e) Quyển Trung Tập 1/2

 

 

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

 

 

 

 

SẤM GIẢNG

THI VĂN TOÀN BỘ

CHÚ  GIẢI

 

QUYỂN TRUNG

Tập 1/2

 

 

 Tôn Chỉ Hành Đạo (Quyển 6)

 

 

 

CHÁNH VĂN : ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ

                                                                     CHÚ GIẢI  : THIỆN TÂM

 

 

 

 

LƯU HÀNH NỘI BỘ

 

 
 
CHÚ GIẢI QUYỂN SÁU

 

CÁCH TU HIỀN VÀ SỰ ĂN Ở CỦA MỘT NGƯỜI BỔN ĐẠO

(Cũng có tên là “TÔN CHỈ HÀNH ĐẠO”)

 

            Quyển Sáu xuất xứ từ phần nhứt (SẤM GIẢNG GIÁO LÝ) trong “SẤM GIẢNG THI VĂN TOÀN BỘ”. Quyển nầy do Đức Huỳnh Giáo Chủ viết khoảng tháng 5 năm 1945 (Ất  Dậu) trong lúc Ngài còn ở Sài Gòn.

            Ngài viết Quyển Sáu bằng thể văn xuôi, lối thuyết giáo. Còn bài “Lời Nói Đầu”, trước kia là một văn thư Đức Giáo Chủ viết gởi kèm theo Quyển Sáu và  ký biệt danh là “HÒA HẢO”.

            Trong nội dung bài “Lời Nói Đầu”, Đức Thầy cho biết các lý do khiến Ngài sáng tác và khuyên mọi người cần gìn giữ, tu tập đúng theo qui tắc của Đạo, để xứng đáng là một tín đồ hầu khỏi phụ công ơn của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, đấng đã khai sáng Đạo Phật.

           

 

LỜI NÓI ĐẦU QUYỂN 6

 

CHÁNH VĂN

          Năm năm trường xa cách, cái chánh-sách áp bức tôn-giáo gắt-gao của người Pháp làm cho tôi không được gần-gũi các người hầu giải-bày tường-tận Tôn-Chỉ Hành-Đạo của tôi.

            Ấy không phải vì tôi cố ý muốn xa lánh các người, song chẳng qua vì sự bắt-buộc của kẻ cường-quyền nên tôi và các người không được trực-tiếp cùng nhau. Tuy nhiên cũng có lắm thiện-nam tín-nữ rất trung-thành, một lòng gìn Đạo. Nhưng gần đây có vài kẻ hiểu lầm, hành-động một vài điều không hợp với tinh-thần đạo-đức, trái chủ-nghĩa từ-bi bác-ái và sự cao-thượng của giáo-pháp nhà Phật. Thế nên điều ấy làm cho quyển sách nhỏ nầy ra đời. Vậy từ nay trở đi tôi ước mong rằng với vài điều sơ-lược kể ra sau đây, toàn thể thiện-nam tín-nữ trong Đạo sẽ dùng trí-tuệ mình, suy-gẫm gìn-giữ ăn ở theo quy-tắc đã định, đặng tránh những việc đáng tiếc xảy ra, hầu giữ tròn danh-giá của Đạo Phật. Như thế chẳng phụ công ơn của Đức Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni đã khai sáng Đạo Phật và đã dìu-dắt quần-sanh tầm đường giải-thoát.

 

Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật

HOÀ - HẢO

( SGTVTB 2004, tr.177 )

 

LƯỢC GIẢI :

        NGUYÊN NHÂN ĐỨC THẦY VIẾT QUYỂN 6:

            Bởi lúc bấy giờ người Pháp dùng chánh sách đàn áp các Đạo giáo, nhứt là Phật Giáo Hòa Hảo, nên sau khi khai Đạo chưa đầy một năm thì họ bắt Đức Thầy lưu đi. Suốt thời gian 5 năm Ngài không được trực tiếp hướng dẫn tín đồ. Tuy nhiên, phần đông bổn đạo có thiệt thi đúng theo giáo lý, nhưng cũng còn một số hành động trái với tinh thần cao cả của Đạo Phật.

            Do đó, Ngài viết Quyển Sáu gởi về khuyên khắp môn đồ phải hành sử đúng theo các qui tắc ấn định trong đây, hầu tránh những việc sơ suất và tránh phụ công ơn của Đức Bổn Sư Thích Ca đã khai sáng Đạo Phật cùng dìu dắt quần sanh tầm đường giải thoát.

 

CHÚ THÍCH :

            NĂM NĂM TRƯỜNG: Năm năm dài. Ý chỉ từ tháng Tư năm Canh Thìn (1940), Đức Thầy bị người Pháp lưu đày. Đến khi Ngài viết quyển Sáu là tháng 5 năm Ất Dậu (1945), tính theo thời gian ấy là 5 năm Ngài phải xa cách tín đồ.

            CHÁNH SÁCH: Cũng gọi là chính sách. Có nghĩa phương cách và kế hoạch của một chánh quyền.

            ÁP BỨC: Ép buộc, bức hiếp bằng sức mạnh của người có quyền thế. Ví dụ: dùng quyền lực áp bức dân chúng.

            TÔN GIÁO: Tiếng dùng gọi chung các nền Đạo có tín ngưỡng và đường hướng dẫn dắt nhân sanh hành thiện tránh ác.

            Thuở loài người chưa tiến bộ, họ lấy cục đá, gốc cây...làm vật thờ cúng, sau mới thờ các vị thần. Tôn giáo lúc đó cho rằng các vị thần cũng có hình thể, tâm tánh như con người, nhứt là ở các nước như Ai Cập, Ba Tư, Hy Lạp, La Mã... Bấy giờ người ta lấy sự thờ kính của một vị thần (Độc thần giáo), hay nhiều vị (Đa thần giáo) làm chủ đích để tin theo. Đó là họ chỉ chú trọng về phần tín ngưỡng thôi.

            Lần lượt khoa học tiến bộ, các vị Thánh triết ra đời, mở rộng con đường đạo lý. Vào đầu Tây lịch kỷ nguyên Chúa Gia Tô xuất hiện, lập nên Tôn Giáo Cơ Đốc truyền bá ở Âu Châu.

            Riêng về Á Châu có Phật Giáo là nền Đạo thuần nhứt, do Đức Thích Ca Mâu Ni sáng lập, đem giáo thuyết từ bi bình đẳng giáo hóa chúng sanh, đến nay có trên 2.500 năm mà nhân loại khắp thế giới, càng lúc càng phụng hành đông đảo.

            Xét cho kỹ, Phật Giáo không thể gọi là Tôn Giáo như các Đạo nói trên, vì Phật Giáo có một nền giáo lý thực tế, áp dụng vào đời sống thiết thực cho nhân sinh. Nói rõ hơn giáo lý Phật Giáo gồm đủ: Tâm - vật - lý mà siêu tâm - vật - lý và lúc nào Phật Giáo cũng tiến trước khoa học.(Trước đây 25 thế kỷ, Phật đã biết trong nước có vi trùng và ngoài địa cầu ta ở có vô số địa cầu và hành tinh khác. Còn khoa học mới phát sinh và thấy được sau đó rất lâu.)

            TÔN CHỈ: Ý chỉ chính xác. Cũng có nghĩa đường lối vạch sẵn, để thực hành theo hầu tiến tới mục đích. Đây ý nói cách ăn ở và phương thức tu hành trong quyển sách nầy là “Tôn chỉ’ của PGHH, nếu ai trì hành đúng theo, sẽ đạt đến mục đích ( giải thoát ) của Đạo.

            CƯỜNG QUYỀN: Quyền thế mạnh mẽ. Ý chỉ nhà đương cuộc Pháp bấy giờ (1939-1945).

            TRUNG THÀNH: Ngay chánh và thành thật, tức người có lòng thành thật trước sau như một chẳng hề thay đổi. Ví dụ: trung thành với tổ quốc, trung thành với Đạo pháp.

            Đức Thầy có câu:

             Ghi biên những kẻ quá lương hiền,

            Một mực trung thành với Phật Tiên”.

            ĐẠO ĐỨC: Đạo có nhiều nghĩa. Đạo là con đường của tâm hồn; Đạo là bổn phận của con người; Đạo là bản thể tuyệt đối. Đức là tâm lành, là thể hiện của nhân lành: từ bi, bình đẳng. “Tinh thần đạo đức” là tinh thần cao thượng:“Từ bi, bác ái, dĩ đức háo sanh, khoan hồng, đại độ..“.

            Hoặc là: “Đạo đức gắng công nên cách mặt.”

                   Ơn nhà Đạo đức quyết đền ân. “

            CHỦ NGHĨA: Cái tiêu chuẩn căn bản về lý tưởng của một tôn giáo hay một học thuyết mà người ta đang tín ngưỡng và quyết định thực hành theo.

            TỪ BI: (Xem chú thích chữ Từ Bi trong ân Đồng Bào và Nhân Loại, Q. Thượng, Tập 1/3, tr. 40)

            BÁC ÁI: Lòng thương yêu rộng lớn:

            Bác ái xả thân tầm Đạo chánh.”

            GIÁO PHÁP: Cũng gọi là Pháp giáo hay Phật pháp tức là do vô số lời lẽ của Đức Phật thuyết ra suốt 49 năm để giáo hóa chúng sanh. Sau đó các đại đệ tử kết tập lại thành Tam tạng: Kinh, Luật, Luận. Như tất cả Kinh Giảng lời lẽ chỉ dạy của Đức Thầy hiện giờ cũng gọi là giáo pháp. Giáo Pháp là một trong 3 ngôi quí báu: Phật, Pháp, Tăng. Xưa nay người tu Phật đều nhờ nương theo Giáo pháp mà được tỏ ngộ chân tánh, thành Đạo giải thoát:

            Tìm tõi Đạo mầu trong Phật pháp,

            Cho đời hiểu rõ lý chơn không.

            TRÍ HUỆ: Phạn ngữ Prajna, phiên âm là Bát nhã, dịch là trí tuệ hay trí huệ, có nghĩa sáng suốt. Hiểu rành các sự việc về hình tướng (hữu vi) gọi là trí; sáng thông mọi lẽ, mọi pháp về nội tâm (vô vi) gọi là huệ. Nghĩa chung là sự thấy biết thông suốt các pháp vô vi, hữu vi và cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai một cách rõ ràng, không hề bị một sự vật nào làm ngăn ngại. Trí huệ phản nghĩa với mê si (vô minh) và phiền não. Vì các món ấy là mê tối, lầm lạc và tội ác; còn trí huệ là sáng suốt, chơn chánh, ví như ngọn đèn soi tan bóng tối. Trí huệ khác hơn thế trí biện thông (kiến thức) bởi thế trí do học mà biết, còn trí huệ do nơi tu hành mà thông đạt, rốt ráo cùng tột.

            Trí huệ là một trong Lục độ vạn hạnh của chư Bồ tát: Bố thí, Nhẫn nhục, Trì giới, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ; nhưng trí huệ siêu việt hơn và bao gồm 5 độ kia. Đức Thầy hằng dạy:

                        Trí huệ trau giồi kiếm nẻo thanh”.

            Hoặc:  “Nương theo đuốc huệ tầm chơn lý.”

            QUI TẮC: Do chữ qui củ chuẩn thằng. Qui là cái đồ vẽ hình tròn (compas), củ là cây thước vuông dùng để đo góc. Chuẩn thằng là sợi dây tiêu, dây mực. Nhờ các món ấy người thợ mới làm nên món đồ ngay thẳng khéo đẹp. Nghĩa rộng chỉ cho luật lệ, phép tắc.

            Chữ qui tắc ở đây Đức Thầy chỉ cho quy luật nghi thức của Đạo mà mỗi tín đồ phải hành trì cho đúng theo đó.

            BỔN SƯ: Ông Thầy căn bản. Theo Phật Giáo thì Đức Thích Ca Như Lai là vị Thầy căn bản (cội gốc), vì Ngài là đấng Giáo Chủ khai sáng Đạo Phật.

                        Nam Mô Thích Ca Như Lai,

             Ta Bà Giáo Chủ xin Ngài chứng minh.”

            THÍCH CA: Phiên âm của Phạn ngữ Sakya, họ của Phật. Tàu dịch là Năng Nhơn. Có nghĩa: người có năng lực từ bi rộng lớn, Ngài dùng mọi phương tiện giáo độ tất cả chúng sanh. Đức Thầy có câu: “Khùng huyền cơ Khùng Đạo Thích Ca”. (Xem thêm Q. Thượng, Tập 2/3, tr. 113.)

            MÂU NI: Phiên âm của Phạn ngữ Mouni, dịch là Tịch Mặc. Có nghĩa trong sáng và lặng lẽ. Tuy làm các hạnh lành, giúp thế độ đời mà lòng vẫn an nhiên trong sạch, không hề xao động thiên chấp.

            GIẢI THOÁT: Cởi mở sự ràng buộc, đeo níu; chỉ cho người giải thoát khỏi sáu nẻo luân hồi sanh tử. Giải thoát là một trong nhiều nghĩa của chữ Niết Bàn. Đức Thầy có câu: “Mong bá tánh vạn dân giải thoát.”

 

.