4) Cách thờ phượng, hành lễ và sự ăn ở của một tín đồ PGHH

IV. CÁCH THỜ PHƯỢNG, HÀNH LỄ VÀ SỰ ĂN Ở CỦA MỘT TÍN ĐỒ PGHH

 

          Như đã biết, vừa qua là Phần Một của QUYỂN  SÁU mà từ trước trong Đạo đã ấn định là môn học “GIÁO LÝ CĂN BẢN”. Còn tiếp đây là Phần Hai của QUYỂN SÁU, thuộc về môn học “NGHI THỨC THỜ CÚNG và GIỚI LUẬT”. Trong đây gồm có 13 đề mục:

1.    Thờ phượng

2.    Hành lễ

3.    Tang lễ

4.    Cách cầu nguyện cho người chết

5.    Hôn nhơn

6.    Những diều phải tránh hoặc được châm chế hoặc nên làm

7.    Họat động hàng ngày: -Thể dục – Ăn ở - Làm ăn

8.    Điều kiện vào Đạo
Nội dung có nhiều tiết mục mà người đã vào Đạo, hoặc ai muốn qui y vào Đạo cũng phải học hỏi nghiên cứu chính xác để thi hành theo. Đức Thầy luôn giác tỉnh:

        Giảng Kinh đọc tụng chiều mai,

           Làm theo lời chỉ ngày rày gặp Ta”.

        Hay là:

        “Sớm tỉnh Kệ Kinh tìm hiểu lý,

            Một ngày hiệp mặt hết mờ lu”.

       

                                           1.- CÁCH THỜ PHƯỢNG

(SGTVTB 2004, tr. 201-202)

 CHÁNH VĂN

          Từ truớc đến nay, các chùa chiền đã tạo quá nhiều hình-tượng. Đành rằng vì tôn kính đấng Từ-Bi mới làm ra thờ-phượng Ngài, nhưng cũng có kẻ lợi-dụng để thủ lợi. Bây giờ chúng ta không nên tạo thêm nữa. Làm thế, chúng ta không có ý hủy-báng sự phượng thờ của các chùa-chiền. Cách thờ-phượng ấy tùy theo điều kiện các sư mà chúng ta cũng có thể sùng ngưỡng đặng. Nhưng riêng về cư-sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn-giản cho lòng tin-tưởng trở lại tâm-hồn hơn ở vào sự hào nháng bề ngoài. Từ trước, chúng ta thờ trần điều là di-tích của Đức PHẬT THẦY TÂY-AN để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng tông-phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn-chỉ của Đức PHẬT, nên toàn thể trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân-loại không phân biệt chủng tộc và cá-nhân. Vì vậy, chúng ta dùng nó trong chỗ thờ-phượng để tiêu-biểu cho tinh-thần vô-thượng của nhà Phật.

          Nếu trong nhà chật, nội bàn Thông-Thiên với một lư hương không cũng được, bởi vì sự tu hành cốt ở chỗ trau tâm trỉa tánh hơn là do sự lễ bái ở ngoài. Còn người nào có cốt PHẬT trong nhà để vậy cũng đặng. Hình tượng bằng giấy không nên chừa lại và phải đốt đi. Kẻ nào phải ở chung đậu với người khác không có tu hiền hay không cùng một Đạo với mình hoặc nhà cửa nhỏ hẹp quá không có chỗ phượng thờ, thì đến giờ cúng kiếng chỉ vái thầm và niệm Phật trong tâm cũng đặng.

          Về cách cúng PHẬT, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn nhang dùng đặng bán mùi uế trược. Ngoài ra, chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ Ông Bà cúng món chi cũng đặng.

          Ngoài sự thờ PHẬT, tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những vị anh-hùng của đất nước, không nên thờ vị tà thần nào khác mà mình không rõ căn-tích.

 

 LƯỢC GIẢI :

        A. CÁC NGÔI THỜ CÚNG :

        Theo nghi thức thờ phượng của PGHH thì trong gia đình của mỗi tín đồ đều có ba ngôi thờ cúng.

        1- BÀN THỜ PHẬT, cũng gọi là Ngôi Tam Bảo, thờ ở giữa nhà, cao hơn bàn Cửu Huyền Thất Tổ. Theo Đức Thầy cho biết: các chùa trong Đạo Phật từ trước tới giờ, người ta trang trí quá nhiều hình tượng. Tuy vì sự tôn kính Phật, Pháp, Tăng, song cũng có người lợi dụng nơi ấy để sanh sống. Bây giờ chúng ta không nên thờ hình tướng như vậy nữa, đây không có ý hủy báng sự thờ phượng của các chùa, đó là tùy theo điều kiện của các Tăng Sư, chúng ta cũng có thể sùng ngưỡng.

        Riêng về cư sĩ tại gia như chúng ta hiện giờ, không nên thờ theo hình thức đó, mà nên thờ đơn giản lại, để cho lòng tín ngưỡng xoay về tâm hơn là sắc tướng bên ngoài.

        Lúc Đức Giáo Chủ PGHH mới khai Đạo (1939), Ngài dạy tín đồ trang trí ngôi Tam Bảo bằng một bức trần điều (màu đỏ), là vì noi theo truyền thống của Đức Phật Thầy Tây An. Đến tháng 2 năm Canh Thìn (1940) có người tự xưng cùng một Tông phái, cũng thờ trần điều như vậy, nhưng họ làm sai tôn chỉ của Đức Phật, nên Đức Thầy cho toàn thể trong Đạo đổi lại bức trần màu dà. Ngài cũng cho biết ý nghĩa:

        Từ trước tới giờ các nhà tu hay dùng màu dà để biểu hiện cho sự thoát tục, bởi màu dà do sự kết hợp với các màu khác mà thành, nên dùng nó cũng để tượng trưng cho sự hòa hợp, bình đẳng nhân loại…Chính bức trần dà ấy cũng tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật. Là một tín đồ PGHH, chúng ta không nên thờ phượng cách nào khác.

        2- BÀN THÔNG THIÊN: Bàn này dựng trước sân nhà, hoặc dựa mái nhà cũng được. Theo ý Đức Thầy, nếu trong nhà chật hẹp, chỉ một bàn Thông Thiên cũng được.

        -Cốt Phật đã có từ trước, để y cũng đặng hoặc hiến vào chùa hay cho người Tông phái khác thỉnh. Còn hình tượng bằng giấy nên đốt đi, không nên chừa lại. (Có người hỏi sao tượng bằng giấy thì đốt, còn chơn dung Đức Thầy còn để lại ? – Xin trả lời: Để chơn dung Đức Thầy là kỷ niệm, chớ không phải thờ như tượng Phật. Như đã thấy chỉ để  ở hai bên, chớ chẳng để trong ngôi Tam Bảo.)

        -Trường hợp ở đậu với người không cùng một Đạo, tới thời cúng chỉ niệm thầm đủ các bài nguyện trong tâm cũng được.

        3- BÀN THỜ CỬU HUYỀN THẤT TỔ:

        Bàn nầy đặt ngay giữa nhà, thấp hơn ngôi Tam Bảo, hoặc dưới ngôi Tam Bảo, nhà nhỏ thì làm nhị cấp.

        CÁC VẬT DÂNG CÚNG: Phật Trời không hề dùng vật thực thế gian, chỉ chứng tấm lòng thành mà thôi:

          “Tới với Ta chớ đem đồ cúng,

          Chỉ đem theo hai chữ thành lòng.

          Chẳng có cần trà, quả, hương nồng,

          Mong sanh chúng từ lòng hối ngộ”.

        Cho nên Đức Giáo Chủ dạy: bàn Phật và bàn Thông Thiên chỉ được cúng 3 món tiêu biểu mà thôi:

        1-“Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch”

        2-“Bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết.

        3-“Còn nhang dùng đặng bán mùi uế trược”.

        Ngoài ra, không nên cúng một món gì khác cả.

        Còn bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ cúng món chi cũng đặng (có chi cúng nấy).

        NÊN THỜ HOẶC KHÔNG NÊN THỜ NHỮNG AI ? - Người tín đồ PGHH chỉ nên thờ:“Phật, tổ-tiên, ông bà, cha mẹ và những vị anh hùng của đất nước, không nên thờ vị tà thần nào khác mà mình không rõ căn tích”.

B.- Ý NGHĨA BA NGÔI THỜ CÚNG :

        Theo truyền thống Quốc dân Việt Nam chúng ta đều sùng ngưỡng Tam Giáo “Phật, Thánh, Tiên”. Vào thời nước nhà tự chủ qua các triểu đại: Đinh, Lê, Lý, Trần, đều có mở những cuộc thi tổng hợp tam giáo, để tuyển chọn các bậc hiền tài, ra giúp nước vùa dân.

        Do truyền thống đó, PGHH đã hình thành trong lòng dân tộc và cũng mang màu sắc dân tộc. Tất nhiên là lời giáo huấn của Đức Giáo Chủ cũng dung thông cả Tam giáo để khế hợp với tinh thần dân tộc. Như Ngài đã cho biết.

        Trong Tam Giáo ân cần mở đạo,

          Trường ngoại bang phục đáo như xưa”.

        Và những câu:

        “Phật, Thánh, Tiên Đông Độ lướt sang,

          Miền Nam địa phân chia đẳng cấp”.

        Hoặc là:

        “Phật, Tiên, Thánh lòng nhơn hà hải,

          Những ước ao thế giới hòa bình”.

        Vì thế, trong nghi thức thờ cúng, Đức Thầy dạy: nơi tư gia của mỗi tín đồ có 3 ngôi thờ cúng là tượng trưng cho tam giáo: Phật, Thánh, Tiên.

        Vào năm 1968, Ban Phổ Thông Giáo Lý Trung Ương có họp bàn việc tu học và soạn thảo chương trình “Đạo Pháp Khai Tâm”. Trong đó, có bài “Ý nghĩa ba chỗ thờ cúng”. Nay chúng tôi cũng căn cứ vào đó mà lược giải ra đây:

        1- BÀN THỜ PHẬT: Cũng gọi là “Ngôi Tam Bảo”. Nơi đây tôn thờ vị Giáo chủ Đạo Phật trong cõi Ta Bà (Phật Tổ) và mười phương chư Phật, Pháp, Tăng, cùng Phật Thầy…Nên bàn thờ nầy có ý nghĩa tượng trưng cho Phật Đạo.

        2- BÀN THÔNG THIÊN: Có ý nghĩa: bàn thờ thông lên Trời. Vì trong câu nguyện thứ nhứt có 3 vị: Thiên hoàng (vua các cõi Trời), Địa hoàng (vua các cõi địa ngục), Nhơn hoàng (vua các cõi người). Cũng gọi là vị Chuyển Luân ThánhVương của cõi đời Thượng ngươn Thánh Đức tới đây:“Phật Tiên Thánh an bang cùng định quốc “Tam Hoàng trở lại là đời Thượng ngươn”.( ĐT). Nói chung các vị ấy đều là các bậc: Phật Thánh Tiên.

        Lúc Đức Thầy mới khai Đạo (1939), Đức Ông (thân sinh của Ngài) thấy Ngài sửa lại cái bàn Thông Thiên mà Đức Ông đã thờ từ trước có 2 cấp. Đức Thầy dẹp bỏ cấp dưới và 2 ly gạo muối, chỉ chừa lại 1 cấp, 1 lư hương, 1 chung bông và 3 chung nước.

        Đức Ông liền hỏi:

        -Theo truyền thống Bửu Sơn Kỳ Hương thì thờ Bàn Thông Thiên 2 cấp: Hoàng Thiên và Hậu Thổ, nay Thầy Tư bỏ hết 1 cấp làm sao đủ ?

        Đức Thầy vui vẻ hỏi lại:

        -Ông Cả nói thờ cấp trên là Hoàng Thiên, tức Thiên Hoàng, cấp dưới là Hậu Thổ, tức Địa Hoàng, còn Nhơn Hoàng thờ ở đâu ? Đoạn Ngài nói tiếp:

        -Thờ thống nhứt lại một cấp là đủ hết 3 vị, còn thờ 2 cấp lại bị thiếu !

        Vả lại, các danh từ: Trời, Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhơn Hoàng, non Bồng nước Nhược, non Tiên, Tiên bang…mà Đức Thầy có dùng trong Sấm thi của Ngài đều chỉ cho cảnh Tiên, người Tiên:

                “Kể từ Tiên cảnh Ta về,

           Non Bồng Ta ở dựa kề mấy năm”.( ĐT)

        Xét qua lời chỉ giáo của Đức Thầy và các lý lẽ vừa luận trên, chúng ta có thể hiểu chung một ý nghĩa: Bàn Thông Thiên là Bàn thờ thông lên trời, cũng gọi là bàn thờ Cộng đồng Tam Giáo, dùng để tưởng niệm bốn phương Trời Phật. Nó hàm chứa tinh thần tín ngưỡng Phật Trời muôn thuở, của người dân Việt Nam chúng ta “Thiên tại ốc thiềm đầu”, ra khỏi mái nhà thân mật, người lương dân đã tưởng nhớ Phật Trời. Đức Thầy dạy rành mạch:                     “Đi xa thì phải dặn rành,

          Bàn Thông Thiên cũng thiệt hành như y.

                Bốn phương đều đọc vậy thì,

          Cúi đầu bái tạ từ bi Phật Trời”.

        Hoặc là:

              “Cầu Trời Phật độ tiêu tai,

        Cứu trong thiên hạ Đạo khai khắp trời”.

        (Những chữ “…bái tạ từ bi Phật Trời” và “Cầu  Trời Phật độ…”, thấy rõ Đức Thầy dạy cầu nguyện nơi Bàn Thông Thiên, chẳng phải Phật không mà luôn cả Trời (Tiên).

        Tóm lại, qua các lý do kể trên, chúng ta có một nhận định chung là bàn Thông Thiên có ý nghĩa tượng trưng cho Tiên Đạo.

        3- BÀN THỜ ÔNG BÀ hay CỬU HUYỀN THẤT TỔ, tượng trưng cho Thánh Đạo. Bàn thờ nầy do truyền thống của Tổ Tiên ta từ thời Hùng Vương lập quốc tới giờ. Trong đây là tôn thờ Tổ Quốc và Ông bà cha mẹ từ vô lượng kiếp. Theo Tôn chỉ của PGHH thì hai điều TRUNG và HIẾU là then chốt:

        “Phụ mẫu thâm ân vô lượng kiếp,

          Quân thần nghĩa trọng hữu thiên niên”.( ĐT)

        Hoặc là:

        “Hiếu trung lòng chớ vội quên,

           Sống lo trọn Đạo thác lên Tiên đài”.( ĐT)

        Là một nền Đạo xuất phát trong lòng dân tộc, người tín đồ PGHH với tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân” không thể thiếu bàn thờ ông bà được. Cho nên bàn thờ “Cửu Huyền Thất Tổ” (ông bà) có ý nghĩa tượng trưng cho Thánh Đạo.

 

CHÚ THÍCH :

        THỜ PHƯỢNG: Cũng gọi là phượng thờ hay phụng thờ. Có nghĩa thờ kính và vâng chịu làm theo. Đức Thầy bảo:

“Hiếu trung truyện tích sờ sờ,

Người đời phải biết phượng thờ mẹ cha”.

        LỢI DỤNG: Thừa cơ hội mưu lợi cho mình mà có hại cho người khác.

        HỦY BÁNG: Phỉ báng, gièm pha nói xấu người ta.

        ĐƠN GIẢN: Đơn sơ, giản dị, không rườm rà phiền phức.

        TRẦN ĐIỀU: Bức trần đỏ, tức tấm tranh màu đỏ, tượng trưng cho sự tốt đẹp. Khi xưa Đức Phật Thầy Tây An khai sáng Tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Ngài dạy mỗi tín đồ thờ trên ngôi Tam Bảo một bức trần điều (đỏ) chớ không thờ tượng cốt chi hết, để tượng trưng cho tinh thần vô vi và tình thương yêu nhân loại muôn thuở của dân tộc ta, qua câu Ca dao:

                “Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

         Người trong một nước phải thương nhau cùng”.

        Thời nay lúc mới khai Đạo, Đức Thầy cũng theo di tích nói trên. Ngài dạy nơi nhà của mỗi tín đồ:

        Ngôi Tam Bảo hãy thờ Trần Đỏ,

        Tạo làm chi những cốt với hình”.

          (Nhưng đến tháng 2 năm 1940 thì đổi sang Trần Dà như đã nói trên).

          TÔNG PHÁI: Cũng gọi là Tôn phái, có nghĩa một chi nhánh của Đạo Phật, như: Tịnh Độ Tông, Thiền Tông, Mật Tông,v.v…

        MÀU DÀ: Sắc hơi nâu nâu. Hồi trước từ tấm vải trắng, người ta lấy vỏ cây dà nấu ra nước rồi nhuộm lại thành màu dà. Sau nầy người ta dùng các màu: đỏ, trắng, đen…hòa hợp lại thành màu dà tươi đẹp.

        Xưa, lúc Thái Tử Sĩ Đạt Ta mới đi tu, Ngài đem bộ nhung phục, đổi lấy bộ đồ dà của anh thợ săn mặc vào, để không còn vướng bận chút mùi cao sang vương giả nào trong người nữa. Bởi thế, từ đó đến giờ các nhà tu thường dùng màu dà, để biểu hiện cho sự thoát tục của mình. Đức Thầy từng nói:

                “Từ mang một tấm áo dà,

           Mùi thiền đã thấm ơn nhà lợt phai”.

        Thế nên dùng màu dà là vừa biểu hiện cho sự siêu thoát và cũng vừa tượng trưng cho sự hòa hiệp, thương yêu, đoàn kết và bình đẳng cả nhân loại không phân biệt chủng tộc hay cá nhân:

                “Dứt trần mang bộ sồng nâu,

          Trông ngày chư quốc chư hầu tỉnh tâm”.( ĐT)

        Cho nên Đức Thầy dạy tín đồ dùng màu dà trong chỗ thờ phượng là để tiêu biểu cho tinh thần từ bi, bình đẳng và vô thượng của nhà Phật.

        BIỂU HIỆN: Hiện ra, bày ra rõ rệt.

        THOÁT TỤC: Thoát khỏi vòng trần tục, không bị các vật dục: danh, lợi, tình chi phối hay ràng buộc.

        TIÊU BIỂU: Cây nêu hoặc tấm bảng nêu lên cho người ta trông vào mà thấy được tinh thần bên trong.

        TINH KHIẾT: Trong sạch cao cả, không chút bợn nhơ, tà quấy. Đức Thầy nói:

        Mài gươm trí cho tinh cho khiết”.

        UẾ TRƯỢC: Dơ bẩn, hôi thúi.

        ANH HÙNG: Anh là vua các loài hoa; Hùng là vua các loài thú. Chỉ bực hào kiệt, tài giỏi xuất chúng.

        TÀ THẦN: Các vị thần không chơn chánh hay phá phách dân chúng, đặng ăn đồ cúng tế.

        CĂN TÍCH: Gốc tích rõ ràng, có lịch sử chính xác.

 

 2.- HÀNH LỄ

(SGTVTB 2004, tr. 202-203)

 CHÁNH VĂN

          Chỉ thờ lạy Đức Phật, tổ-tiên, ông bà, cha mẹ lúc còn sống và các vị anh-hùng cứu-quốc. Với những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy lục người sống, cho đến Thầy mình cũng vậy, chỉ xá thôi.

          Tất cả các hành-động trong Đạo hay ngoài đời, trước khi làm điều gì phải tính-toán một cách cẩn-thận, đừng làm chuyện ngông-cuồng vô-ý-thức. Một đừng ỷ-lại vào kẻ mạnh, hai đừng ỷ-lại vào sự cứu-vớt của Thần Thánh, ba đừng ỷ-lại vào sự binh-vực của Thầy mình. Luôn luôn, lúc nào cũng phải nhớ câu Nhơn-Quả của Phật dạy, nếu Nhơn toàn thiện thì Quả cũng sẽ do đó được toàn thiện vậy. Kẻ nào hành-động ngông-cuồng không suy-xét cẩn-thận để đến đổi thất bại đem đến sự khó- khăn, khổ-não rồi trách-cứ kẻ mạnh sao không cứu mình, Thầy sao không giúp mình, Trời Phật sao không độ mình, thì sự lầm-lạc ấy rất đáng thương hại.

          Mỗi người hãy nên lấy trí thông-minh nhận xét Đạo-lý hay lời nói của Thầy mình, chớ đừng lấy đức-tin thọ lãnh những lời nói đó trong khi mình chưa hỏi tường tận. Như thế, mình mới có thể tấn-hóa trên con đường Đạo-đức.

          Những điều sơ-lược giải-thích trên đây, mong rằng toàn-thể trong Đạo suy-gẫm kỹ-càng và thực-hiện để bài-trừ sự mê-tín ngông-cuồng của thiểu số người trong Đạo, làm cho tư-tưởng thiện-hòa của Phật-đạo được phát-triển mau chóng.

 

 LƯỢC GIẢI :

        Hành lễ, tức là sự lễ bái (lạy lục) gồm có các phần:

        1/- THỜ LẠY NHỮNG AI LÚC CÒN SỐNG:

        Theo ý Đức Thầy dạy trong đoạn nầy, chúng ta cũng được lễ bái những vị như “Đức Phật, Tổ Tiên, Ông bà, Cha mẹ lúc còn sống…”

          “Với những kẻ khác nên bỏ hẳn sự lạy người sống, cho đến Thầy mình cũng vậy, chỉ xá thôi”.

        2/- HÀNH ĐỘNG:

        Mỗi người trước khi làm việc gì, dầu đối với người trong Đạo hay ngoài đời, cần phải suy xét, cân nhắc kỹ lưỡng rồi sẽ thi hành không nên làm việc “ngông cuồng vô ý thức”:

         “Một là đừng ỷ lại vào kẻ mạnh.

          Hai là đừng ỷ lại vào sự cứu vớt của Thần Thánh. Ba là đừng ỷ lại vào sự binh vực của Thầy mình”.

        Lúc nào cũng tin sâu vào luật Nhân Quả:

        Tích thiện thì thường có phước dư,

          Bằng tích ác họa ương đeo đắm”.( ĐT)

        Còn những ai trước khi thi hành mà chẳng chịu suy tính cẩn thận, bàn xét chu đáo, cứ làm càng nói bướng để việc bất thành hay gặp tai nạn khó khăn, rồi vội trách cứ người thân, Đức Thầy hay Trời Phật, Thần Thánh sao không cứu giúp mình. Điều sai lầm ấy thật là đáng tiếc và đáng thương hại !

        3/- NHẬN XÉT ĐẠO LÝ ĐỂ TRÁNH MÊ TÍN:

        Đoạn nầy Đức Thầy dạy chúng ta, mỗi người phải lấy trí huệ mà nhận xét kỹ càng, những lời chỉ giáo của Ngài, rồi sẽ tin và làm theo. Chớ không nên “lấy đức tin thọ lãnh những lời nói đó mà trong khi mình chưa hỏi tường tận. Như thế, mình mới có thể tấn hóa trên con đường Đạo đức.”

        Đức Thầy còn nhắc nhở chúng ta, hãy suy gẫm, xét đoán kỹ càng những lời của Ngài giải thích trong đây để bài trừ sự “mê tín ngông cuồng” hãy “làm cho tư tưởng thiện hòa của Đạo Phật” được lan rộng khắp bàng nhân bá tánh.

CHÚ THÍCH :

        NGÔNG CUỒNG: Nói hay làm một cách quá đáng trong lúc bồng bột, nóng nảy quá dại dột.

        VÔ Ý THỨC: Không có ý thức, không chịu suy xét, cân nhắc cẩn thận.

        NHÂN QUẢ: (Xem chú thích chữ “Luật Nhân Quả” , tr. 19-20 )   

        TOÀN THIỆN: hoàn toàn tốt lành.  

        ĐẠO LÝ: Lý lẽ của Đạo hay cái nghĩa lý đương nhiên hợp với lẽ phải mà ai cũng công nhận.

        Học Đạo lý như đờn trúng điệu,

          Hòa bản rồi thì cứ làm theo.( ĐT)

        THỌ LÃNH: Vâng chịu, nhận lấy.

        TƯỜNG TẬN: Rành rẽ, cặn kẽ rõ ràng.

        TẤN HÓA: Cũng gọi là tiến hóa. Có nghĩa bỏ cái cũ, đổi lấy cái mới cao hơn, hay hơn, tốt lành hơn.

        BÀI TRỪ: Trừ bỏ đi, dẹp cho tan hết.

        MÊ TÍN: Tin tượng mù quáng, nhắm mắt tin càn, thiếu xét suy cẩn thận.    

        THIỆN HÒA: Hoà hợp tốt lành.

 

 3.- TANG LỄ

(SGTVTB 2004, tr. 204- 205)

 CHÁNH VĂN

          Lúc ông bà cha mẹ từ trần, tục để tang chúng ta vẫn giữ theo cổ lệ, chỉ cần sửa đổi các sự như sau đây:

          Bây giờ chúng ta đã quy-y đầu Phật, thì phải do sự thành-tâm cầu nguyện, và đem sức khấn vái của anh chị em trong Đạo cầu nguyện cho vong-linh người chết được siêu-sinh nơi cõi thọ. Chẳng nên rước những ông thầy dưng bông, đốt giấy-tiền vàng-bạc, xá phướn lầu kho, vì đó là chuyện tốn tiền vô ích, bởi vì người ta nhận-định rằng xác thịt là hư hoại, thì trong lúc chết chỉ đem chôn cất cho kín đáo, đừng để hôi thúi có hại cho người sống, như thế là đủ rồi. Còn hiếu sự do hồi còn sanh tiền và do sự tu hành, sự thành-tâm cầu nguyện chớ không phải có tiền rước người khác cầu nguyện mà đạt được hiếu-thuận nhơn-nghĩa. Chỉ vọng bàn giữa nhà hay giữa trời cầu nguyện, rồi im lặng đi chôn.

          Việc cúng kiếng ông bà cha mẹ, có chi cúng nấy trong những ngày kỷ niệm theo như tục lệ. Còn về việc đãi đằng hương-đảng thì tùy ý. Những điều nào xét ra giản-tiện, ít lãng-phí cứ làm.

 LƯỢC GIẢI :

         MỤC TANG LỄ gồm có các phần:

        1.-TỤC ĐỂ TANG:

        Về tang lễ, Đức Thầy dạy: Nếu trong nhà có người từ trần thì tục để tang được giữ theo cổ lệ. Tức là phong tục từ xưa do Tổ tiên của đất nước ta truyền lại, như : may y phục tang, khăn tang (vải trắng), lập bàn thờ tang, tổ chức lễ an táng; ba ngày cũng cúng khai mộ, cầu siêu 7 thất, làm tuần 100 ngày (bá nhựt), làm tuần giáp năm, làm tuần mãn khó (xả tang sau 24 tháng) và hàng năm cúng giỗ (kỷ niệm). (Làm tuần 7 thất là tục lệ từ xưa nhưng xét đây là tục lệ chân chánh nên chúng ta còn giữ.)

        2.-NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM:

        Theo ý Đức Thầy bảo: bây giờ chúng ta đã qui y đầu Phật thì trong cuộc an táng nên thi hành lễ cầu siêu trước giờ động quan. Nơi đây gồm có những bà con, thân bằng quyến thuộc và nhờ đồng đạo xa gần, thành tâm cầu nguyện cho hương linh người quá vãng được siêu thoát. Rồi mỗi người chấp nhang vào ngực hộ niệm đưa linh cữu đến nơi an táng.

        3.-CÁC ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM:

        Căn cứ theo đây thì Đức Thầy không cho rước các ông thầy nhưn bông, làm đám; không đốt giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo, xá phướn lầu kho; không dùng đờn kèn trống phách, chiêng đẩu...; không cho đạo tỳ hò hét vang rân; ngày khai mộ không nên bắt gà kéo chung quanh mộ, làm cầu thang giả hay trồng mía lau; không dùng 5 ống tre gạo muối cắm theo năm hướng. Chỉ dùng nhang đèn, bông, nước, bánh trái mà cúng thôi. Vì các sự kiện trên đều là dị đoan mê tín.

        Đức Thầy đã nhiều lần mách bảo:

        Vàng bạc bởi tay khách trú làm,

          Phật, Thần, Tiên, Thánh chẳng dùng ham.

          Giấy quần, giấy áo không nên đốt,

          Nghĩ chuyện dối ma chẳng đáng làm”.

        4.-NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ CHẾT VÀ HIẾU SỰ:

        Xét rằng con người có sanh tất có tử, có hình thành tất có hoại diệt, nên khi có người chết hãy đem chôn xác thể, đừng để hôi thúi mất vệ sinh chung.

        Còn sự báo hiếu là mình lo nuôi dưỡng ông bà cha mẹ lúc sanh tiền và lo tu hành, tác phước thiện duyên, để hồi hướng công đức cho ông bà cha mẹ đặng siêu thoát. Chẳng nên liệm vàng bạc theo, hoặc sát sanh hại vật mà cúng tế. Đức Thầy hằng cảnh giác:

                Của tiền chớ có bỏ theo,

        Chết rồi tế lễ bò heo làm gì ?

                Nếu ai biết chữ tu trì,

           Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.

                Không làm để ở lung lăng

          Chưởi cha mắng mẹ lăng xăng thiếu gì”.

        5.-VIỆC TIẾP ĐÃI THÔN XÓM:

        Theo cổ lệ dân tộc Việt Nam xưa nay, không phân biệt tôn giáo hay giai cấp nào, hễ một gia đình có việc “Hôn, quan, tang, tế” thì các gia đình khác đều đến tiếp giúp qua lại với nhau.“Nhứt gia hữu sự bá gia ưu”.(Tục ngữ), cho nên trong đám tang tất phải có chòm xóm. Quan khách hoặc chánh quyền, tôn giáo bạn đến tham dự, kể như là những người ân nghĩa. Muốn đáp lại, Đức Thầy dạy: không phải đợi mâm cao cỗ đầy, mà nên đáp từ theo lễ nghĩa:“Tiếng chào cao hơn cỗ”(Tục ngữ). Còn việc tiếp đãi thì xét ra điều nào giản tiện, ít lãng phí cứ làm (ĐT) . Ngài có dặn rõ:

                “Bỏ bớt rình rang một khi,

        Nếu cha mẹ chết làm y lời nầy.

                Là lời truyền giáo của Thầy,

        Bông hoa cầu Phật hiệp vầy đi chôn.

                Còn mình muốn đãi làng thôn,

        Thì là tùy ý đáp ngôn cho người”.

 

CHÚ THÍCH :

        CỔ LỆ: Lệ xưa, tục lệ từ xưa lưu truyền lại.

        THÀNH TÂM: Lòng chí thành chí thật. Cổ Đức từng bảo:“Thành tâm sở chí, kim thạch vị khai”.( Ý nói sức mạnh sự thành tâm khẩn thiết hướng đến đâu có thể chẻ núi phá vàng đến đó). Cho nên Đức Thầy hằng dạy:

Thứ bảy Chánh niệm vậy thì,

Khi cầu khi nguyện chuyện gì thành tâm”.

        CÕI THỌ: Cõi sống lâu. Đây chỉ cho cõi Cực Lạc.

        THẦY DƯNG BÔNG: Cũng gọi thầy Nhưn bông. Tức là những người ăn mặc như nhà sư, nhưng chỉ chuyên đi làm đám, cầu siêu và tụng kinh mướn để lấy tiền, làm hoen ố Đạo Phật. Đức Thầy bảo:

         Kinh với sám tụng nghe thảnh thót,

          Lũ nhưn bông tập luyện đã rành.

          Đẩu với đờn kèn trống nhịp sanh,

          Làm ăn rập đặng đòi cao giá”.

        GIẤY TIỀN VÀNG BẠC: Tờ giấy trắng họ in hình đồng tiền kẽm hồi xưa trong đó. Loại khác thì họ phết một khúc màu vàng, một khúc màu bạc, rồi gọi là giấy tiền vàng bạc.

        Từ lâu, có vô số người còn theo tục lệ dùng giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo và xá phướn lầu kho để đốt cho người chết mang theo hoặc gởi xuống âm phủ. Họ mê tín rằng làm như vậy người chết xài được. Chớ họ có biết đâu những sự vật ấy là do bọn Vương Luân đời Đường (Trung Hoa) chế ra để phỉnh gạt người đời mà trục lợi. Đến bây giờ các thầy nhưn bông cũng còn tiếp tục làm theo, nên Đức Thầy mới khuyên:

        Những giấy tiền vàng bạc cũng thôi,

           Chớ có đốt tốn tiền vô lý”.

        XÁ PHƯỚN LẦU KHO: Là hình xá hạt, xá ngựa, lầu kho, phướn sớ làm toàn bằng giấy và cỏ sậy nho nhỏ, do các thầy nhưn bông làm ra, để khi có lễ làm tuần, cầu siêu thì đem đốt. Họ mị dối với tang chủ rằng đốt đồ đó người chết ở âm phủ xài được và xá hạt xá ngựa sẽ mang phướn sớ ấy đến Trời Phật. Thật là giả dối lạ lùng. Đức Thầy thường giác tỉnh mọi người:

         “Xá với phướn là trò kỳ quái,

          Làm trai đàn che miệng thế gian.

          Kẻ vinh hoa phú quí giàu sang,

          Mướn tăng chúng đặng làm chữ hiếu.

          Thương bá tánh vì không rõ hiểu,

          Tưởng vậy là nhơn nghĩa vẹn tròn.

          Thấy lạc lầm đây động lòng son,

          Khuyên bổn đạo hãy nên tỉnh ngộ”.

        HIẾU THUẬN: Tôn kính, bảo dưỡng và thảo thuận vâng lời cha mẹ để làm tròn bổn phận con người.

        KỶ NIỆM: Ghi nhớ, tưởng nhớ. Đồng nghĩa với ngày cúng giỗ hay ngày kỵ cơm ông bà.

        HƯƠNG ĐẢNG: Thôn xóm, chỉ chung những người ở chung quanh.

        LÃNG PHÍ: Xài hao phí tiền của vô ích.

 

 4.- CÁCH CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI CHẾT.

(SGTVTB 2004, tr.204-205)

 CHÁNH VĂN

          Mỗi người đứng trước bàn  Phật niệm: “Nam-mô Bổn-sư THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT” (ba lần) và “Nam-mô A-DI-ĐÀ PHẬT” (ba lần).

          Vái: “PHẬT TỔ, PHẬT THẦY, nay mình thành-tâm cầu nguyện cho tên ... (tên người chết), nhờ ơn Đức Phật từ bi cứu độ vong-linh được thoát chốn mê-đồ, vãng-sanh miền Cực-Lạc ! ” Trong lúc ở nhà hay lúc đưa đám tang gì cũng vậy, nếu có tổ-chức sắp hàng chấp tay niệm:

           “Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới tam thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn cửu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại-từ đại-bi tiếp-dẫn vong-linh A-DI-ĐÀ PHẬT” (nếu người chết là nhà sư thì câu chót đọc:  “Tiếp-dẫn đạo-sư A-DI-ĐÀ PHẬT”).

            NÊN LƯU Ý: Tang gia đừng nên khóc lóc làm trở ngại sự siêu-thoát anh-linh của người chết.

 LƯỢC GIẢI :

        Trong mục “Cầu Nguyện Cho Người Chết” gồm có ba phần:

        1-ĐẶT BÀN CẦU NGUYỆN:

        Đức Thầy dạy:“Chỉ vọng bàn giữa nhà hay giữa trời cầu nguyện rồi im lặng đi chôn. Nghĩa là nếu nhà sân rộng thì đặt bàn ngoài sân. Còn gặp nhà không có sân thì đặt ngay giữa gần mái nhà trước cũng được. Trên bàn chỉ để một lư hương, 3 ly nước lạnh, 1 bình bông hoặc 3 chung bông. Tuyệt đối không nên để bánh trái hay món gì nữa hết.

        2-CÁCH ĐỌC BÀI NGUYỆN:

        Mấy lúc gần đây trong Đạo chúng ta có nhiều vị đọc bài nguyện cho người chết, hoặc thêm hoặc bớt không đồng nhất, là vì không chịu nhận xét chính xác ý văn của Đức Thầy. Để tránh sự bất nhất ấy, chúng ta nên nghiên cứu kỹ lại. Những chữ ngoài bên ngoặc kép (“) thì không nên đọc, như câu “Mỗi người đứng trước bàn Phật niệm” hoặc chữ “Vái” hoặc các chữ trong ngoặc đơn như “(ba lần)” ...cũng không nên đọc. Vì những chữ ấy đều là lời chỉ dẫn và cũng đừng thêm vào tuổi tác hay ngày giờ người chết. Bởi những ý nầy chủ nhà hoặc người xướng ngôn đã tuyên bố lý do trong lời nói đầu.

        Xin nhắc lại vào khoảng năm 1965, Ban Phổ Thông Giáo Lý Trung Ương, có soạn thảo chương trình tu học Giáo lý sơ cấp. Trong môn Nghi thức có bài “Cầu Nguyện Cho Người Chết”, Ban Phổ thông Giáo lý Trung Ương có mở phiên họp bàn thảo về các chữ trong bài nguyện…Bàn thảo xong tất cả đều đồng ý bỏ những lời chỉ dẫn ra không đọc.

        Trước các chữ “Phật Tổ, Phật Thầy” cần thêm vào hai chữ “Nam Mô”, bởi hai lý do: - Một là vì đọc chữ Phật Tổ Phật Thầy trơn, nghe hình như thiếu khiêm cung. Điểm hai là vì bên bài nguyện Qui y, Đức Thầy có viết “Nam Mô Phật Tổ Phật Thầy”, thì bên nầy mình dùng chắc không sao, chớ không phải dám nghĩ Đức Thầy viết thiếu.

        Còn câu: “Nay mình thành tâm..” thì đồng ý thay chữ “mình” bằng chữ “con”, bởi lẽ chữ “mình” là ý chỉ người cầu nguyện. Nếu cầu nguyện cá nhân thì đọc “Nay con thành tâm…”còn xướng ngôn tập thể, thì đọc “Nay chúng con thành tâm…” Đến chữ “tên” cũng thay bằng  chữ Ông hay ( kèm theo họ tên), nếu người chết nhỏ tuổi quá thì gọi hoặc Em, Cháu gì cũng được.

        Sau khi bàn thảo kỹ lưỡng, Ban Phổ Thông đều đồng ý đưa ra một bài nguyện mẫu, đã có in trong Tài liệu sơ cấp và toàn thể trong Đạo đều áp dụng từ đó đến nay. Chúng tôi xin chép lại bài Nguyện đó sau đây:

        Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

          Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)

          Nam mô Phật Tổ Phật Thầy, nay con/chúng con thành tâm cầu nguyện cho (ông/ bà + họ và tên) nhờ ơn Đức Phật từ bi cứu độ vong linh được thoát chốn mê đồ vãng sanh miền Cực Lạc”.

          Lưu ý:

        - Các chữ trong ngoặc đơn chỉ dùng để chỉ dẫn nên không đọc) .

        - Vừa niệm Phật vừa xá ba xá, kế đó góp hết nhang cắm lên bàn rồi lạy bốn lạy).

        - Đức Thầy không  dạy cố định là cầu nguyện 1 lần hay 3 lần; tùy theo thời gian và chương trình cuộc lễ rộng hẹp, dài ngắn…mà Ban tổ chức linh động cho cầu nguyện 1 hay 3 lần tùy ý.)

        Nghiên cứu qua lời dạy của Đức Thầy thì bài “Tây Phương Cực Lạc Thế Giới tam thập lục vạn ức,…” lúc cầu nguyện không nên đọc, mà chỉ dùng khi người bịnh vừa tắt thở. Lúc đó người hộ niệm hoặc đứng hay ngồi chung quanh vẫn tiếp tục niệm…Và niệm lúc đi theo bàn Phật ra tới huyệt.

        Sở dĩ chúng tôi đưa nhận xét và biên soạn ra đây là vì muốn khi cầu nguyện cho người chết, trong Đạo chúng ta không còn chênh lệch nhau quá. Chớ thật ra, cầu nguyện có được kết quả là do chỗ thành tâm, chớ không phải do hình thức văn tự:“Khi cầu khi nguyện chuyện gì thành tâm”.( ĐT)

        3-CÁCH HỘ NIỆM:

        Hộ niệm có 2 giai đoạn:

        a) Lúc bệnh nhơn chưa tắt thở: Theo cổ lệ Phật giáo, người tu Pháp Tịnh Độ, nếu có người bịnh sắp lâm chung đều tổ chức hộ niệm. Hiện giờ trong PGHH chúng ta vẫn áp dụng, vì đây là chánh lý.

        Người sắp chết có những trạng thái không giống nhau: có người bấn loạn tâm thần, đau nhức rên than, đập mình lăn lộn, thở không muốn kịp; có người lại nằm mê man, thở dài và nhẹ lần cho đến khi chấm dứt…Cho nên rất cần có người hộ niệm.

        Lúc đó, con cháu và đồng đạo ngồi hoặc đứng chung quanh, chấp tay vào ngực niệm liên tục 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”, giúp cho bệnh nhơn nghe và niệm theo, hoặc nhớ tưởng từ tiếng hầu giữ được chánh niệm, hướng về Đức Phật Đức Thầy. Dầu người bịnh có nằm mê hay cứng hàm không niệm được, hoặc thần thức chập chờn sắp rời khỏi xác, cũng nghe được tiếng niệm Phật mà hướng về Đức A Di Đà và Cực Lạc quốc…Nên nhớ tiếng niệm Phật phải trầm đều, nhưng rõ ràng. Chớ không nên niệm bổng và lớn hay lẹ quá, vì người bịnh đang mệt, nghe niệm theo không kịp.

        b) Khi người bịnh tắt thở: Lúc người bịnh sắp tắt thở, những người không hộ niệm nên lên nhang đèn các bàn thờ và quì sắp hang thành tâm cầu nguyện (3 lần), rồi cũng tiếp tục hộ niệm, đến khi người bệnh tắt thở thì tất cả xoay qua niệm câu “Nam mô Tây phương Cực lạc Thế giới tam thập lục vạn ức,...” Cứ thay phiên niệm liên tục.

        4- CÁCH CẦU NGUYỆN THỐNG NHỨT:

        Theo thông lệ, khi tẩn liệm người chết xong, những người đến dự đám tang đều có thể cầu nguyện và lễ bái cá nhân. Nhưng khi gần giờ di quan thì có tổ chức cầu nguyện thống nhứt, một lần 3 lượt, hoặc một lần 1 lượt là tùy theo sự sắp đặt của Ban tổ chức. (Lưu ý: người phát hương phải dè dặt cẩn thận, không nên trao hết cho mỗi người có tánh cách ép buộc, mà ai xin nhận mới trao. Nhứt là đối với quan khách, chánh quyền và những người không có Đạo.) Cầu nguyện thống nhứt xong, nếu có điếu văn, cảm tạ, hoặc cảm tưởng, nên cho đọc trong giờ nầy, có đầy đủ người dự đám. Khi ra đến phần mộ nên cầu nguyện thống nhứt 1 lần 1 lượt thôi.

        5- HÌNH THỨC ĐƯA LINH CỮU RA HUYỆT:

        Tới giờ di quan, Ban tổ chức cho khiêng bàn Phật đi trước. Kế đó là một số người hộ niệm có mặc áo lễ, rồi các tràng hoa (nếu có). Tiếp theo là vãng lỵ, bàn vong và linh cữu. Tang gia và thân quyến đi khít linh cữu. Còn những người dư ra đều đi tiếp theo đó. Mỗi người đưa đám đều cầm 1 cây hương và đọc bài “Nam Mô Tây Phương Cực lạc Thế giới tam thập lục vạn ức,…”(hộ niệm).Tuyệt đối là không nên nói chuyện ngoài hoặc khóc kể, như Đức Thầy đã cho biết vì thế sẽ “…trở ngại sự siêu thoát anh linh của người chết”.

        (Hộ niệm lớn tiếng hay niệm thầm là tùy nơi, tùy người, nhưng nếu niệm lớn thì phải nương theo cho ăn rập, đừng niệm lỏi chỏi.)

 

 CHÚ THÍCH :

          NAM MÔ: Phiên âm của Phạn ngữ Namah. Tàu dịch là qui mạng và cứu ngã (tiếng dùng cầu khẩn), tức là mình chịu qui phục với Đức Phật…và cầu Ngài cứu độ mình. Nam mô cũng có nghĩa qui y:“Hai chữ Nam mô ấy lẽ hằng”.( ĐT)

        BỔN SƯ: Ông thầy căn bản (gốc). Thầy cả ba giới, bốn loài. Đây chỉ cho Đức Thích Ca là đấng sáng lập Đạo Phật đầu tiên.

        THÍCH CA: Phiên âm của Phạn ngữ Sakya họ của Phật, dịch là Năng nhơn. Nghĩa là người có năng lực từ bi rộng lớn, thương xót và cứu độ vạn loại chúng sanh.

        MÂU NI: Phiên âm  Phạn ngữ Mouni, dịch là Tịnh mặc, có nghĩa là trong sáng lặng lẽ; tuy làm các hạnh lành, giúp thế độ đời mà lòng vẫn an nhiên, trong sạch, không xao động thiên chấp.

        PHẬT: Đấng hoàn toàn giác ngộ, toàn thiện, toàn mỹ, tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn.

        Tóm lại, câu “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” nghĩa là cả tam giới đều tôn xưng công đức siêu thắng của Đức Thích Ca Mâu Ni.

        A DI ĐÀ PHẬT: (Phiên âm Phạn ngữ Amitabhâ), dịch là “Vô Lượng Thọ Phật”, tức là Ngài thọ mạng dài dặt vô lượng vô biên triệu ức kiếp, và “Vô Lượng Quang Phật” tức là hào quang của Ngài sáng vô cùng chiếu khắp mười phương, không bị sự vật nào ngăn che.

        A Di Đà Phật là vị giáo chủ  cõi Tây phương Cực Lạc, có nguyện lực tiếp dẫn chúng sanh 10 phương vãng sanh về cảnh giới của Ngài, nếu ai biết niệm Phật, làm lành và có đủ Tín, Nguyện, Hạnh. (Xem thêm chú thích tại  Q.Thượng, Tập 1/3, tr. 136-138).

        PHẬT TỔ: Tức Đức Phật Thích Ca (Xem thêm : Sĩ Đạt Ta, Q. Thượng, Tập 3/3, tr.233-234).

        PHẬT THẦY: Xem chú thích chữ Đức Phật Thầy Tây An, tr. 21.

        TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI: Thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà ở về hướng Tây, đối với cõi Ta bà chúng ta. Kinh Di Đà, Đức Thích Ca bảo:

        “Cách đây mười muôn ức cõi Phật về hướng Tây có cõi Cực Lạc, do Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ và Ngài đang thuyết pháp độ sanh tại đó”.

        TAM THẬP LỤC VẠN ỨC: Ba mươi sáu vạn ức.

        NHỨT THẬP NHỨT VẠN: Mười một vạn.

        CỬU THIÊN NGŨ BÁ: Chín ngàn năm trăm.

        Đọc chung lại là Ba mươi sáu vạn ức, mười một vạn, chín ngàn năm trăm. Theo Phật Học từ điển, có thể tạm viết con số ấy như vầy 36.000.119.500, nhưng nhà nghiên cứu Kinh điển nên lưu ý không nên chấp văn tự. Vì con số nầy là số tượng trưng, chỉ cho con số vô lượng, là vì chư Phật ở cõi Cực Lạc không một ai có thể đếm hết con số bởi công đức và nguyện lực của Đức Phật A Di Đà. Nếu chúng ta hiểu bằng văn tự là vẫn thiếu. Do đó, Đức Thầy dạy niệm nguyện câu nầy là có dụng ý: dạy chúng ta nguyện hết chư Phật ở cõi Cực Lạc, không sót một vị nào.

        ĐỒNG DANH ĐỒNG HIỆU ĐẠI TỪ ĐẠI BI: Bởi vị Phật nào cũng chứng đắc “Tứ vô lượng tâm” (Từ, Bi, Hỉ, Xả) và hoàn toàn giác ngộ nên nói đến đại từ, đại bi thì Phật nào cũng cảm thông tất cả, mới gọi là “đồng danh đồng hiệu”.

        TIẾP DẪN: Rước đưa về cõi Phật. Đức Thầy có câu:“Lóng nguồn chơn Phật tiếp dẫn cho”.

        Tóm lại bài:“Tây Phương Cực Lạc…” theo lời ông Nguyễn Chi Diệp kể là Đức Thầy viết cho tín đồ trì niệm là để thay cho bài chú Vãng sanh trong kinh Phật thời xưa.

        Đại ý là chúng ta cầu nguyện Đức Phật A Di Đà và hầu hết chư Phật ở cõi Cực Lạc tiếp dẫn linh hồn người chết hoặc tất cả chúng sanh đều được siêu sanh về cõi Tây phương Cực Lạc.

        (Theo lời ông Nguyễn Chi Diệp kể lại: Vào năm 1939, lúc Đức Thầy còn ở Tổ Đình Hòa Hảo, một hôm ông và một số tín đồ có mặt tại đó, Đức Thầy kêu hỏi:

        -Trong các ông có ai thuộc bài chú Vãng sanh trong kinh Phật từ trước không ?

        Có một ông lão đứng lên nói: Bạch Thầy ! Tôi còn nhớ. - Đức Thầy bảo: Đọc thử nghe ! Ông lão liền đọc: “Nam mô A Di Đa bà dạ…”. Đọc xong, ông ngồi xuống, bị sai ít chữ.

        Đức Thầy nói:

        - Bài chú nầy phiên âm của Phạn ngữ, học lâu thuộc và không biết nghĩa, nên đọc bị sai chữ. Vậy để tôi đọc bài chú Vãng Sanh khác cho mấy ông nghe. Nói rồi Ngài đọc lên:“Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới…”

        Đọc xong, Ngài giải thích:

        - Bài nầy dùng vào 3 việc:

        1-Dùng niệm trong giờ niệm Phật, hoặc đi đứng nằm ngồi. Nó có ý nghĩa như câu lục tự Di Đà, nhưng có ý vị tha (cầu cho tất cả chúng sanh). Còn 6 chữ Di Đà có ý vị kỷ (chỉ niệm cầu cho mình). Song 2 câu nầy đều niệm hết.

        2-Dùng trong lúc hộ niệm cho người chết từ lúc vừa tắt thở đến đưa đám tang ra tới huyệt.

        3-Là khi thấy bất cứ người hay các sanh vật chết, không cần quen lạ, đều hướng tâm niệm thầm cho họ. Nhứt là trong mọi sự sinh hoạt và đi đứng của Cư sĩ tại gia như chúng ta hiện giờ, không khỏi va chạm làm đau đớn hoặc thiệt hại đến sanh mạng của các sanh vật (cả bốn loài: noãn, thai, thấp, hóa) như: cày ruộng cuốc đất, nấu ăn, uống nước.v.v…Tuy là nghiệp sát sanh vô tình, song ta cũng phải mắc nghiệp nợ đó. Cho nên giờ phút nào chúng ta cũng phải niệm bài chú nầy, hoặc niệm Phật liên tục, để vừa biết ơn và thương xót tất cả:“Tu biết thương vốn thiệt chay trường” (đó là tâm chay); “Chay được tánh chay tâm mới qúy (ĐT). Cũng vừa cầu tất cả chúng sanh được siêu sanh Tịnh Độ và nguyện tu hành đắc đạo để độ các linh hồn đó. Ấy là chúng ta tự đổi cái nghiệp nợ oán thù ra cái ân và kết duyên lành với họ. Sau nầy nếu tu đắc Đạo trước sẽ độ được họ, bằng họ đắc quả trước cũng độ được ta.

        Đức Thầy giải thích xong, mọi người lấy giấy viết, nhờ Ngài đọc lại, đặng ghi chép học. Nhưng mãi đến năm 1945 Ngài mới viết vào Quyển 6 nầy. 

 

 5.- HÔN NHƠN

(SGTVTB 2004, tr. 205)

 CHÁNH VĂN

          Bổn phận cha mẹ phải chọn lựa đôi bạn cho con một cách xứng-đáng bằng sự quan-sát tường-tận về đức-tánh đôi trai gái. Không nên ép-uổng con mình quá đáng, vì như thế làm cho khốn-khổ nó về sau, nhưng cũng không nên để chúng quá tự-do mà sự thiếu  kinh-nghiệm làm cho đời chúng phải hư-hỏng.

          Nên bỏ tục-lệ thách giá đòi tiền và đòi lễ-vật. Thông-gia hai bên không nên làm khó cho nhau. Cũng chẳng nên bày ra tiệc lễ linh-đình tốn kém nhiều tiền làm cho trở nên nghèo khổ.

 

 LƯỢC GIẢI :

        Trong Đạo PGHH chúng ta tu với hình thức Tại gia Cư sĩ, tuy cũng có một số người lập chí tu độc thân, nhưng chỉ một phần ít, còn hầu hết là có gia đình. Cho nên Đức Thầy mới đề cập đến việc Hôn nhơn cho con cháu.

        1- Theo Đức Thầy dạy: trước nhất, là Đạo làm cha mẹ, có bổn phận định đôi gả bạn cho con mình khi đúng tuổi. Song nếu con bằng lòng mới lo, chớ không nên ép. Việc nầy có hai trường hợp:

        - Một là đứa con muốn ở độc thân để tu hầu sớm ra khỏi vòng sanh tử mà mình ép nó lập gia đình là tội nghiệp. Tuy nhiên, mình phải nhận xét trình độ, khả năng và ý chí của con, nó tu cách đó được không ?

        - Hai là vì ham chỗ giàu sang, quyền tước mà ép con phải ưng chịu chỗ đó thì điều nầy lại càng không nên làm.

        2- Thứ nhì, không nên để con tự do quá trớn, vì trong lúc nó còn trẻ, chưa kinh nghiệm việc đời là bao, nên dễ bị lầm lạc. Cũng có nhiều gia đình học theo thời nay, cho con mình tự do làm quen, tìm hiểu nhau trước. Vấn đề nầy có lắm đôi trai gái bị lừa đảo nhau, hoặc yêu nhau trước mới cho cha mẹ hay. Việc lỡ ra, cha mẹ buồn tức không đồng ý, nên con thì đòi tự tử, còn cha mẹ thì tuyên bố từ con, vì nó “đặt cây cày trước con trâu”.

        3- Đức Thầy bảo: Hãy bỏ hẳn “Tục lệ thách giá đòi tiền”, hoặc đôi bên sui gia gây khó khăn với nhau. Nhứt là không nên bày tiệc lễ linh đình, sát sanh hại vật…Làm thế, chẳng những tốn kém cả hai bên, mà còn gây thêm nghiệp tội cho mình và con cháu về sau, đường tu cũng khó tiến mau tới đích.

        Là một tín đồ PGHH, chúng ta nên xử thế đúng theo lời chỉ giáo của Đức Thầy để xứng đáng là một gia đình gương mẫu, ngoan đạo.

 

CHÚ THÍCH :

        ĐỨC TÁNH: Đức hạnh tài năng và tánh nết con người.

        KINH NGHIỆM: Điều mình đã có thực nghiệm, có từng trải và nghe thấy rõ.

        TỤC LỆ: Thói quen từ trước lưu lại tới giờ.

        THÔNG GIA: Sui gia. Hai nhà làm sui với nhau.

 

6.- NHỮNG ĐIỀU PHẢI TRÁNH HẲN HOẶC ĐƯỢC CHÂM CHẾ HOẶC NÊN LÀM.

(SGTVTB 2004, tr.205-209)

 CHÁNH VĂN

          UỐNG RƯỢU.- Phải cữ tuyệt; nhưng khi có tiệc lễ với người ngoài và không phải nhằm ngày chay-lạt, có thể dùng một đôi chút rượu thật nhẹ để đừng có tỏ sự chia rẽ với kẻ ngoại Đạo. Nếu say sưa phải tội lỗi.

          THUỐC PHIỆN.-  Phải cữ tuyệt; không được hút một điếu nào hết. Những kẻ hút muốn vào Đạo, phải bỏ hút rồi mới được nhìn nhận. Trừ ra những người đau mà thầy thuốc bảo phải dùng một chút ít hợp với các vị thuốc khác mới có thể châm chế đặng.

          CỜ BẠC.- Phải cữ tuyệt; những kẻ cờ bạc muốn vào Đạo, phải thệ nguyện bỏ cờ bạc rồi mới được nhìn nhận. Về sự này, chẳng có cuộc vui nào có thể châm chế đặng.

          ĐỐI ĐÃI CÁC TĂNG SƯ .- Tất cả bổn-đạo nên cung-kính các tăng-sư tu hành chân-chánh. Nếu các ông ấy có dạy điều chánh-lý, phải nghe lời. Đối với những hạng tu hành mà mình biết rõ là dối thế (như mấy ông thầy đám …) hãy tìm cách khuyên can các ông trở lại con đường chân-chính của Đạo Phật. Nếu các ông vẫn tiếp-tục làm điều tà-mị, mình phải bài-trừ triệt-để và giảng giải cho quần-chúng cùng những tín-đồ nhà Phật hiểu đặng xa lánh họ.

          ĐỐI VỚI CHÙA CHIỀN.- Những ngày vía của các Đức Phật, ngày rằm hay ba mươi, mình muốn đi chùa cũng tốt, đặng lễ Phật, dưng hoa, không có cấm. Nếu chùa nào nghèo, hư, rách, mà mình giúp đỡ được càng tốt (có điều mình không nên mua sắm hình tượng cho nhiều).

          Khi đến chùa cũng phải tôn trọng sự thờ phượng trong chùa, không nên hủy báng.

          ĐỐI VỚI CÁC TÔN GIÁO KHÁC VÀ NHÂN SANH .- Đối với những người theo tôn giáo khác, không nên động chạm đến cách-thức tu hành của họ. Nhứt là không ỷ đông hiếp đáp hoặc nói xấu người ta.

           Nếu họ có làm dữ với mình, thì mình cũng chẳng được phép vì sự dữ của họ mà trả thù, và phải luôn luôn làm lành với họ. Mình phải hoài hoài làm phải với những kẻ ấy dầu họ có làm quấy với mình cũng mặc và phải nhẫn-nhịn họ.

          Đối với nhân-sanh, bao giờ cũng phải hòa hợp với họ và làm cho đôi đàng có thiện-cảm với nhau. Phải biết thương xót đến họ và nếu khi nào họ cần dùng phải rán hết sức giúp-đỡ họ.

          ĐỂ TÓC.-  Tất cả bổn-đạo nên biết rằng Thầy không có buộc để tóc, vì đó thuộc về phong-tục chớ chẳng phải về tôn-giáo; nhưng sở-dĩ Thầy để tóc là muốn giữ kỷ-niệm cái phong-tục cổ của Tổ Tiên và tỏ cho thiên hạ biết Thầy không chịu ảnh hưởng cái đời văn-minh cặn-bã của phương Tây. Thấy vậy, nhiều người trong bổn-đạo yêu mến Thầy liền bắt chước, vì thế số đông người hiểu lầm rằng để tóc là tu. Thật ra tu là tu, để tóc là để tóc, và tu không phải là để tóc, để tóc không phải là tu. Nếu để tóc mà không chịu trau tâm sửa tánh cũng chẳng phải là kẻ tu-hành. Từ rày trở đi đã thoát được ách người Pháp và tùy theo phong-trào tiến-hoá của nước nhà, Thầy cho phép bổn-đạo tự-do cải-cách hầu hòa-hợp với lương dân cùng tôn-giáo khác.

          SỰ HỌC.- Sự học hành không làm trở ngại cho đạo-đức. Trái lại, nhờ nó mình được biết rõ-ràng giáo-lý cao-siêu của tôn-giáo. Nó tránh cho mình những sự lạc lầm, bỏ các điều dị-đoan mê-tín. Nó làm cho mình dẹp bỏ những điều huyễn-hoặc, không bàn bạc những chuyện xa vời (như tiên đoán thiên cơ chẳng hạn …)

          Vậy, hãy tự mình học hỏi (học chữ quốc ngữ … ) và hãy cho con cháu mình vào trường học tập đặng sự hiểu biết của chúng thêm rộng-rãi. Vả lại, sự hiểu biết về khoa-học không cản trở sự tu-hành và nó giúp cho mình nghiên-cứu Phật Đạo một cách rành-rẽ.

 LƯỢC GIẢI :

        1.- UỐNG RƯỢU VÀ THUỐC PHIỆN:

        Trong khoản nầy có 2 vấn đề: Uống rượu và hút á phiện. Đức Thầy bảo phải cữ tuyệt. Cho đến người đã hút mà muốn vô Đạo, phải tự nguyện bỏ hút mới được vào và người trong Đạo mới chứng nhận. Chỉ khi nào có bịnh nặng, thầy thuốc bảo phải để vô chút ít cho hợp với các vị thuốc khác, mới có thể châm chế.

        2.- CỜ BẠC:

        Cờ bạc có nhiều dạng: Các loại bài, me, đề, tài xỉu và các loại đổ hột, đá gà, đánh cờ, đánh cá.v.v…Bất cứ chơi loại nào có ăn thua bằng tiền bạc, sát phạt lẫn nhau đều gọi là cờ bạc và phải cữ tuyệt. Đến như đánh tiêu khiển, phạt uống nước, uống rượu cũng không nên chơi:“Phàm hí vô ích chớ chơi” vì nó sẽ quen tánh đi, và mất thời giờ. Đức Giáo Chủ thường giác tỉnh:

        “Cuộc trần ôi quá khổ !

          Trường đỏ đen là chỗ nhuốc nhơ.

          Biết bao người vì nó phải bơ vơ,

          Sự nghiệp hết gia đình tan nát,

          Sớm tỉnh ngộ lên đường giải thoát.

          Lánh xa trường đổ bác chớ chen chân,

           Nếu lỡ cơ mua tảo bán tần,

          Thân trí cực nợ lần khân chẳng dứt.

           Chi cho bằng:

          Qui y thì khá làm y,

        Giữ lòng thanh tịnh từ bi giúp đời”.

        3.-  a) ĐỐI VỚI CÁC TĂNG SƯ:

        Với các Tăng sư đã có trong Đạo Phật, không luận tông phái nào, nếu ai tu hành chơn chánh và luận giải Đạo Pháp đúng chơn lý của Đạo Phật, chúng ta nên cung kính nghe theo. Còn những Sư tu giả dối: làm hay nói điều sai lạc chơn lý của Đạo thì chẳng những mình không nghe, còn nói lên cho mọi người hiểu biết để xa lánh.

              b) ĐỐI VỚI CHÙA CHIỀN:

        Trong đoạn nầy thì Đức Thầy dạy: những ngày sóc vọng, ngày vía chư Phật, mình muốn đi chùa lễ Phật dâng hoa cũng tốt. Chùa nào bị hư dột cũng được ủng hộ trùng tu cho kín đáo, có điều là không nên mua sắm hình tượng thêm cho nhiều.

        Khi thấy cách thờ phượng của các chùa không giống tông phái của mình thì không nên hủy báng mà phải luôn luôn tôn kính. Khi nào người trong Đạo mình thờ sai nghi thức, mới có ý kiến xây dựng.

        4.- ĐỐI VỚI TÔN GIÁO KHÁC VÀ NHÂN SINH:

        Mỗi quốc gia đều có nhiều tôn giáo. Ấy gọi là tôn giáo bạn. Mục đích của tôn giáo nào cũng giống nhau, là dẫn dắt người đi đến chỗ tốt đẹp. Nhưng nghi thức thờ phượng và phương cách hành Đạo không giống nhau. Vậy chúng ta không nên kỳ thị, chê bai lẫn nhau và cũng không được ỷ mạnh thế, ỷ đông lấn hiếp họ. Nếu người ta có đối xử sai quấy với mình, mình nên nhẫn nhịn và luôn xử sự hài hòa thuận thảo với họ.

        Còn phần đối với các tầng lớp nhân sinh trong xã hội, Đức Thầy chủ trương “Đời đạo liên quan rạng chói ngờivà “Nhập thế cứu đời”. Cho nên, người tín đồ PGHH lúc nào cũng sống hòa hợp với mọi người, mọi giới. Hãy đặt tình thân yêu và tận tâm giúp đỡ:“Nếu thiệt người thì biết thương  người”.( ĐT)

        5.- ĐỂ TÓC: Điều nầy Đức Thầy nói tách bạch, nên xin miễn lược giải.

        6.- SỰ HỌC: Từ trước có nhiều người hiểu muốn tu chẳng cần học, vì tu cho tâm thanh tịnh thì trí huệ sáng. Hoặc cứ niệm 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật, thì được vãng sanh về Cực Lạc. Thậm chí đến Kinh Giảng giáo lý của Đạo cũng không cần học, nói gì đến sự học văn hóa, khoa học. Cho nên Đức Thầy mới quả quyết:

        “Sự học hành không làm trở ngại cho Đạo đức. Trái lại, nhờ nó mà mình được biết rõ ràng giáo lý cao siêu của Tôn giáo, nó tránh cho mình những sự lạc lầm, bỏ các điều dị đoan mê tín. Nó làm cho mình dẹp bỏ những điều huyễn hoặc, không bàn bạc những chuyện xa vời (như tiên đoán thiên cơ chẳng hạn)…”

        Cho nên, Ngài ra lịnh cho các tín đồ:Vậy hãy tự mình học hỏi (học chữ quốc ngữ…) và hãy cho con cháu mình vào trường học tập đặng sự hiểu biết của chúng thêm rộng rãi. Vả lại, sự hiểu biết về khoa học không cản trở sự tu hành và nó giúp cho mình nghiên cứu Phật Đạo một cách rành rẽ”.

 

CHÚ THÍCH :

        RƯỢU: Do nước cốt của gạo trắng hoặc nếp hay trái cây ủ với men làm ra. Trong men có các vị chua, cay, đắng, mặn, ngọt…Có thể dùng chút ít làm thuốc nhưng nếu ai uống nhiều sẽ bị say và ghiền, khó bỏ: tánh tình nóng nảy, mất trí khôn, sanh thêm tội lỗi. Trong người mang nhiều bệnh tật và chết yểu. Cổ Đức từng bảo:“Người ghiền rượu thường sanh 10 điều lỗi như sau:

        1-Sắc diện ra vẻ khác thường.

        2-Cử chỉ chẳng ra gì.

        3-Mắt thấy không tỏ.

        4-Hiện ra tuồng giận dữ.

        5-Phá hoại sản nghiệp không lấy gì nuôi sống.

        6-Hay sanh bệnh hoạn.

        7-Gây thêm sự kiện cáo.

        8-Danh xấu đồn khắp.

        9-Trí huệ hao kém.

        10-Chết bị đọa vào 3 đường ác.

        THUỐC PHIỆN: Cũng gọi là á-phiện. Do một thứ nhựa, lấy ở mủ cây thẩu nấu thành, đốt lên có mùi thơm, người ta dùng để hút. Trong thuốc phiện có chất làm cho người say nghiện, con người tiều tụy từ tinh thần lẫn thể xác, sự nghiệp tiêu tan. Vì thế, tất cả Tôn giáo đều cho thuốc phiện là một trong tứ đổ tường (bốn bức tường đổ). Đức Thầy từng bảo:

        Nào hút thuốc phiện hội ve chai,

           Nào trùm đĩ ma cô nghề hút máu”.

        CHÂM CHẾ: Làm cho bớt tội phần nào.

        CHÁNH LÝ: Lẽ phải, lý lẽ đứng đắn, ngay thật chân chánh.

        TÀ MỊ: Gian dối không chánh đáng.

        NGÀY VÍA: Ngày kỷ niệm của chư Phật. Ví dụ: Vía Đức Thích Ca thành Đạo hay vía Phật Di Đà.v.v…

        TÔN GIÁO: Xem lại chú thích tại tr. 9.

        NHẬN NHỊN: Xem lại chú thích tại tr. 79.

        THIỆN CẢM: Cảm tình tốt lành.

 

                                         7.- HỌAT ĐỘNG  HÀNG NGÀY:

THỂ DỤC – ĂN Ở - LÀM ĂN

(SGTVTB 2004, tr.208-209)

 CHÁNH VĂN

          THỂ DỤC.- Người trong bổn-đạo nam nữ bất-luận, phải giữ- gìn thân-thể cho khoẻ-mạnh. Như thế nên luyện- tập những môn thể-dục nào hợp với sức khoẻ nếu mình muốn, bởi vì xác thịt có khoẻ mạnh tinh-thần mới sáng suốt, như vậy mình mới có thể làm sự đạo nghĩa một cách đắc-lực.

          ĂN Ở.- Kẻ tu-hành ăn uống phải có điều-độ. Tránh những món ngon, song nấu toàn đồ độc cho cơ-thể ăn vào sanh bịnh.

          Phải giữ-gìn thân-thể sạch-sẽ và từ nhà cửa cho đến chỗ ăn, chỗ nằm, phải biết trọng vệ-sinh. Bỏ những thói quen ăn ở dơ bẩn, vì xác-thịt dơ dáy thì tinh-thần không thể mở-mang được, và vì Thần Thánh chỉ gần những kẻ trong sạch; nên nếu ai muốn được tiếp-độ phải trong sạch vừa tinh-thần lẫn vật-chất.

          CÁCH LÀM ĂN.- Cách làm ăn phải y như trong mục Bát Chánh đã dạy.

   - Bỏ những sự bất chánh: lường cân, tráo đấu, buôn lậu, đầu cơ, bán rượu, bán thuốc phiện,..

   - Làm những nghề lương-thiện, không có lường gạt ai, bỏ những thói gian xảo.

 

LƯỢC GIẢI :

        Ba đề mục:“Thể dục, ăn ở, cách làm ăn”, chúng tôi xin miễn lược giải, song mỗi người nên nghiên cứu học hiểu cho tường tận để giữ gìn, ăn ở và sống cho đúng với tinh thần của người có Đạo…

 CHÚ THÍCH :

        PHONG TỤC: Thói quen trong cuộc sống hằng ngày từ xưa của ông cha ta truyền lại.

        VĂN MINH CẶN BÃ: Riêng chữ Văn minh là văn vẻ sáng sủa, nhưng ở đây có ghép thêm chữ Cặn bã là Đức Thầy muốn chỉ các nước Âu Tây càng văn minh vật chất để thỏa mãn dục vọng. Do đó, sự ăn mặc họ càng tiến tới hở hang bày dạng khêu gợi tình dục, khiến tánh tình trở nên gian dối xấu ác. Đức Thầy đã bảo:

        “Đời văn minh vật chất bỏ gương xưa,

          Nghiệp Tổ Tiên con cháu vày bừa,

           Học thói mới lăng loàn theo sở dục”.

        CẢI CÁCH: Thay đổi cách thức lề lối cho được tốt đẹp hơn.

        DỊ ĐOAN MÊ TÍN: Xem lại chú thích tại tr. 51,52.

        KHOA HỌC: Gồm các môn học: Toán, lý hoá, vạn vật, ...giúp cho ta nhận thức mọi vấn đề có phương pháp thực tiễn, rõ ràng, chính xác, không còn tin chuyện huyễn hoặc.

        NGHIÊN CỨU: Tìm tòi tra cứu, nghiền mgẫm, so sánh để nhận ra mọi vấn đề đúng lý.

        THỂ DỤC: Phương cách luyện tập thân thể cho nở nang và thêm sức mạnh, cũng giúp cho tinh thần thêm sáng suốt, siêng năng.

        ĐẮC LỰC: Sức làm nổi được việc.

        VỆ SINH: Sạch sẽ để giữ gìn sức khỏe đời sống.

        TIẾP ĐỘ: Dẫn dắt và đưa đến nơi đến chốn.

        LƯỜNG CÂN TRÁO ĐẤU: Mua cân già, đổi bán cân non; mua gịa già đổi bán gịa non. Đức Thầy có câu:

        Việc bán buôn phải giữ ngang cân,

            Chớ tập tánh lận lường tráo đấu”.

 

 8. ĐIỀU KIỆN VÀO ĐẠO

(SGTVTB 2004, tr.208-209)

 CHÁNH VĂN

          ĐIỀU KIỆN VÀO ĐẠO.- Người nào muốn quy-y phải có hai người bổn-đạo cũ, có đức-hạnh tiến-cử và bảo-lãnh, đến Ban Trị-Sự trong làng cho người làm đầu biết và người làm đầu phải đọc hết thể-lệ về sự tu hành cho người quy-y nghe, hỏi coi có bằng lòng quy-y như lời nguyện dạy và răn cấm trong Đạo chăng. Nếu họ bằng lòng, biểu họ về nhà cho ông bà, cha mẹ biết, hoặc nguyện trước bàn thờ ông bà, tổ-tiên rằng: Ngày … tháng … con chịu quy-y theo Đạo. Sau đó, người làm đầu (Hội-Trưởng) cho cuốn sách nhỏ này. Chỗ nào không có Ban Trị-Sự, hai người bổn-đạo cũ phải dìu dắt người mới, rồi sau sẽ dẫn lên Ban Trị-Sự gần đó, không bắt-buộc thề-thốt chi hết, vì người muốn tu do nơi sự phát nguyện của mình thôi. Khi nào mình không muốn giữ Đạo, mình phải cho người tiến-cử hay để bôi tên mình ra. Không người nào được phép xưng mình là người trong Đạo mà lại không giữ luật. Kẻ nào làm trái luật-lệ trong sự đạo-đức, dầu không xin thôi Đạo hay là chưa bị bôi tên cũng bị trách- nhiệm việc làm của họ và bị coi như người ngoại Đạo.

          Nên nhớ rằng: Đức Phật sẽ dìu-dắt và ủng-hộ những kẻ nào làm ăn chơn thật, hiền lành đúng theo giáo-lý của Ngài; chớ không bao giờ Ngài lại ủng-hộ những kẻ gian-tà xảo-quyệt, làm các việc hung-ác ngông-cuồng trái những lời mà Ngài đã chỉ dạy.

 

LƯỢC GIẢI :

        Mục “Điều Kiện Vào Đạo” cho thấy ai muốn tu đều phải có điều kiện, nhưng điều kiện ở đây rất tự do bình đẳng và giản dị công bằng, thực tiễn.

        - TỰ DO ở chỗ tự ý mỗi người muốn tu thì vào Đạo, không muốn thì thôi, chớ không nài ép một ai.

        “Tu không tu cũng không mời thỉnh,

           Mặc tình ai trọng kỉnh hay chê”.( ĐT)

        Và:  

        Tùy thiện tín hiểu ta giả thiệt,

           Làm hay không chẳng dám ép nài”.( ĐT)

        -Có điều là bằng lòng giữ theo “Tám điều răn cấm” của Đạo là được. Cũng chẳng bắt buộc phải thề thốt chi cả. Khi nào không muốn tu nữa thì chỉ cho Hội Trưởng Ban Trị Sự sở tại hay để bôi tên mình là đủ.

        -BÌNH ĐẲNG ở chỗ không phân biệt sang hèn, già trẻ, thông minh hay dốt nát hoặc tật nguyền hay giàu khó…tất cả đều tu được hết:

        Giàu sang nghèo khó cũng người,

           Nên ta thương hết dầu cười hay khen”.( ĐT)

        Hoặc là:

        Đâu đâu bá tánh cũng con lành,

          Thầy dạy cho đều khắp chúng sanh”.( ĐT)

        -GIẢN DỊ ở chỗ “không bắt buộc thề thốt chi hết”; chỉ cần thưa với ông bà cha mẹ hay và cần người hướng dẫn đến người lớn trong Đạo ở xã biết để chứng kiến. Nhứt là không cần có lễ vật rườm rà, như Đức Giáo Chủ đã cho biết:

         Tới với Ta chớ đem đồ cúng,

          Chỉ đem theo hai chữ thành lòng.

          Chẳng có cần trà quả hương nồng,

          Mong sanh chúng từ lòng hối ngộ.

          Kẻ xa xuôi có lòng ái mộ,

          Xem Kệ nầy tu tỉnh tại nhà.

          Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,

          Phật chẳng chấp chẳng nài thời khắc”.

        -Vẫn biết chủ trương của Đạo Phật cũng như PGHH là từ bi và bình đẳng, song chư Phật bao giờ cũng dìu dắt những người thật tu và làm ăn chân chất, chớ không bao giờ ủng hộ những kẻ dối tu, hành động ngông cuồng hung ác. Lẽ công bằng thực tiễn đương nhiên là phải như vậy.

                                                  CHÚ THÍCH :

        TIẾN CỬ: Giới thiệu, kể rõ thành phần tài năng đức hạnh của người đó, để được cấp trên hiểu biết hoặc sử dụng.

        THỂ LỆ: Cách thức qui định.

        QUY Y: Xem lại chú thích tại tr. 18.

Comments