1) Những điều Sơ lược cần biết của kẻ tu hiền

I. NHỮNG ĐIỀU SƠ LƯỢC CẦN BIẾT CỦA KẺ TU HIỀN

 

          Đức Thầy viết Quyển 6 vào khoảng tháng 5 năm 1945 ( Ất Dậu ) tại Sài Gòn.

            Đại lược Quyển 6 gồm có nhiều đề tài ngắn như: Tứ ân, Thập ác, Bát chánh đạo, Nghi thức thờ phượng, Hành lễ, Tang ma, Hôn nhơn, Lễ bái, Cầu nguyện, cách xử thế tiếp vật, ... và Giới luật, mà cả thảy tín đồ PGHH đều xem đây là “Tôn Chỉ Hành Đạo”, là giáo lý căn bản cần được chấp hành nghiêm chỉnh trên đường Tu nhơn cũng như Tu Phật.

 CHÁNH VĂN

 (Đoạn mở đề)

            Đạo Phật từ xưa đến nay luôn luôn phân làm hai hạng người:

            1)  Hạng xuất gia.

            2)  Hạng tại gia.

            HẠNG XUẤT GIA: Gồm có các nhà sư hay những ni-cô đã hoàn toàn ly khai với gia-đình, quê-hương, bè-bạn, dựa thân vào cửa Thiền hoặc núi non am-cốc, hằng ngày chỉ chuyên lo kinh kệ, săn-sóc cảnh dà-lam, trau-luyện đức lành, giồi-mài trí-tuệ hầu giảng-giải cho bá-tánh, thập phương nghe để quày đầu hướng thiện quy-y Phật pháp, không còn thiết đến việc đời. Gia đình nhà-cửa của nhà sư là cả thế-gian, thân-quyến nhà sư là khắp cả nhân-loại đại-đồng.

            Đó là hạng người dốc tu cho mau thành Phật-quả, thoát kiếp luân-hồi.

            HẠNG TẠI GIA: Gồm tất cả đại-chúng, tất cả thiện-nam tín-nữ chưa đủ những điều-kiện xuất-gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông tổ-quốc, với gia-đình, với đồng-bào xã-hội, nên chưa thể làm như các nhà sư hay ni-cô đặng. Tuy vậy họ cũng sẵn-sàng hoan-nghinh ca-tụng lý-tưởng từ-bi bác-ái đại-đồng của nhà Phật và Luật Nhân-Quả do Phật thuyết ra. Thế nên ở tại nhà, họ phượng thờ Đức Phật, phát-nguyện quy-y, giữ gìn ít điều giới-luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh, răn lòng, ủng-hộ các nhà sư. Như thế họ cũng lần lần lên con đường giải-thoát.

            Đây là hạng người  học Phật tu Nhân.

            Bàn xét như trên, thấy rằng toàn thể trong Đạo chúng ta thuộc hạng tại-gia cư-sĩ, học Phật tu Nhân vậy.

            Sách xưa có câu: “Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi tiên” (muôn vạn quyển kinh của Phật Thánh Tiên đều dạy sự hiếu nghĩa làm đầu). Hôm nay đã quy-y đầu Phật tu niệm tại-gia, ta hãy cố-gắng vưng lời Thầy, Tổ đã dạy, lo tròn câu hiếu-nghĩa.

            Đức Thầy Tây-An thuở xưa thường khuyến-khích các môn-nhơn đệ-tử rằng: muốn làm xong hiếu nghĩa có bốn điều ân ta cần phải hy-sinh gắng-gổ mới mong làm trọn.

1.- Ân Tổ-Tiên cha mẹ, 

2.- Ân Đất-Nước,

3.- Ân Tam-Bảo,

               4.- Ân Đồng-Bào và Nhơn-loại ( với kẻ xuất gia thì ân đàn-na thí-chủ ).

                                               ( SGTVTB 2004, tr. 179-180 )

 

LƯỢC GIẢI :

(Đoạn mở đề)

            Bởi tùy theo căn cơ và hoàn cảnh thích hợp với người tu hiện thời, nên Đức Thầy lược kể những cương yếu, cho mỗi tín đồ tiện bề tu học đúng theo tôn chỉ của Đạo.

            Trước hết Ngài nhận xét về hai hạng tu: xuất gia và tại gia đã có trong Đạo Phật từ trước. Để rồi Ngài xác định hầu hết môn đồ PGHH đều là hạng “tại gia cư sĩ học Phật tu Nhân”, mà chính Ngài đã nêu gương hạnh, trong một đoạn giảng:

               Ta là cư-sĩ canh điền,

   Lo nghề cày cuốc cũng chuyên tu hành.

               Xa nơi tranh-đấu lợi-danh,

   Giữ lòng thanh-tịnh tánh lành trau-tria.

               Gắng công trì niệm sớm khuya,

   Thân tuy còn tục tâm lìa cõi mê”.

            Vì rằng xuất gia với hình thức suông, cũng chưa giải thoát luân hồi mà phải xuất gia bằng nội tâm, mới ra khỏi nhà lửa tam giới. Sở dĩ Ngài đề vạch tôn chỉ Học Phật Tu Nhân, là vì nếu người riêng tu Nhân mà không tu Phật thì chỉ tiến tới bực siêu nhân thôi, chớ chưa thoát vòng sanh tử. Bằng chỉ tu Phật, chẳng hành xử Đạo Nhân, tuy được phần tự giác và nhàn tịnh, nhưng dễ bị kẹt vào tư tưởng tiêu cực, yếm thế, không thực hiện được tình từ bi cao thượng trong quảng đại quần chúng. Đã không đền được nợ thế, lại thiếu phần nhân nghĩa phước đức, như Đức Thầy hằng khuyên:

                        Tu đền nợ thế cho rồi,

               Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen”.

            Và:      Bạch trinh giữ lấy nghĩa nhân,

                  Muốn về cõi Phật, lập thân cõi trần”.

            Vậy nhà tu có lập thân cõi trần mới trả xong nợ thế, và thiệt thi được lòng giác tha để đạt đến giác hạnh viên mãn, chứng thành Phật quả.

            Lại nữa, Đạo Nhân như nấc thang đầu, Đạo Phật như nấc thang chót, nếu hành giả bước nấc đầu rồi đứng đó, ắt không bao giờ đạt được mục đích. Bằng muốn leo lên nấc thang chót mà chẳng chịu bước nấc đầu, cũng không khi nào kết quả. Cho nên cả Đạo Nhân và Đạo Phật, người tín đồ PGHH phải đồng hành cho trọn vẹn.

            Tóm lại, có tu nhân mới trả xong nợ thế, dứt nghiệp sanh tử và tạo được vô lượng phước đức để làm nền tảng trên đường giải thoát. Và có tu Phật mới diệt tận phiền não vô minh, để trí huệ phát khai, kiến tánh thành Phật, hoặc siêu sanh về Lạc quốc. Đức Thầy đã viết một bài thi hàm chứa cả tu Nhân lẫn tu Phật:

            Nhơn sanh hiếu nghĩa dĩ vi tiên,

            Hành thiện tri kinh thị sĩ hiền.

            Kiếm huệ phi tiêu đoàn chướng nghiệp,

            Phật tiền hữu nhựt vĩnh an nhiên”.

            (Câu 1 và câu 2 của Bài thi dạy về tu Nhân. Câu 3 là dạy cách học Phật và tu Nhân. Câu 4 chỉ cho sự kết quả của người tu.)

 

CHÚ THÍCH :

            SƠ LƯỢC: Lược qua những phần cương yếu, cần thiết, chớ không lý luận dài dòng chi tiết. Đức Thầy nói: “Lấy yếu lược đôi câu mà trần tố.

            TU HIỀN: Trau giồi những điều phước lành tốt đẹp và chừa bỏ những điều xấu xa tội ác, rèn luyện cả khả năng và đức hạnh. Nên chữ tu hiền ở đây gồm cả tu Nhân và tu Phật. Kinh Minh Thánh có câu:“Bất du Thánh Đạo, an đắc vị hiền” (Không vào Thánh Đạo sao gọi là người hiền). Đó là tu Nhân. Còn trong bài qui y, Đức Thầy dạy: “Qui y theo mấy Ngài tu hiền theo Phật Đạo. Bởi có tu hành theo Phật Đạo mới được trọn lành, trọn sáng; ấy là tu Phật.

            ĐẠO PHẬT: Cũng gọi là Phật Đạo hay Phật Giáo, là một trong những nền Đạo lớn nhứt trong thế giới. Phát khởi từ cõi Thiên Trước (Ấn Độ), do Đức Thích Ca làm Giáo Tổ, trước Tây lịch 544 năm. Là nền Đạo dạy người tự tu, tự ngộ, tự giác, giác tha, và giác hạnh viên mãn, tức là thành Phật, nhằm mục đích giải khổ cho toàn thể chúng sanh.

            Sau Đức Thích Ca tịch diệt thì các vị Tổ kế truyền, và những nhà tu đắc đạo tiếp tục quảng bá Đạo Phật lan rộng trong nhân gian. Hiện nay có hơn 800 triệu tín đồ sùng ngưỡng, chiếm tỷ số hơn một phần ba thế giới. (Ban HĐ: Theo Từ Điển Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, số tín đồ PG trên thế giới rất khó ước tính và có sự sai biệt rất lớn giữa các nguồn cung cấp, một ước tính mới nhất mà Bộ Từ Điển nầy ghi trong năm 2011, số tín đồ PG như sau: Thế giới: 1.548.258.682 người/6.671.226.000 dân số thế giới, chiếm 23,208%;  Việt Nam : 72.473.003 người/85.262.352 dân số VN, chiếm 85%; Hoa Kỳ: 6.022.799 người/301.139.947 dân số HK, chiếm 0,2%; ...). Phật Giáo là tôn giáo có đông tín đồ hàng thứ 3 sau Cơ đốc giáo (Christianity) và Hồi giáo (Islam) – một ước tính khác ghi hàng thứ 4 tức sau cả  Ấn độ giáo (Hinduism).

            NHÀ SƯ: Ông thầy tu theo Đạo Phật, chỉ cho các  tăng sĩ Phật giáo, hoặc các Thầy giảng giải giáo lý Đạo Phật. Nhà Sư là danh từ thông dụng để gọi chung trong giới Tăng Đồ, vừa tu vừa giảng dạy Đạo Phật cho đại chúng nghe.

            NI CÔ: Giới nữ tu hạnh xuất gia, thường ở chùa hay am cốc.

            CỬA THIỀN: Do chữ Thiền môn. Có nghĩa cửa chùa hay cửa Phật, cũng chỉ cho cửa Đạo:“Đạo cả nào trông đến cửa Thiền”( ĐT) .

            AM CỐC: Am là cái nhà nhỏ, có trang trí thờ phượng như cái chùa; cốc là hang trên núi hoặc cái lều nhỏ không cần thờ phượng. Am cốc là nơi các nhà tu ở.

            KINH KỆ: Kinh, phiên âm Phạn ngữ “Tu-đà-la”(sutras) Tàu dịch là tuyến, nghĩa như sợi dây xâu các hột châu lại thành chuỗi. Tức là Phật nói ra các pháp rồi những đệ tử kết tập lại thành Kinh, lưu truyền đời sau. Kệ là một thể văn trong Kinh Phật, thường cứ một thiên kinh là có một bài Kệ, để tán tụng hoặc tóm tắt đại ý hay diễn dịch ra. Chữ Kinh Kệ nói chung là chỉ cho tất cả lời của Phật của Thầy nói ra để giáo hóa chúng sanh.

            Kệ Kinh tụng niệm đêm thanh,

             Ấy là châu ngọc để dành về sau”. (ĐT) 

            DÀ LAM: Cũng viết là Già Lam, nói cho đủ là Tăng già lam. Có nghĩa là cảnh vườn chùa, chỉ chung cho các ngôi chùa.

            BÁ TÁNH: Trăm họ, chỉ chung cho tất cả mọi người trong thế gian.

            THẬP PHƯƠNG: Mười phương hướng, chỉ cho 8 hướng chung quanh và 2 hướng trên và dưới, tức là: Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam,Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, Thượng phương và Hạ phương. Thập phương là tiếng chỉ chung cho khắp thế giới hoặc khắp chư Phật hay chúng sanh.

                 Nguyện mười phương chư Phật đáo lai”.( ĐT)

            QUI Y: Qui là nương về. Y là làm theo. Nghĩa chung là nương về với Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) và trì hành theo lời pháp giáo của Tổ Thầy đã dạy. Đức Thầy có giải:

            Quy là về, mà về đâu ? Về cửa Phật. Y có nghĩa là vâng lời theo khuôn mẫu. Vậy qui y đầu Phật là nương nhờ cửa Phật và làm y theo lời Phật dạy. Phật từ thiện cách nào ta phải từ thiện theo cách nấy, Phật tu cách nào đắc đạo rồi dạy ta, ta cũng làm theo cách nấy. Thầy cảnh tỉnh giác ngộ điều gì chánh đáng, thì khá vâng lời. Cần nhứt ở chỗ giữ giới luật hằng ngày”.

                        Qui y thì khá làm y,

                Giữ lòng thanh tịnh từ bi giúp đời”.( ĐT)

            PHẬT PHÁP: Giáo pháp của chư Phật. Tất cả tam tàng: Kinh, Luật, Luận đã có trong Đạo Phật từ trước và Kinh giảng của Đức Thầy hiện giờ đều gọi chung là Phật Pháp. Người tu Phật phải nương theo đó mà tu tập cho đến khi thành Đạo. Giáo pháp là một trong Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Đức Thầy từng khuyên:

            Phật pháp thiền na dốc thật hành”.

            ĐẠI ĐỒNG: Rộng lớn, bình đẳng, không phân biệt giới hạn, giai cấp. Chữ đại đồng ở đây chỉ cho sự bình đẳng rộng lớn khắp cả nhân loại chúng sanh. Đức Thầy thường cho biết:

            Dựng cuộc hòa minh khắp đại đồng”.( ĐT)

            PHẬT QUẢ: Cũng gọi là quả Phật, chỉ cho các bậc tu hành đã thành Phật, tức là hoàn toàn giác ngộ; gồm đủ tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn.

            LUÂN HỒI: Luân là bánh xe, hồi là xoay trở lại. Ý nói chúng sanh từ vô thỉ đến nay, hết sống rồi chết, chết rồi đầu thai trở lại; cứ thế mà lăn lộn xuống lên mãi trong 6 cõi phàm, như bánh xe xoay tròn không có đầu mối. Đức Thầy đã bảo:

            Từ nhỏ tuổi đến người trưởng lão,

             Mắc trong vòng sanh tử luân hồi”.

            ĐẠI CHÚNG: Số dân chúng rộng lớn. Ý chỉ cho hầu hết dân chúng.

            ĐIỀU KIỆN: Điều phụ vào, nhưng bắt buộc phải có trong sự cam kết định đoạt.

            XÃ HỘI: Những đoàn thể loài người có mối quan hệ sinh hoạt chung với nhau.

            HOAN NGHINH: Cũng viết là hoan nghênh. Có nghĩa tiếp đón và hoan hô, ca ngợi một cách vừa lòng vui thích.

            LÝ TƯỞNG: Tư tưởng cao cả và quí đẹp nhất về một vấn đề gì. Ví dụ: Lý tưởng đạo đức trên hết.

            LUẬT NHÂN QUẢ: Cũng gọi là “Luật quả báo”, tức là định luật trả vay của nhân và quả. Hễ mình làm việc lành hay dữ thì sớm muộn gì cũng có trả lại quả vui hay khổ. Đức Thầy cho biết:

            Luật nhân quả thật là cao viễn,

             Suốt cổ kim chẳng lọt một ai”.

            Sự quả báo có nhiều cách, tạm chia làm 5 phần:

            1-Hiện Báo: Quả báo trong một đời, hễ ai tạo việc lành hay dữ trong kiếp nầy thì sớm muộn gì cũng kết quả vui hoặc khổ trong kiếp nầy.

            2-Sanh Báo: Quả báo hai đời, là người gây nhân lành hay dữ trong đời nầy, qua đời kế đó mới kết quả vui hay khổ, hoặc gây tạo ở kiếp vừa qua mà kiếp nầy thọ hưởng.

            3-Hậu Báo: Quả báo nhiều đời, là nghiệp gây tạo ở nhiều kiếp trước, kiếp nầy trả, hoặc hành động ở kiếp nầy đợi tới nhiều kiếp sau mới trả.

            4-Nhồi Báo: Là nghiệp nhân đã gây tạo nhiều lần trong nhiều tiền kiếp, bây giờ phải trả dồn một lượt.

            5-Dư Báo: Là những nghiệp nhân yếu ớt hay thiếu trợ duyên từ vô lượng kiếp dẫn tới giờ còn sót lại. Vì hành giả tu hành tinh tấn, nên hạt giống đó không có cơ hội phát khởi, nhưng nó không úng chết. Đợi tới kiếp hành giả đắc Đạo mới bị trả một cách nhẹ nhàng.

            GIỚI LUẬT: Cũng gọi là giái cấm, giới luật do Thầy Tổ lập ra để răn cấm môn đồ không cho quấy phạm, như “Tám điều răn cấm”, hay 10 điều ác...“Gìn giới luật nghe Kinh trọng Phật”.( ĐT)

            HỌC PHẬT TU NHÂN: Hiểu theo văn tự là học cho thông suốt Đạo Phật và hành sử cho trọn vẹn Đạo Nhân, nhưng hiểu theo ý pháp của Đức Thầy thì tôn chỉ PGHH gồm có Đạo Nhân và Đạo Phật, mà mỗi tín đồ cần phải thực hành cả hai mới đạt đến mức cứu cánh, hoặc lấy tâm Phật mà hành Đạo Nhân mới siêu thoát.

            HIẾU NGHĨA: Hiếu hạnh và tiết nghĩa, cũng giải là thích làm việc phải, có ích lợi cho mọi người. Chữ hiếu nghĩa ở đây còn có nghĩa là thi hành việc Đạo nghĩa, tức là lo đền đáp tứ ân và đối xử cho tròn cái Đạo làm người: Nhơn sanh hiếu nghĩa dĩ vi tiên”.

            ĐỨC THẦY TÂY AN: Ngài quê ở làng Tòng Sơn, thuộc Cái Tàu Thượng, nay là xã Mỹ An Hưng, tỉnh Sa Đéc (Nam phần Việt Nam). Ngài sanh vào giờ Ngọ, ngày Rằm tháng 10 năm Đinh Mão (1807), niên hiệu Gia Long thứ VIII. Ngài khai Đạo đầu mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1849). Viên tịch vào giờ Ngọ, ngày 12 tháng 8 năm Bính Thìn (1856). Ngài chính danh là Đoàn Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh, người trong Đạo cũng như ngoài đời, đều xưng tụng Ngài là Đức Phật Thầy Tây An. Ngài khai sáng Tông Phái Bửu Sơn Kỳ Hương và là tiền thân của Đức Huỳnh Giáo Chủ (Xem lại chú thích “Đức Thầy Bửu Sơn”:  Q. Thượng, Tập 1/3, tr. 84-86).

            MÔN NHƠN ĐỆ TỬ: Môn nhơn là người học trò, đệ tử là con em. Trí năng do Thầy đào tạo ra nên gọi là con. Sự hiểu biết sau Thầy nên gọi là em. Hiểu chung bốn chữ “Môn nhơn đệ tử” là những người học trò trong một trường Đạo hay một môn phái.

            HY SINH: Con vật toàn một màu sắc, đem làm thịt dùng vào việc cúng tế. Ý nói người dám bỏ tất cả quyền lợi, danh vị, tài sản lẫn tánh mạng để làm được việc công nghĩa. Hy sinh vì Đạo là người dám liều thân hoặc dồn hết tâm lực để làm tròn việc Đạo pháp.

            GẮNG GỔ: Cố gắng làm để nên việc.

 

 I. BỐN TRỌNG ÂN :

 

            Bốn điều ân Đức Thầy rút nơi phẩm “Báo Tứ Ân” trong Kinh Tâm Địa Quán Đại Thừa Bồ Tát Đạo:“Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ”. Và cũng nối theo sự truyền giáo của Đức Phật Thầy trước kia:

            Loài cầm thú còn hay biết ổ,

             Huống chi người nỡ bỏ tứ ân”.

            Ngày nay Đức Thầy dạy:“Muốn làm tròn Nhân Đạo phải giữ vẹn tứ ân”. Đó là phần ân nợ (nợ do mình thọ ơn).

 

                                          1. Ân Tổ Tiên  Cha Mẹ

 

CHÁNH VĂN

            ÂN TỔ-TIÊN CHA MẸ : Ta sanh ra cõi đời được có hình-hài để hoạt-động từ thuở bé cho đến lúc trưởng thành, đủ trí khôn ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm trường ấy, cha mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc; nhưng sanh ra cha mẹ là nhờ có tổ-tiên nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có bổn phận phải biết ơn tổ-tiên nữa.

            Muốn đền ơn cha mẹ, lúc cha mẹ còn đang sanh-tiền, có dạy ta những điều hay lẽ phải, ta rán chăm chỉ nghe lời, chớ nên xao-lãng, làm phiền lòng cha mẹ. Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhân-đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên-lơn ngăn-cản. Chẳng thế, ta cần phải lo nuôi dưỡng báo đền, lo cho cha mẹ khỏi đói rách, khỏi bịnh-hoạn ốm-đau, gây sự hòa hảo trong đệ-huynh, tạo hạnh-phúc cho gia đình, cho cha mẹ vui lòng thỏa mãn. Rán cầu cho cha mẹ được hưởng điều phước thọ. Lúc cha mẹ quá vãng, hãy tu cầu cho linh-hồn được siêu-thăng nơi miền Phật cảnh, thoát đọa trầm luân.

            Còn đền ơn tổ-tiên, là đừng làm điều gì tồi-tệ điếm nhục tông môn, nếu tổ-tiên có làm điều gì sai lầm gieo họa đau thương lại cho con cháu, ta phải quyết chí tu cầu và hy-sinh đời ta làm điều đạo-nghĩa, rửa nhục tổ đường.

                                                ( SGTVTB 2004: tr.180-181 )

 

LƯỢC GIẢI :

(Ân Tổ Tiên Cha Mẹ)

            Cổ Đức từng bảo:“Trời đất có bốn mùa, mùa Xuân là đứng đầu. Người có trăm hạnh, Hiếu là trước nhứt”.(Thiên địa tứ thời Xuân tại thủ, nhơn sanh bách  hạnh Hiếu vi tiên.) Đức Thầy nay đã dạy:“Muôn việc lành hiếu thuận đứng đầu”.

            Nhà tu muốn vẹn tròn hạnh hiếu trước phải biết công ơn Tổ Tiên cha mẹ.

            1) LÝ DO THỌ ƠN CHA MẸ: Cây có cội, nước có nguồn, con người sở dĩ có thân, không phải chuyện ngẫu nhiên mà phải nhờ bao nhiêu công ơn của cha mẹ. Từ khi còn nằm trong bào thai, sanh ra và nuôi dưỡng cho đến lúc nên người. Công ơn ấy sách Thánh gọi là chín chữ Cù Lao:Phụ hề sanh ngã, Mẫu hề cúc ngã; ai ai phụ mẫu sanh ngã Cù lao dục báo thâm ân, hạo thiên võng cực”. Chín chữ Cù Lao gồm có : Sinh, Cúc là nuôi nấng, Phủ là an ủi vổ về, Dục là nuôi dạy, Cố là trông nom, Phục là quấn quít, Phụ là giúp đỡ nâng nhắc, Súc là nuôi cho lớn vóc và Phúc là bồng ẳm.. Còn Kinh Phật diễn tả 10 điều ơn của người con thọ nơi cha mẹ là:1.Thập ngoạt hoài thai: mười tháng cưu mang thai nghén, 2. Lâm sản thọ khổ: sanh đẻ chịu khổ, 3. Sanh tử vong ưu: sanh được con mừng mà quên lo rầu, 4. Yến khổ thổ cam : uống đắng nhổ ngọt, 5. Hồi can tựu thấp: nhường chỗ khô nằm chỗ ướt, 6. Nhũ bộ dưỡng dục: bú mớm và nuôi nấng, 7. Tẩy trạc bất tịnh: rửa ráy mọi điều dơ bẩn, 8. Viễn hành ức niệm: Con đi xa, cha mẹ nhớ tưởng, 9. Vị tạo ác nghiệp: vì con mà làm điều chẳng lành, 10. Cứu cánh lân mẫn: tình thương cha mẹ không có cái thương nào bằng. Chẳng thế, cha mẹ còn lo dạy dỗ cho con được khôn ngoan ngay thảo, đạo đức đối xử, nghề nghiệp sanh sống và gầy dựng tài sản để lại cho con. Ơn ấy thật sánh tày non biển:

                        Công cha như núi Thái Sơn,

             Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.(Ca dao)

            2) THỌ ÂN TỔ TIÊN: Xét ra, cha mẹ chẳng phải tự nhiên sanh mà phải nhờ tổ tiên, tức là nhờ ông bà từ trước sanh thành dưỡng dục, như cha mẹ sanh dưỡng ta hiện giờ. Rồi ông bà trước nữa sanh ông bà kế đó…Cứ tiếp tục tương liên từ vô thỉ đến nay. Tổ tiên còn lo tu bồi phước đức, danh thể và tài sản để lại cho con cháu:

                        Khen ai kiếp trước khéo tu,

             Ngày nay con cháu võng dù xuê xang”.(Ca dao)

            Vì thế chúng ta phải mang ơn Tổ Tiên.

            3) PHƯƠNG CÁCH ĐÁP ƠN CHA MẸ :

            a.-  Hiếu thế gian: Gồm có vật chất và tinh thần :

             - Về vật chất : cung cấp cho cha mẹ mọi phương tiện như cơm ăn, áo mặc, nhà ở và thuốc thang, chăm sóc khi có bịnh; sớm viếng tối thăm, đắp lạnh quạt nồng. Đức Thầy dạy:

                        Mộ Khan thần tỉnh cần triêu,

             Khỏi cơn hoạn nạn Lam Kiều được lên”.

              - Về tinh thần: không nên hủy hoại thân xác mình  hay vì sân si buồn khổ mà tự sát. (Buồn giận cha mẹ anh em mà tự sát là có tội lớn. Còn chết vì tổ quốc, và đạo pháp hay bảo vệ tiết nghĩa là tốt.) Ngoài ra, cần làm cho cha mẹ an vui bằng cách: Vâng lời dạy bảo chánh đáng của cha mẹ, gây niềm hòa thuận trong anh em gia tộc, tạo hạnh phúc cho gia đình và khuyên cha mẹ hành thiện, tránh ác.

            b.-  Hiếu xuất thế gian: gồm có các điều:

            - Tu cầu và hồi hướng công đức cho cha mẹ: sống đặng phúc thọ, chết đặng siêu thăng Phật đài.

            - Tạo lập thân danh tốt lành và quyết chí tu hành đắc đạo để độ rỗi tổ tiên, cha mẹ ra khỏi sanh tử luân hồi, như Đức Thầy đã dạy:

                        Mục Liên cứu mẹ bằng nay,

                         Nhờ người hiếu hạnh tâm rày từ bi”.  Và:

             Rán tu đắc đạo cứu Cửu huyền,

             Thoát chốn mê đồ đến cảnh Tiên.

             Ngõ đáp ơn dày công sáng tạo,

             Cho ta hình vóc học cơ huyền”.  

            4) CÁCH ĐÁP ƠN TỔ TIÊN :

            a.- Chẳng làm điều gì xấu ác, tệ hại có ảnh hưởng không tốt cho Tổ tiên tộc họ.

            b.- Nếu trước kia Ông Bà ta có lỡ làm điều chi tội lỗi hay tà nghiệp,…giờ đây ta phải chuyển đổi theo chánh nghiệp và hy sinh tinh thần, thể xác vào việc tu thân hành đạo hầu rửa nhục cho Tổ Tiên nòi giống.

            5)  LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI CÓ HIẾU :

            Người đáp ơn Tổ Tiên cha mẹ tất được kết quả:

            a.- Hiện tại được mọi người kính nể mến thương. Ở địa vị cao quý trong xã hội như Vua Thuấn đời Ngũ Đế…Ông Thuấn nhờ lòng hiếu thảo rất mực, nên được vua Nghiêu mến đức rước về truyền ngôi.

            b.- Tương lai chứng đắc Đạo quả và độ được Cửu Huyền Thất Tổ, như Thái tử La Đề Xà thời xưa. La Đề Xà là tiền thân của Đức Phật. Lúc bị vong quốc, Ông cùng phụ mẫu bôn đào. Nửa đường bị đói khát, ông lóc thịt nuôi cha mẹ. Trước khi chết còn nguyện hiến bộ xương và gan ruột cho côn trùng. Cảm động,  Trời Phật cho xác thân ông bình phục và về sau thâu hồi được đất nước,  kiếp sau cùng thành Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Thầy hằng bảo:

                        Hiếu trung lòng nhớ chớ quên,

                    Sống lo trọn Đạo thác lên Tiên Đài”.

            6) TAI HẠI CỦA NGƯỜI BẤT HIẾU :

            Đức Thầy trách  những người không lo đáp ơn Tổ Tiên cha mẹ:

            Ham công danh quên chữ sanh thành,

             Mến phú quí quên câu dưỡng dục”. Hoặc là:

             Nào chưởi cha mắng mẹ lăng xăng,

             Chẳng kể đến luân thường thảo hiếu”.

            Cho nên người bất hiếu phải vương các khổ lụy: Sống bị người đời khinh rẻ, địa vị thấp hèn, khi chết bị đọa 3 đường ác: địa ngục, ngạ qủy, súc sanh.

            7) KẾT LUẬN :

            Tóm lại. công ơn Tổ Tiên cha mẹ rất lớn, và hạnh hiếu là đứng đầu trăm hạnh, nên Đức Thầy thường giác tỉnh chúng ta:

            “Vẹn mười ơn mới Đạo làm con,

             Lúc sanh sống chớ nên phụ bạc”. Hoặc là:  

             “Ở ăn cho vẹn mười ơn,

             Cảnh tình hiền đức gặp cơn khải hoàn.

 

CHÚ THÍCH :

            TRƯỞNG THÀNH: Lớn khôn, người đã lớn từ 18 tuồi trở lên, gọi là trưởng thành.

            TỔ TIÊN: Ông bà đời trước và nhiều đời trước nữa.

            BỔN PHẬN: Phận sự, phần việc của mình. Một phần nghĩa của chữ Đạo (Đạo là bổn phận).

            SANH TIỀN: Lúc sống, tiếng dùng nhắc lại một người đã chết.

            CHĂM CHỈ: Chuyên vào một việc, không lo tính chuyện gì khác.

            LẦM LẪN: Cũng gọi là lầm lộn, tức lộn cái nầy qua cái khác.

            HÒA HẢO: Thuận hòa tốt đẹp (lành).

            HẠNH PHÚC: Phước lành, vận may phúc tốt, tức gặp nhiều may mắn, mọi sự được như ý.

            THỎA MÃN: Hài lòng vừa ý, vừa đúng với ý muốn của mình.

            PHƯỚC THỌ: Được hạnh phúc và sống lâu.

            QUÁ VÃNG: Qua đời, chết rồi.

            LINH HỒN: Phần khôn biết trong con người. Linh hồn đối với thể xác, có nhiều tên gọi khác về chữ nầy: Bửu Quang, Thần hồn, Tâm hồn, Tâm thức, Thần thức, Hữu hay Ấm…Tất cả đều chỉ cho phần tinh thần của con người.

            SIÊU THĂNG: Vượt cao lên. Ý chỉ sự siêu thoát lên cõi Tiên Phật.

            PHẬT CẢNH: Cảnh giới của chư Phật, đây chỉ cho cõi Cực Lạc:“Cả vạn vật đồng về Phật cảnh”( ĐT)

            TRẦM LUÂN: Chìm trong bánh xe luân hồi sanh tử. Chỉ cho con người còn luân hồi chưa được giải thoát.

            ĐIẾM NHỤC: Điếm là hòn ngọc có vết; nhục là xấu hổ. Nghĩa chung là làm điều lầm lỗi xấu hổ, ví như hòn ngọc có vết.

            TÔNG MÔN: Dòng họ nhà mình.

            ĐẠO NGHĨA: Đạo đức và nhân nghĩa.

            TỔ ĐƯỜNG: Ông bà cha mẹ.

 

                                              2.  Ân Đất Nước.

 CHÁNH VĂN  

            ÂN ĐẤT NƯỚC : Sanh ra, ta phải nhờ Tổ-tiên, cha mẹ, sống ta  cũng nhờ đất nước, quê hương. Hưởng những tấc đất, ăn những ngọn rau, muốn cho sự sống được dễ-dàng, giống nòi được truyền thụ, ta cảm thấy bổn phận phải bảo vệ đất nước khi bị kẻ xâm-lăng giày đạp. Rán nâng đỡ xứ sở quê-hương lúc nghiêng-nghèo, và làm cho được trở nên cường-thạnh. Rán cứu cấp nước nhà khi bị kẻ ngoài thống trị. Bờ cõi vững lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh giàu mình ta mới ấm.

            Hãy tùy tài tùy sức, nỗ-lực hy sinh cho xứ sở. Thảng như không đủ tài-lực đảm-đương việc lớn, chưa gặp thời-cơ giúp đỡ quê-hương, ta phải rán tránh đừng làm việc gì sơ-xuất đến đổi làm cho nước nhà đau khổ, và đừng giúp sức cho kẻ ngoại địch gây sự tổn hại đến đất nước.

            Đó là ta đền ơn đất-nước vậy.

                                             ( SGTVTB 2004: tr. 181-182 )

 

LƯỢC GIẢI :

( Ân Đất Nước )

            Xưa kia Đức Phật dạy là Ân Quân Vương. Hiện giờ Đức Thầy đổi lại là Ân Đất Nước cho phù hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loại. Là một công dân, ai cũng có bổn phận đối với đất nước (Tổ Quốc).

                        Kẻ phu tá cũng là trọng trách,

                    Cứu giống nòi quét sạch non sông”( ĐT)

            1)  LÝ DO THỌ ƠN :

            Kể từ đời Hồng Bàng dựng nước, ông cha ta đã dày công khai quốc và kiến quốc:

                        Bắc Nam một dãy san hà,

                     Mồ hôi giọt máu ông cha tài bồi”( ĐT)

            Và ra công gìn giữ đất nước, ngày nay chúng ta mới hưởng được tấc đất, ngọn rau và mọi sản phẩm…Cho nên ai cũng phải thọ ơn.

            2) PHƯƠNG CÁCH ĐÁP ƠN :

            Mỗi công dân đều có trách nhiệm:

            a.- Thời bình lo củng cố cho đất nước được phú cường (dân giàu nước mạnh).

            b.- Khi có giặc ngoài thống trị, ta phải góp công vào việc đánh đuổi xâm lăng. Đức Thầy cho biết “Hễ nước mất thì cơ sở của Đạo phải bị lấp vùi; nước còn nền Đạo được phát khai rực rỡ”.

            c.- Hãy tùy tài, tùy sức và tùy thời cơ giúp nước. Đức Thầy hằng dạy:“Nếu chưa đủ tài lực đảm đương việc lớn, chưa gặp thời cơ giúp đỡ quê hương, ta phải rán tránh đừng làm việc gì sơ suất đến đỗi làm cho nước nhà đau khổ, và đừng giúp sức cho kẻ ngoại địch gây sự tổn hại đến Đất nước”.

            3)  QUAN NIỆM YÊU NƯỚC :

            Người tín đồ PGHH, lúc đáp ơn Đất Nước không đặt nặng về lợi danh quyền tước mà bị nó trói trăn trong luân hồi sanh tử, nên khi nước nhà được tự chủ (độc lập) thì trở lại vị trí tu hành để được giải thoát.

                        Đền xong nợ nước thù nhà,

            Thiền môn trở gót Phật Đà Nam Mô”( ĐT)

            Ta hãy noi gương nguyên soái Đổng Vân, Đại sư Khuông Việt, Thiền sư Vạn Hạnh, Sư Đỗ Pháp Thuận và Tuệ Trung Thượng Sĩ…và gần đây có Nguyễn Đa, tức ông Cử Đa…

            4)  LỢI ÍCH NGƯỜI BIẾT ĐÁP ƠN ĐẤT NƯỚC :

            Người đáp ơn Đất nước sẽ được các điều lợi ích:

            a.- Được người đương thời ca ngợi, con cháu hiển vinh.

            b.- Khi chết được thành Thần Thánh:

            Dầu không siêu cũng đặng về Thần,

             Nhờ hai chữ trung quân ái quốc”( ĐT).

            c.- Sách sử chép ghi, dân chúng muôn đời thờ kính, nhắc nhở:

            Tử vì nước còn ghi linh miếu,

             Thác vì đời thanh sử danh bia”( ĐT).

            Nước ta từ xưa có rất nhiều vị đã thành công, như: nam thì có Trần hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt…nữ có hai Bà Trưng, Bà Triệu…Thời cận đại có Nguyễn Trung Trực , Trần Văn Thành…

            5) TẠI SAO KHÔNG ĐÁP ƠN :

            Người không đáp ơn Đất Nước là kẻ bất trung, sống cuộc đời tiêu cực, ích kỷ, bị người đời khinh rẻ, sách sử chê bai; chết còn phải bị đọa vào chỗ thấp hèn.

            6) KẾT LUẬN :

            Nếu ai đáp ơn Đất Nước đúng theo quan niệm PGHH nói trên, chẳng những được lợi ích hiện tại mà tương lai còn được siêu thoát sanh tử:

            Tứ ân đã trả chẳng còn tội căn”( ĐT),

 

CHÚ THÍCH :

            TRUYỀN THỤ: dạy lại, để tài nghệ lại. Ý nói người trước dạy lại người sau, rồi người sau nữa…

            XÂM LĂNG: Đánh phá để cướp nước người.

            CƯỜNG THẠNH: Cũng viết là cường thịnh. Có nghĩa mạnh mẽ và thịnh vượng, sung túc.

            THỐNG TRỊ: Cai trị, nắm hết quyền cai trị trong nước.

            SƠ SUẤT: Cẩu thả, vô ý. Không cẩn thận.

 

                                                3. Ân Tam Bảo.

 CHÁNH VĂN

            ÂN TAM BẢO : Tam Bảo là gì ? -Tức Phật, Pháp, Tăng.

            Con người nhờ tổ-tiên, cha mẹ sanh ra nuôi dưỡng, nhờ đất nước tạo kiếp sống cho mình. Ấy về phương diện vật-chất.

            Về phương diện tinh-thần, con người cần nhờ đến sự giúp-đỡ của Phật, Pháp, Tăng, khai mở trí óc cho sáng suốt. Phật là đấng toàn thiện, toàn mỹ, bác-ái vô cùng, quyết cứu vớt sanh linh ra khỏi vòng trầm-luân khổ-hải. Thế nên Ngài mới truyền lại giáo pháp, tức là những lời chỉ dạy cho các chư tăng đặng đem nền Đạo cả của Ngài ban bố khắp trần thế. Các chư tăng chẳng ai lạ hơn những đại đệ tử của Đức Phật vậy. Bởi vì Đức Phật luôn luôn chỉ dẫn và cứu vớt quần-sanh thoát miền mê-khổ, nên ta hãy kính trọng Phật, hãy tin tưởng và tín-nhiệm vào sự-nghiệp cứu đời của Ngài, làm theo những điều chỉ dạy do các chư tăng cho biết. Tổ-Tiên ta đã hiểu rõ sự nhiệm-mầu, lòng quảng ái của Phật đối với chúng sanh, đã kính trọng sùng-bái Ngài, đã hành động đúng theo khuôn-khổ Ngài đã dạy, và đã vun trồng bồi-đắp cho nền Đạo được phát triển thêm ra, xây dựng một toà lầu đài Đạo hạnh vô thượng vô song, roi truyền mãi mãi với hậu-thế.

            Nên bổn phận chúng ta phải noi theo chí đức của tiền-nhân hầu làm cho trí tuệ minh mẩn đặng đi đến con đường giải thoát, dẫn dắt giùm kẻ sa-cơ và nhứt là phải tiếp-tuc khai thông nền Đạo-đức đặng cái tinh thần từ-bi bác-ái được gieo rải khắp nơi nơi trong bá tánh. Như thế mới chẳng phụ công trình vĩ đại của Đức Phật và của tiền nhân để lại và không đắc tội với kẻ đời sau vậy.

                                                (SGTVTB 2004, tr. 182-183)

 

LƯỢC GIẢI :

( Ân Tam Bảo )

            Ân Tam Bảo là một trong tứ đại trọng ân, đây thuộc về phần tinh thần.

            1)  LÝ DO THỌ ÂN TAM BẢO :

            Nhờ có Tam Bảo đánh thức, giáo hóa chúng ta mới tỉnh ngộ tu hành, cải ác tùng thiện:

            a.- Vì cảm phục tâm đại hùng, đại lực, đại từ bi và đại nguyện độ tận chúng sanh của Đức Phật.

            b.- Diệu năng của Pháp giới ví như thuyền bè, đèn đuốc, đưa người tu ra khỏi sông mê bể khổ.

            c.- Nhờ đức độ và lời thệ nguyện cứu độ chúng sanh lớn lao của chư Tăng, chúng ta mới trọn niềm kính tin và quyết tâm trì hành theo lời giáo huấn của các Ngài.

            2) TỔ TIÊN TA ĐỐI VỚI TAM BẢO :

            a.-Tổ Tiên ta đã nhận thức lòng quảng ái và sự nghiệp cứu đời của Tam Bảo.

            b.- Đã hành động đúng theo Kinh, Luật, Luận. Cũng đã vun bồi nền Đạo được vững chắc và roi truyền đến ngày nay.

            3)  CÁCH ĐÁP ƠN TAM BẢO :

            a.- Ta có bổn phận kính tin và vâng lời Phật pháp. Noi gương Phật và chư Tăng để học hỏi và hành trì giáo pháp cho mình có trí huệ và giải thoát sanh tử.

            b.- Tiếp tục khai thông Đạo pháp bằng cách: Giảng dạy Đạo lý, ấn tống kinh sách, trợ giúp các tổ chức truyền Pháp để giác tỉnh quần chúng tu hành. Truyền pháp có hai phần: thuyết giáo và hạnh giáo…

            Đức Thầy hằng kêu gọi:

            Cả tiếng kêu cùng khắp chư Tăng,

             Với tín nữ thiện nam Phật giáo.

             Nên cố gắng trau thân gìn Đạo,

             Hiệp cùng nhau truyền bá Kinh lành”.

            Và hãy:“…Giảng giải Đạo Phật cho đại chúng nghe, hoặc giả mở trường dạy Đạo Phật”.

            4) LỢI ÍCH SỰ ĐÁP ƠN TAM BẢO :

            Người nào đáp được ơn Tam Bảo, sẽ được các điều lợi ích đáng kể:

            a.-Không đắc tội với Tam Bảo, tiền nhân và hậu thế.

            b.- Phước đức siêu thượng, trí huệ sớm phát khai.

            c.- Gieo duyên lành với nhiều người và độ được vô số chúng sanh chứng chơn giải thoát.

            d.- Sớm hoàn thành quả Tam giác: tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn.

            “Từ đây đến buổi thanh bình,

            Muôn người niệm Phật quả mình biết bao”( ĐT)

            5) TAI HẠI CỦA NGƯỜI KHÔNG ĐÁP ƠN TAM         BẢO:

            Người đã thọ ơn Tam Bảo mà chẳng lo tu học hoặc không đền đáp, tất vương các điều hại:

            a.- Đắc tội với tiền nhân và hậu thế.

            b.- Mang tội ngũ nghịch và chôn lấp thiện căn.

            c.- Vô lượng kiếp tối dốt, chết đọa 3 đường ác.

            6) KẾT LUẬN :

            Là môn đồ nhà Phật, chúng ta phải đáp đền ơn Tam Bảo bằng cách cố gắng phụng hành và phổ truyền chánh pháp để tất cả chúng sanh có cơ thức tỉnh tu hành, vượt khỏi vòng khổ đau sanh tử.

 CHÚ THÍCH :

            TAM BẢO: Ba ngôi quí báu, tức: Phật, Pháp, Tăng. Phật là đấng hoàn toàn giác ngộ, toàn thiện, toàn mỹ, tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn. Pháp là lời của Phật thuyết ra để giáo hóa chúng sanh. Tăng là các đại đệ tử của Phật, bậc giới hạnh tinh nghiêm, thường nối tiếp ngọn đuốc huệ của Phật mà giác tỉnh chúng sanh.

            Đó là phần sự tướng và lịch sử Tam Bảo. Còn phần lý tánh Tam Bảo gồm có: Tự tâm giác ngộ là Phật Bảo. Tự tâm chơn chánh là Pháp Bảo. Tự tâm thanh tịnh là Tăng Bảo.

            PHƯƠNG DIỆN: Một mặt, một khía cạnh hay một phần.

            VẬT CHẤT: Những cái gì có hình tướng, rờ nắm được, thấy được.

            TINH THẦN: Linh hồn hay thần thức…phần vô hình.

            TOÀN THIỆN TOÀN MỸ: Hoàn toàn tốt lành sáng suốt.

            KHỔ HẢI: Biển khổ. Ý nói sự khổ của chúng sanh quá nhiều mênh mông như bể cả. Đức Thầy bảo:

            Thoát nơi khổ hải liên đài được lên”.

            BAN BỐ: Cấp phát truyền rải cho đều.

            QUẦN SANH: Chỉ chung các giới chúng sanh.

            TÍN NHIỆM: Tin cậy, trọn lòng tin tưởng.

            NHIỆM MẦU: Cũng gọi là mầu nhiệm. Có nghĩa sâu kín và mầu diệu vô cùng:“Đạo mầu thâm diệu nan tri lão bày( ĐT).

            QUẢNG ÁI: Thương yêu rộng lớn. Đức Thầy từng nói: “Lòng quảng ái xót thương nhân chủng”.

            CHÚNG SANH: Chỉ chung các loài có tri giác, có mạng sống. Phân làm 4 loại:

            1/-Thai sanh: các loài sanh bằng bào thai.

2/-Noãn sanh: các loài sanh bằng trứng.

3/-Thấp sanh: các loài sanh nơi ẩm thấp.

4/-Hóa sanh: các loài sanh bằng cách hóa sanh.

            PHÁT TRIỂN: Mở mang ra.

            SÙNG BÁI: Kính trọng và tôn thờ lễ bái.

            VÔ THƯỢNG: Cao tột, không có gì cao hơn. Đức Thầy bảo:“Vô thượng thậm thâm dĩ ý truyền”.

            VÔ SONG: Không có tới hai, không có gì bì kịp.

            ROI TRUYỀN: Cũng gọi là truyền roi. Có nghĩa truyền dạy lại cho người sau noi theo.

            Lời lành của Phật truyền roi”( ĐT).

            HẬU THẾ: Đời sau, người sau.

            CHÍ ĐỨC: Chí nguyện và đức độ cao cả.

            Noi chí đức Hoàng Thang luật chế”( ĐT).

            TIỀN NHÂN: Người đời trước.

            MINH MẪN: Sáng suốt thông hiểu:“Trí linh mẫn nhìn xem các chuyện( ĐT).

            KHAI THÔNG: Mở mang thông suốt.

            VĨ ĐẠI: To lớn.

            GIẢI THOÁT: Cởi mở sự ràng buộc đeo níu, thoát khỏi 6 nẻo luân hồi sanh tử. Đức Thầy nói:“Miễn sanh chúng thông đường giải thoát”.

            SA CƠ: Cũng viết là sơ cơ. Chỉ cho kẻ mới phát tâm tu hành, hoặc những người bị sa ngã theo tứ đổ tường hay chìm đắm trong biển sanh tử.

 

    4a.  Ân Đồng Bào và Nhân Loại .

 CHÁNH VĂN

            ÂN ĐỒNG BÀO VÀ NHÂN LOẠI : Con người vừa mở mắt chào đời đã thấy mình phải nhờ đến sự giúp đỡ của những kẻ ở xung quanh, và cái niên kỷ càng lớn thêm bao nhiêu, sự nhờ-nhõi càng tuần-tự thêm nhiều chừng nấy.

            Ta nhờ hột cơm của họ mới sống, nhờ miếng vải của họ mới ấm thân, nhờ cửa nhà của họ mới tránh cơn phong vũ. Vui sướng: ta đồng hưởng với họ. Hoạn nạn: họ cùng chịu với ta.

            Họ và ta cùng một màu da, cùng nói một thứ tiếng. Ta và họ hợp nhau thì thành lại làm một: ấy là Quốc-gia đó. Họ là ai ? Tức những người ta thường gọi bằng đồng-bào vậy.

            Đồng-bào ta và ta cùng chung một chủng tộc, cùng một nòi giống roi truyền, cùng có những trang lịch-sử vẻ-vang oanh-liệt, cùng tương-trợ lẫn nhau trong cơn nguy-biến, cùng chung phận-sự đào-tạo một tương-lai rực-rỡ trong bước tiền-đồ của giang-san đất nước. Đồng-bào ta và ta có một liên-quan mật-thiết, không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau, và chẳng khi nào có ta mà không có đồng-bào, hay có đồng-bào mà không có ta. Thế nên, ta phải rán giúp đỡ họ hầu đáp-đền cái ơn mà ta đã thọ trong muôn một.

            Chẳng những thế thôi, ngoài đồng-bào, ta còn có thế-giới người đang cặm cụi cần lao cung cấp những điều nhu-cầu cần-thiết. Họ là nhân-loại, là những người đang sanh sống với chúng ta trên quả địa-cầu. Nếu không có nhân loại, thử hỏi dân-tộc ta ra như thế nào ? Ta có đủ vật-liệu để dùng chăng ? Ta có thể tự túc một cách đầy đủ chăng ? Nói tóm lại, ta có thể lẻ-loi đương đầu với những khi phong vũ nhiệt hàn, với những lúc ốm-đau, nguy-biến, giữ vững cuộc sống còn này chăng ? Hẳn không vậy. Thế nên dân-tộc ta phải nhờ đến Nhân-loại, nghĩa là nhờ đến dân tộc khác và phải biết ơn họ. Hãy nghĩ đến họ như mình nghĩ đến mình và đồng chủng mình.

            Vả lại cái tình từ-bi bác-ái của Đức Phật mà ta đã nhận thức, rất thâm-huyền quảng-huợt. Cái tình ấy, nó không bến không bờ, không phân biệt màu da, không phân biệt chủng tộc; nó cũng không luận sang hèn và xoá bỏ hết các tầng lớp đẳng cấp xã hội, mà chỉ đặt vào một: Nhân Loại Chúng Sanh.

            Thế, ta không có lý do gì chánh đáng để vì mình hay vì đồng-bào mình, gây ra tai-hại cho các dân-tộc khác. Trái lại, hãy đặt vào họ một tư-tưởng nhân-hoà, một tinh-thần hỉ-xả và hãy tự xem mình có bổn phận giúp đỡ họ trong cơn hoạn-nạn.

                                            ( SGTVTB 2004, tr. 183-185 )

             

LƯỢC GIẢI :

( Ân Đồng Bào Nhân Loại )

            Ở đời không ai có thể sống riêng biệt, mà phải có sự tương quan với các dân tộc trong đất nước mình và với các dân tộc các nước bạn có mặt trong quả địa cầu. Ấy gọi là đồng bào và nhân loại.

            1)  LÝ DO THỌ ƠN ĐỒNG BÀO :

            a.- Kẻ thiếu vật nầy, người thiếu vật khác nên cần phải mua bán trao đổi nhau.

            b.- Tương trợ lẫn nhau khi có tai nạn: thiên tai, địa ách, chiến tranh, đau yếu…

            2)  LÝ DO THỌ ÂN NHÂN LOẠI  :

            a.- Bởi phong hóa và nếp sống giữa nhân loại khác nhau và sự phát minh có mau chậm; không đủ vật liệu cần dùng, nên cần có mua bán và viện trợ lẫn nhau khi thiếu hụt hoặc tai nạn.

            b.- Cùng nhau trao đổi mọi mặt: văn hóa, xã hội, khoa học, kinh tế…

            3)  CÁCH ĐÁP ƠN ĐỒNG BÀO :

            a.- Phải biết thương yểu liên kết và giúp đỡ đồng bào từ tinh thần lẫn vật chất.

            b.- Không nên vì lòng tham lam, vị kỷ mà gây khổ cho đồng bào, Đức Thầy đã cảnh giác:

            “Đồng bào nỡ giết nhau chi,

             Bạng duật tương trì lợi lũ ngư ông”.

            Cho nên Ngài hằng khuyên:

             Khắp Bắc Nam Lạc Hồng một giống,

            Tha thứ nhau để sống cùng nhau.

             Quí nhau từng giọt máu đào,

            Để đem máu ấy tưới vào địch quân”.  

            4)  CÁCH ĐÁP ƠN NHÂN LOẠI :

            a.- Hãy nhận thức và thi thố lòng từ bi, bình đẳng của Đức Phật đối với cả nhân loại.

            b.- Đặt tình thương yêu đoàn kết, không phân biệt màu da, chủng tộc:

            Tình yêu mà chẳng riêng ai cả,

             Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sinh”( ĐT).

            c.- Nỗ lực phát triển tinh thần lẫn vật chất.

            d.- Không nên vì mình hay đồng bào mình gây đau thương cho dân tộc khác hay nhân loại.

            e.- Hãy lấy đức nhân hòa, bình đẳng, hỉ xả, từ bi đối xử với cả nhân loại để xây dựng nền an vui hạnh phúc và bác ái đại đồng.

            Đem nguồn sống mới cho nhân loại,

             Để tiến, tiến lên cõi đại đồng”.

            5)  LỢI ÍCH :

            Người đáp được ân đồng bào và nhân loại sẽ được nhiều lợi ích đáng kể:

            a.- Đem lại nếp sống tự do, bình đẳng cho đồng bào và nhân loại, thế giới hết chiến tranh.

            b.- Được đời ca ngợi là bực Hiền Thánh.

            c.- Khi lâm chung đặng siêu thoát.

            6)  TAI HẠI :

            Nếu người không đáp ân đồng bào và nhân loại, sẽ gặp nhiều tệ hại:

            a.- Đưa dân tộc mình đến chỗ lạc hậu.

            b.- Sống lối ích kỷ tổn nhân.

            c.- Chết đọa ba đường ác.

            7) KẾT LUẬN :

            Đại lược, con người không ai sống đơn độc. Nếu có tương quan tất có thọ ơn đồng bào nhân loại. Thế nên ta cần phải lo đền đáp cho trọn vẹn để được phúc báo trong hiện tại, và tương lai sẽ đặng siêu thoát khổ đau sanh tử.

 

CHÚ THÍCH :

            ĐỒNG BÀO: Cùng một bọc, một bào thai sanh ra. Đồng bào có hai nghĩa:

            1/-Nghĩa rộng là những người cùng sống chung một vòm trời, một giồng đất hay một giống dân (cũng gọi là Trời cha Đất mẹ).

            2/-Nói riêng về giống Việt Nam thì do truyền thuyết bà Âu Cơ, vợ vua Lạc Long Quân sanh ra một cái bọc, có 100 trứng, nở ra 100 người con. Tương truyền 100 người con ấy sản sanh giống Việt Nam, nên dân tộc ta thường gọi nhau bằng đồng bào:

                 Khuyên đồng bào hãy rủ cho đông.

                           Nắm tay trở lại cánh đồng,

             Cần lao nhẫn nại Lạc Long Tổ truyền”( ĐT).

            NHÂN LOẠI: Loài người. Chỉ cho các dân tộc sống chung trong quả Địa cầu.

            NIÊN KỶ: Số năm, tuổi tác.

            PHONG VŨ: Gió và mưa, chỉ cho thời tiết.

            QUỐC GIA: Nhà nước hay nước nhà.

            CHỦNG TỘC: Nòi giống.

            OANH LIỆT: Khí khái anh hùng hay công nghiệp lừng lẫy.    

            TƯƠNG TRỢ: Giúp đỡ lẫn nhau.

            TIỀN ĐỒ: Con đường tương lai.

            NGUY BIẾN: Tai biến ngặt nghèo.

            GIANG SAN: Sông núi. Ý chỉ cho đất nước.

            LIÊN QUAN: Liên hệ giữa nhau.

            MẬT THIẾT: Gần sát nhau, thân mật nhau.

            MUÔN MỘT: Một phần trong muôn phần.

            THẾ GIỚI: Cũng viết là thế gian. Có nghĩa gồm cả không gian và thời gian. Nghĩa thứ hai là vũ trụ hoàn cầu, chỉ chung cho các nước trên mặt đất. Ví dụ: Thế giới ta bà chúng ta đang sống.

            CẶM CỤI: Cần cù, cố gắng.

            CẦN LAO: Siêng năng khó nhọc.

            CUNG CẤP: Tiếp giúp cho, cấp phát cho.

            NHU CẦU: Cần dùng mà tìm kiếm.

            CẦN THIẾT: Cần có mới được.

            ĐỊA CẦU: Trái đất.

            TỰ TÚC: Tự làm cho mình được đầy đủ.

            NHIỆT HÀN: Nóng nực và rét lạnh.

            ĐỒNG CHỦNG: Cùng chung một nòi giống.

            TỪ BI: Hai trong bốn đại đức của chư Phật. Hán học giải là hiền lành thương xót. Phật học giải là ban vui cứu khổ; do câu:“Từ năng dữ nhứt thiết chúng sanh chi lạc, Bi năng bạt nhứt thiết chúng sanh chi khổ”. Đức Thầy có giải:

            1.- Đức Từ: Phật đối với chúng sanh như mẹ với con, lúc nào cũng lo lắng đến, hết lòng dìu dắt, dạy dỗ, không nỡ để chúng sanh sa vào đường tội lỗi mà chịu khổ não”.

            “2.- Đức Bi: Nếu chúng sanh nào dạy dỗ chẳng nghe làm điều độc ác để phải tội, thì Phật chẳng vì thế mà ghét bỏ, lại thương xót không cùng(SGTVTB2004, tr. 452.

            BÁC ÁI: Lòng thương yêu rộng lớn.

            THÂM HUYỀN: Sâu kín mầu nhiệm.

            QUẢNG HUỢT: Rộng rãi bao la.

            NHÂN HÒA: Lòng thương yêu hòa hài tốt đẹp và thích hợp. Đức Thầy có câu:

             Lúc sống sanh tìm lấy cuộc nhơn hòa,

             Chữ thuận thảo hay hơn là tranh đấu”.

            HỈ XẢ: Thường an vui và không câu chấp, vướng mắc. Là hai trong bốn đại đức của chư Phật. Đức Thầy có giải:

            “3. Đức Hỉ: thường thường an vui mà làm những việc lành, dầu gặp hoàn cảnh trái nghịch cũng chẳng vì thế mà sanh lòng buồn bã”.

            “4. Đức Xả: Ngài chẳng chấp một pháp nào trong thế gian, sẵn lòng lìa xa các nghiệp tiền trần, tha thứ hết thảy những ai tối tăm lầm lỗi, chẳng còn vướng víu chi với cuộc lợi danh tài sắc, nhìn cõi đời chẳng bao giờ sanh lòng luyến ái.(SGTVTB 2004, tr.452).

            HOẠN NẠN: Tai nạn, gian lao khổ sở.

            THIỆN NAM: Phiên âm Phạn ngữ Ưu-bà-tắc, dịch là Cận sự nam. Có nghĩa: hàng nam giới tu tại nhà, thọ tam qui ngũ giới, thường thân cận các chùa lễ Phật nghe Pháp và giúp đỡ các Tăng Ni.

            TÍN NỮ: Phiên âm Phạn ngữ là Ưu-bà-di, dịch là Cận sự nữ, tức chỉ cho hàng nữ giới tu tại gia thọ tam qui ngũ giới. Thường thân cận các chùa lễ Phật nghe Kinh pháp và giúp đỡ các Tăng Ni.

            HẢO TÂM: Lòng tốt đối với mọi người.

            CHƠN LÝ: Lý lẽ chơn thật, lẽ phải. Chơn lý cũng gọi là Đạo. Đức Thầy có viết:

            Bàn với luận đặng coi chơn lý”.

            CHIẾU CỐ: Đoái tưởng và chăm sóc đến.

 

 4b. Ân Đàn Na Thí Chủ.

 CHÁNH VĂN

            Đối với những kẻ xuất-gia quy-y đầu Phật, phụ vào những ân-huệ đã thọ như đã nói trên, họ còn phải trực-tiếp chịu ân của các đàn-na thí chủ, nghĩa là những thiện-nam tín-nữ có hảo-tâm cung-cấp những vật dụng cần thiết cho họ. Họ nhờ đến hột cơm, đến miếng vải, đến thuốc men đặng sanh sống. Rốt lại, họ phải nhờ đến sự nuôi dưỡng hoàn-toàn của những kẻ tốt lòng.

            Với quần sanh, họ mang cái ân rất nặng cho nên họ phải dìu-dắt sinh-linh đi tầm Chân-lý đặng đáp-tạ tấm lòng chiếu-cố của Thiện tín.

                                                      (SGTVTB 2004, tr. 185)

 

LƯỢC GIẢI :

( Ân Đàn Na Thí Chủ )

            Các Tăng Ni xuất gia ngoài việc thọ bốn điều ân vừa kể qua, còn phải chịu thêm ân “Đàn Na Thí Chủ”.

      1)  LÝ DO THỌ ƠN :

            a.- Chư thiện tín quan niệm rằng: Các Tăng Sư không có sinh hoạt đời sống, chỉ lo Phật sự, tự giác, giác tha. Là bậc đại phước điền của chúng sanh.

                  b.- Nên, các nhà hảo tâm thường giúp đỡ các Tăng, Ni mọi phương tiện: cơm ăn, thuốc uống, y phục và các phương tiện nghỉ ngơi.

      2) CÁCH ĐÁP ƠN :

            a.- Mỗi Tăng Ni đều phải noi gương Đức Phật tu hành cho đến khi thành quả.

      b.- Phát đại nguyện độ tận chúng sanh.

      c.- Cố gắng học và hành trì Kinh pháp.

      d.- Giác tỉnh thiện tín tầm ra chơn lý tu hành.

      3)  LỢI ÍCH ĐÁP ƠN ĐÀN NA :

      Người đáp được ân Đàn Na sẽ đặng lợi ích:

      a.- Gieo duyên lành với khắp cả.

            b.- Độ đặng vô số chúng sanh tu hành giải thoát.

            c.- Chính mình cũng mau đạt quả vô thượng Bồ đề.

            4)  TAI HẠI KHÔNG ĐÁP ƠN ĐÀN NA :

            a.- Bị xa lần Chánh Đạo, chôn lấp thiện căn.

            b.- Luân hồi vô lượng kiếp báo đền nghiệp nợ. Kinh xưa đã bảo:

            Thập phương nhứt lạp mễ,

             Như đại Tu Di sơn.

            Thực liễu bất tu Đạo,

             Phi mạo đái giác hườn”.

            (Một hột cơm của “Đàn na thí chủ” nặng như hòn núi Tu Di. Nhà tu dùng rồi mà chẳng lo tu cho đắc Đạo thì phải luân hồi mang lông đội sừng, tức làm thú, để đền trả.)

            5) KẾT LUẬN :

            Hạnh tu xuất gia là hạnh giải thoát cao cả, song ân “Đàn na thí chủ” cũng nặng lớn vô biên. Hành giả phải hy sinh từ vật chất lẫn tinh thần và thực hiện lòng tự giác, giác tha cho đến khi giác hạnh viên mãn.

            Nếu xuất gia thì phải hy sinh,

             Cả vật chất tinh thần lo Đạo”( ĐT).

 

TỔNG KẾT PHẨM “TỨ ĐẠI TRỌNG ÂN”:

            Phẩm báo “Tứ Đại Trọng Ân” khi xưa Đức Phật đã dạy chư Bồ Tát trì hành để đạt đại thừa trong Phật Đạo. Ngày nay Đức Giáo Chủ PGHH đặt Tứ Ân trong phần Nhân Đạo thì đủ biết Đạo Nhân của Ngài dạy siêu thượng đến chừng nào !

            Căn cứ theo tôn chỉ PGHH, Tứ Ân là phần ân nợ. Nếu ai thi hành được, chẳng những đáp đặng phần ân nợ mà còn tạo được vô lượng phước đức để làm món tư lương bước lên thuyền trí huệ, tiến sang bờ giác:

                        Tu đền nợ thế cho rồi,

              Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen(ĐT).

Comments