần-Văn-Nhựt, cựu Hiệu-Trưởng Trường Trung-Học Thánh-Địa Hòa-Hảo, giảng dạy môn Pháp-Văn và Giáo-lý PGHH, Ông cũng là Chánh Thư-Ký của Hội-Đồng Trị-Sự Trung-Ương Giáo-Hội Phật-Giáo Hòa-Hảo nhiệm-kỳ I (1964 – 1966). Ông Nguyễn-Văn-Hầu, Giáo-Sư dạy môn Việt-Văn và Giáo-lý PGHH tại Trường Trung-Học Thánh-Địa Hòa-Hảo, Giáo-Sư dạy môn Việt-Văn tại trường Trung-Học Thủ Khoa Nghĩa (Châu-Đốc), Trưởng-Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-Ương nhiệm-kỳ I (1964 – 1966).

         Như chúng ta đã biết, quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ của Đức Huỳnh Giáo-Chủ sẽ được tái ấn-tống vào các thời-kỳ khác nhau, nhưng quyển “Thất Sơn Mầu Nhiệm” của Dật-Sĩ và Nguyễn-Văn-Hầu có thể sẽ không được tái-bản. Vì vậy, để tránh tình-trạng thất-lạc những lời vàng ngọc của Đức Thầy, chúng tôi đề-nghị đem hai đôi liễn nói trên vào quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ của Đức Huỳnh Giáo-Chủ, kể từ ấn bản 2013.
 
Comments