Chú giải từ câu 415 - 614 (Quyển IV)

                                CHÁNH VĂN

415.          Làm chay đám tạo nhiều xá-mã,

                  Bay về Tây nói những chuyện gì ?

                  Thấy chúng tăng làm chuyện quái kỳ,

418.          Ta khuyên mãi cũng không chịu bỏ.

                  Lời chơn-chánh hình như nói xỏ,

                  Mà không không nào có biếm đời.

                  Thấy lạc-lầm khuyên nhủ ít lời,

422.          Chớ nào có ngạo chi tăng chúng.

                  Coi tâm kệ làm theo mới trúng,

                  Để lạc-lầm lắm bớ tăng-đồ !.

                  Định tâm-thần như mặt nước hồ,

426.          Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối.

                  Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,

                  Ghi vào lòng sáu chữ Di-Đà.

                  Thì hiền-lương quên mất điều tà, 

430.          Đặng hạnh-phúc nhờ lòng cố-gắng.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 425 đến câu 430):

      -Thường thấy nghi tiết trong cuộc làm chay ở các chùa, các ông thầy nhưn bông, bày ra sớ phướn lầu kho, xá hạt, xá ngựa.v.v…Tất cả đều đem đốt rồi nói rằng: số hạt ngựa bằng giấy đó sẽ mang số phướn về Tây Phương tâu với Phật, còn các vật kia thì để cho người chết xài. Xét ra những sự việc ấy rất kỳ hoặc, mê tín, nên Đức Thầy đã cảnh tỉnh nhiều lần, thế mà còn số người chưa chịu bỏ dứt.

      -Lời giác tỉnh trên, mới nghe qua hình như có ý xiên xỏ, nhưng đây là điều thành thật của Đức Thầy, vì thấy sự lầm lạc của số người ấy mà Ngài khuyên nhủ họ, sớm trở về với Chánh đạo vô vi, chớ không hề có ý cười ngạo.

      -Ngài cũng kêu gọi giới tăng đồ, ai muốn khỏi sự lầm lạc đáng tiếc ấy thì hãy xem ngay quyển “Giác Mê Tâm Kệ” nầy để tri hành cho đúng với chơn lý của Đạo Phật. Và phải dùng pháp chánh định, để tâm trí trở nên yên tịnh sáng suốt, hầu soi tỏ đường lối tu hành, thẳng tiến tới Niết Bàn Cực Lạc.

      -Còn ai muốn thực hành Pháp môn Niệm Phật, không phải đợi tới hai thời công phu chiều sáng mới niệm được, mà trong hằng giờ hằng phút và ngay ở chỗ: đi, đứng, nằm, ngồi; tâm của hành giả luôn tưởng niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, không để gián đoạn “Rán trì tâm tưởng niệm canh thâu, Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp.(Kệ Dân, Q.2). Nếu niệm Phật được như thế, thì tâm tánh ta được thuần lương cao khiết, các tư tưởng tà quấy sẽ dứt bặt, bấy giờ tâm trí được quang minh tự tại. Đó là điều hạnh phúc cao siêu sau nầy.

 

CHÚ THÍCH:

      XÁ MÃ: Xem chú thích chữ “xá với phướn...” tại tr. 99 Tập 2/3..

      BIẾM ĐỜI: Nhạo báng khinh chê người đời.

      TÂM KỆ: Xem lại chú thích tại tr. 10 Tập nầy.

      ĐỊNH TÂM THẦN: Giữ tâm trí cho được yên lặng, không để chút trần lao phiền não làm xao động, thì sự sáng suốt mầu nhiệm sẽ phát ra. Khế Kinh, Phật có bảo:“Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất hiện.( Để tâm định lại một chỗ thì không việc gì mà không thành tựu). Đức Thầy nay cũng dạy:

                  “Định thần dẹp hết tà tâm,

      Hườn lai bổn tánh thần khâm quỉ nhường”.

                                                      (Thu Đã Cuối)

      SÁU CHỮ DI ĐÀ:Xem chú thích tại tr. 175 Tập 2/3.

 

                                CHÁNH VĂN

431.          Việc đạo-đức bất cần thối thắng,

                  Chữ tu hiền ngay thẳng lần hồi.

                  Thấy Thiên-cơ khó nỗi yên ngồi,

434.          Thương lê-thứ tới hồi khổ-não.

                  Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,

                  Như vịt con dìu-dắt nhờ gà.

                  Phải nghĩ suy cạn lẽ mới là,

438.          Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.

                  Để gặp Phật ngồi mà than khóc,

                  Gỡ làm sao hết rối mà về.

                  Mắt nhìn xem yêu quái bốn bề,

442.          Bởi ác đức nên không ai cứu.

                  Mang thủy ách hồi năm Đinh-Sửu,

                  Đến năm nay tái lại một lần.

                  Khổ ách này đặng thức-tỉnh trần,

446.          Rằng thiên-định tuồng đời sắp hạ.  

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 431 đến câu 446):

      -Đoạn giảng qua, Đức Thầy khuyên dạy tín đồ trên con đường hành đạo: không nên bê trễ, cũng không quá vội vàng mà phải từ từ tiến mãi:“ Đường đạo đức bước đi từ nấc.(Diệu Pháp Quang Minh). Xét thấy cơ trời đã biến chuyển khắp chúng sanh sẽ gặp hồi thảm khổ nên Đức Thầy động lòng từ bi, lâm phàm cứu thế.

      -Sau thời Đức Lục Tổ Huệ Năng bặt truyền y bát, cả môn đồ Phật Giáo phải chịu tình cảnh bơ vơ như mẹ gà con vịt, chưa biết nương tựa vào đâu, bởi tà chánh khó phân, không rõ ai là người kế truyền tâm ấn của Phật:“Từ ngàn xưa Phật pháp gài then, Nên ít kẻ tu hành đắc Đạo.(Diệu Pháp Quang Minh). Ngày nay, Đức Thầy được sắc lịnh của Đức Phật Tổ, hưng truyền chánh pháp vô vi:“ Đạo vô vi của Phật ân cần, Nối theo chí Thích Ca ngày trước.(GMTK, Q.4) Và “Ngọc toà Phật Tổ nấy sai ta. (Tối Mùng Một). Vậy mỗi người hãy suy xét tận tường, nếu nhận đây là chơn lý thì nương theo (nay gặp gốc). Và nên gấp rút trau sửa thân tâm để được kiến diện Phật lòng nơi tự tánh (mau tìm gốc).

      -Bằng ai chẳng tìm ra chơn lý của Đạo Phật không sớm giác ngộ tu hành, đến một ngày kia ắt phải khóc than, vì không giải được nghiệp ác để yết kiến chư Phật. Và giữa giờ phút ấy; nào yêu ma thú dữ, nào chiến tranh giặc cướp tư bề. Chư Phật vốn đầy lòng tử bi, nhưng không thể nào cứu kẻ hung ác, bởi quả dữ của họ đã mùi:“Cứu lương hiền chẳng cứu người hung, Kẻ gian ác đến sau tiêu diệt.(Kệ Dân. Q.2).

      -Đức Thầy còn nhắc lại hồi năm Đinh Sửu (1937) đã xảy ra tai nạn lụt lội, khiến chúng dân chịu cảnh đói rách, tài vật tiêu hao…Năm nay (1939) nạn lụt lại tái diễn:“ Đồng khô lúa ngập coi xơ xác, Cảnh đói buông lung nổi giạt bèo.(Cám Cảnh Dân Nghèo). Ngài cũng nói rõ: Tai ách khổ thảm ấy là cơ thức tỉnh chúng sanh, hiểu rằng cõi đời sắp đến hồi tàn cỗi.

 

CHÚ THÍCH :

      ĐẠO ĐỨC: Đạo có nhiều nghĩa: Đạo là con đường, là bổn phận, là chơn lý (bản thể) tuyệt đối và cũng gọi là chánh pháp hay chơn tánh. Đức là tâm lành, là thể hiện của nhân lành. Việc đạo đức là công việc hiền lành đạo nghĩa đúng theo con đường của chánh pháp và chơn lý: “Ơn nhà đạo đức quyết đền ân.”(Tỉnh Bạn Trần Gian).

      THIÊN CƠ: Xem lại chú thích tại tr. 64 Tập 1/3.

      THẦY LẠC TỚ KHÔNG AI CHỈ BẢO, NHƯ VỊT CON DÌU DẮT NHỜ GÀ: Thường thấy bầy vịt con do vịt mẹ ấp ra thì sự chăm sóc rất đầy đủ, khi ở trên bờ hay lúc lội dưới nước, vịt mẹ đều theo sát bên con để bảo vệ. Trái lại, nếu bầy vịt con bởi gà mẹ ấp ra, thì lúc ở trên bờ gà mẹ theo gìn giữ được, nhưng khi vịt con lội xuống nước thì gà mẹ không thể lội theo. Bấy giờ rủi có gặp quạ diều nhiễu hại, đàn vịt chẳng biết nương vào, vì không có mẹ bảo vệ.

      Tình cảnh tớ thầy xa cách cũng thế, cả môn đồ phải ngơ ngác, vì chẳng còn sự dạy bảo trực tiếp của Thầy mình.

      Đây ý chỉ thời mạt pháp, lại gặp lúc Tổ Thầy vắng mặt, cả tín đồ phải sống trong trạng huống bơ vơ. Tuy Phật, Thầy còn để lại kho tàng pháp giới; nó có thể đưa hành giả tới bờ bến, nhưng cũng không bằng lúc có Tổ, Thầy dạy bảo:“…bởi đời nầy pháp môn bế mạc, Thánh Đạo trăn vu, người tâm trí tối đen, đời lắm Ma Vương khuấy rối…”(bài Sứ Mạng).

      ÁC ĐỨC: Thất đức (mất đức), tánh hay làm việc hung ác, không kể đạo đức.Ví dụ: ăn ở ác đức bất nhơn. Đức Thầy có câu:Kẻ ác đức hậu lai khổ thảm.”( Cho Ô. Tham Tá Ngà).

      THỦY ÁCH: Tai nạn nước lụt. Lụt lớn làm cho người chết, tài vật tiêu hao; lụt nhỏ thì mùa màng thất bát, dân chúng chịu cảnh nghèo đói điêu linh.

      NĂM ĐINH SỬU: Là năm 1937, trước năm Kỷ Mão (1939) hai năm.

                             CHÁNH VĂN

447.          Trẻ nhỏ tuổi đời nầy lăng-mạ,

                  Bị văn-minh cám dỗ loài người.

                  Kể từ rày cười một khóc mười,

450.          Kẻo chúng nó dể-ngươi Phật Thánh.

                  Đạo Quỉ-Vương rất nhiều chi ngánh,

                  Khuyên dương-trần sớm tránh mới mầu.

                  Để ngày sau đến việc thảm-sầu,

454.          Rán nghe kỹ lời Ta mách trước.

                  Thuyền chúng nó thẳng buồm chạy lướt,

                  Lọt ngoài khơi mới hết hò khoan.

                  Tu mà ham cho được giàu sang,

458.          Với quyền tước là tu dối thế.

                  Nhớ thuở trước vua Lương-Võ-Đế,

                  Tạo chùa-chiền khắp nước tu hành.

                  Đến chừng sau ngạ tử Đài-thành,

462.          Phật bất cứu vì tâm còn ác.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 447 đến câu 462):

      -Đức Thầy cho biết trong hàng thanh niên nam nữ thời nay, bị văn minh vật chất cám dỗ, đua theo sự ăn chơi trụy lạc, tánh tình trở nên hỗn láo ngang tàng, chẳng kiêng nể Thánh Thần, Trời Phật. Cho nên sắp tới đây họ phải vương mang tai nạn, khổ nhiều vui ít.

      -Lại thêm,”Trời mở cửa Quỉ Vương xuống thế”. Chúng quỉ chủ trương bày ra nhiều học thuyết, nhiều ngành, nhiều phái, để mê hoặc chúng sanh. Thế nên Đức Thầy báo tin trước cho mọi người được rõ, hãy dùng trí sáng mà nhận định kỹ càng, kẻo bị rơi vào cạm bẫy của chúng, mà chuốc lấy sự sầu khổ.

      -Bọn Quỉ Vương thường hay khoe khoang cổ võ, để lôi kéo quần chúng về mình, mọi việc đều phỏng tay trên để tranh đoạt tài lợi, vị danh, chẳng khác nào thuyền gặp gió. Nhưng khi đã chạy trớt ngoài biển khơi thì chúng mới hết huênh hoang tự đắc. Còn đối với sự tu hành, nếu kẻ nào tham muốn cao sang quyền tước, tức là kẻ dối tu.

      -Ngài cũng nhắc lại chuyện vua Lương Võ Đế thời xưa, vì chưa nhận được giáo lý thâm huyền của Đạo Phật, tưởng đâu công việc cất chùa, tạo tượng là tu, nên ông chỉ chạy theo các pháp tướng, mong hưởng phúc báo. Chẳng chịu trở về nội tâm mà diệt trừ tội chướng ba đời. Do đó, đến ngày kết cuộc, Võ Đế phải đành chịu chết đói tại Đài Thành để trả cái quả do tiền kiếp ông đã dụng ác tâm làm chết một con khỉ.

 

CHÚ THÍCH :

      LĂNG MẠ: Xem chú thích tại tr. 191 Tập 1/3.

      VĂN MINH: Xem chú thích tại tr. 209 Tập 1/3.                        
     QUỈ VƯƠNG: Vua quỉ, quỉ chúa, kẻ cầm đầu trong hàng quỉ. Theo Phật học Từ điển thì quỉ có nhiều loại, tựu trung chỉ có hai hạng:

      1.  Hạng quỉ có tánh lành, hay ủng hộ người tu hiền.

      2. Hạng quỉ hung ác thường hay phá khuấy dân chúng và Phật pháp, hiểu nghĩa cũng như Ma vương.

      Nhưng chữ Quỉ Vương ở đây là chỉ cho loài quỉ hung ác, đối với các Đạo giáo, nhứt là Đạo Phật. Chúng bày ra nhiều chi phái, nhiều học thuyết, nhiều hình thức, bùa linh phép thuật, đoán tâm lý, dị đoan mê tín.v.v…để phá hại Phật pháp. Trong Giảng “Mười Một Hồi”, Ông Sư Vãi Bán Khoai đã nói:

“Năm năm sáu tháng cơ hàn,

Quỉ Vương gây loạn nào an thế trần.

Chỗ nào nó cũng muốn giành,

Thương cho Tần Quốc mười phần còn hai”.

      Nay Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng bảo:“Tam thiên lục bá khắp tràng hại dân.(Thiên Lý Ca). Hoặc là:

                  Tam thiên lục bá giáng lâm trần,

                    Khóc tử lang tâm biến họa dân.

                    Tà quái hạ ngươn khai ác chiến,

                    Ất niên bình thự kiến Quân thần”.

                  (Đức Thầy đáp họa Ô. Huỳnh Hiệp Hòa)

      Và:      Bàn môn tài phép nào tường,

            Kêu Trời giậm đất cũng thì dạ rân.

                    Nói cho trần thế liệu toan,

            Chớ theo tả đạo mà tan xác hồn.

                                                      (Sám Giảng, Q.3)

      MÁCH TRƯỚC: Cho biết trước, báo tin trước, sẽ có việc gì sắp xảy ra.

      HÒ KHOAN: Tiếng hò sau câu hát để cùng nhau theo nhịp mà ra sức:“Ghe bầu dọn dẹp keó neo, Mấy chú bạn chèo bắt cái hò khoan.”(Ca dao).Nghĩa rộng: là ra vẻ vui mừng khoe khoang tự đắc. Đức Thầy từng nói:

                  “Kìa kìa anh hố hò khoan,

          Tình lang về mất hổ hang mặt mày”.

                                          (Dặn Dò Bổn Đạo)

      LƯƠNG VÕ ĐẾ: Vua Lương Võ Đế là Thái Tổ nhà Lương (502-549), tên thật là Tiêu Diễn. Trước, lam quan Thứ sử cho nhà Tề, cai trị đất Ung châu; sau, diệt Tề lập nhà Lương trị vì được 48 năm. Võ Đế rất sùng ngưỡng Đạo Phật, chính ông đã chấp nhận và ủng hộ các cao tăng Ấn Độ, sang truyền đạo tại Trung quốc.

      Lúc Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa truyền Đạo, có vào yết kiến và đàm luận Phật pháp với Võ Đế. Bởi quá chú trọng hình thức, nên Vua không thấu triệt được nghĩa lý diệu mầu trong lời Pháp giáo của Tổ, sanh tâm nghi ngờ. Thấy vậy, Tổ sư từ giã Vua vào chùa Thiếu Lâm ngồi quay mặt vào vách thiền định…

      Võ Đế cho thiết lập trên 70 ngôi chùa trong khắp nước, để bá tánh có nơi sùng ngưỡng, chiêm bái. Vua có thỉnh chư Tăng soạn thành bộ Kinh sám hối với nhan đề là “Lương Hoàng Sám”, đến nay vẫn còn truyền tụng.

      Sở dĩ Võ Đế được làm Vua và hâm mộ Phật pháp mà  lại bị chết đói thảm khốc, là do duyên nghiệp sâu xa từ kiếp trước…

      Tiền thân của Võ Đế, xưa là một tiều phu, thường vào rừng đốn củi đổi gạo. Hôm nọ tiều phu gặp một cốt Phật trơ trọi ngoài trời, nắng chảy mưa chan. Ông động lòng ái truất, liền lột cái nón lá đang đội, đội lên cho cốt Phật. Nhờ công phước của tấm lòng thành kính cúng dường ấy, nên kiếp sau ông được phước báo làm vua và hết lòng kính tin, phụng thờ Tam Bảo.

      Cũng trong kiếp tiều phu ấy, thường ngày ông lên rừng đốn củi, có mang theo gói cơm để trên vồ đá, đợi khi đói lòng lấy ra dùng. Nhưng đã hai lần khi đốn củi xong, trở lại thì gói cơm của ông “không cánh mà bay đâu mất”, ông rất bực tức đành nhịn đói trở về.

      Lần thứ ba ông quyết định tìm ra nguyên nhân vì đâu mà hai lần bị mất gói cơm. Cũng như mọi khi, lần nầy ông để gói cơm trên vồ đá rồi giả vờ xách búa ra đi, nhưng ông núp vào bụi rậm gần đó để rình xem. Một chập sau, thấy một con khỉ lớn đến ôm gói cơm chạy đi. Ông nhảy ra tốc rượt theo quyết đập con khỉ một búa cho hả giận. Khỉ hốt hoảng, song vì mắc ôm gói cơm nên leo lên cây chẳng được, túng cùng thấy cái hang đá gần bên, khỉ liền chun ngay xuống. Tiều phu cạy đá lấp miệng hang. Khỉ ở dưới ăn hết gói cơm lên không được, nên bị đói dần mà chết.

      Bởi nghiệp nhân đó, nên khi Lương Võ Đế làm vua, thì con khỉ ấy đầu thai làm Hầu Kiển, lớn lên làm Quân sư cho Võ Đế. Sau Hầu Kiển sanh tâm muốn cướp ngôi vua nên lập kế hoạch gạt vua lên Đài Thành, rồi cho quân bao vây, cấm không cho ai được mang lương thực cho Vua. Thế là Võ Đế phải chết đói tại Đài Thành, để trả cái nghiệp ác tâm đã gây thuở trước.

      NGẠ TỬ ĐÀI THÀNH: Chết đói tại Đài Thành.

 

                              CHÁNH VĂN

463.          Tu biết cách như đươn biết đát,

                  Đươn đát rành được dựa Xe-Loan.

                  Ai biết nghe thì sớm liệu toan,

466.          Để đến việc như người thất nghiệp.

                  Phải qui căn cùng nhau hội hiệp,

                  Rán mau chơn mới kịp Đạo mầu.

                  Sớm với chiều gắng chí nguyện-cầu,

470.          Thì sẽ được Toà-Chương dựa kế.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 463 đến câu 470) :

      -Phàm người muốn làm nên cái thúng để xài, nếu chỉ học đươn mà không biết đát thì không thành cái thúng mà chỉ thành cái mê. Còn người tu biết cách thì phải thực hành đúng theo Tôn chỉ của Đức Thầy đã dạy, tức là hai phần “Học Phật” và “Tu Nhân” cần phải thiệt thi cho trọn vẹn. Trước hết lo đền đáp tứ ân, diệt trừ thập ác và rèn luyện các đức tánh tốt đẹp để hoàn thành phần Nhân Đạo, tức là trả xong nợ thế. Ấy gọi là đươn.

      Đồng thời phải nghiêm trì giới luật, thực hành theo các pháp môn tu Phật, như: Tứ Diệu Đề, Bát Chánh Đạo, trì niệm Lục tự Di Đà v.v…tức gọi là biết đát. Nếu ai thi hành trọn vẹn hai phần kể trên thì chẳng những gần được “Bệ ngọc các lân” của đời Thượng ngươn Thánh đức, mà còn được siêu sanh về Cực lạc, Niết bàn. Có đặng vậy, gọi là người tu biết cách.

      Do đó, Đức Thầy giục thúc nhân sanh hãy nghe lời khuyên bảo của Ngài, để sớm lo tu thân hành đạo cho kịp với thời kỳ:“ Đời cùng tu gấp kịp thì, Đặng xem báu ngọc ly kỳ năm non.(Sám Giảng, Q.3). Bằng ai cứ mãi trễ bê lần lựa thì ngày kết cuộc, ắt gặp nhiều thất bại:“Nếu không gặp cảnh bơ vơ, Thuyền ghe chẳng có bến bờ cũng không.(Từ Gĩa Làng Nhơn Nghĩa).

      -Vậy hỡi ai là người hữu duyên cùng Phật pháp, hãy sớm quay về với gốc lành Đạo cũ:“Cả kêu lớn nhỏ quay vìa, Trên hòa dưới thuận chớ lìa chớ phân.(Thiên Lý Ca) và gấp rút tu sửa thân tâm, trau giồi đức tánh, cộng với hai thời lễ bái: sáng chiều phải chuyên cần, cùng chí tâm khẩn nguyện, chắc chắn sẽ được:Chầu Phật hòa vui cõi Đại Đồng.(Cho bà Năm Cò).

 

CHÚ THÍCH :

      XE LOAN: Do chữ Loan xa hay Loan giá. Có nghĩa: xe của Vua đi. Thời xưa xe của Vua đi thường có chạm hình chim Loan, do 4 con ngựa kéo (tứ mã), trên cổ ngựa có treo lục lạc (chuông); khi chạy đi tiếng chuông vang lên, tượng trưng cho chim Loan kêu. Vậy chữ dựa xe loan là nói sự được gần vị Thánh Vương đời Ngươn thượng. Cũng có ý chỉ cho sự tu hành khi được kết quả.

      LIỆU TOAN: Cũng gọi là toan liệu. Có nghĩa lo nghĩ trước và chuẩn bị trù liệu mọi việc cho kịp thời:“Chim bay về núi tối rồi, Anh không toan liệu còn ngồi chi đây?”(Ca dao). Đức Thầy từng khuyên:

                  Hỡi ai kẻ học hay lo liệu,

                    Rứt bụi trần bận bịu làm chi”.

                              (Đáp lời Ô. Lương Văn Tốt)

      THẤT NGHIỆP: Mất sở làm, không có công ăn việc làm. Ở đây ý nói không có công phước gì để được dự hội Long Hoa và hưởng cảnh đời Thượng ngươn Thánh đức.

      QUI CĂN: Trở về với gốc lành, với Đạo lành. Ý nói người biết qui y Tam bảo để trở về với tánh lành sẵn có từ trước. Đức Thầy kêu gọi:

                  “Quày đầu nghe tiếng chuông ngân,

                Trở về nơi cũ cho gần Phật Tiên”.

                                                      (Thu Đã Cuối)

      ĐẠO MẦU: Xem lại chú thích tại tr. 280 Tập 1/3.

      TÒA CHƯƠNG: Xem chú thích tại tr.139 Tập 2/3.

 

                               CHÁNH VĂN

471.          Chúng-sanh thể như gà thất thế,

                  Phải nằm chờ tới nước bắt ra.

                  Thời-kỳ này nhiều quỉ cùng ma,

474.          Trời mở cửa Quỉ-Vương xuống thế.

                  Nên Ta mới ra tay cứu-tế,

                  Kẻo chúng-sanh bịnh khổ quá chừng.

                  Sau Quỉ-Vương đi đứng nửa lừng,

478.          Thêm tên tuổi chúng-sanh nó biết.

                  Làm đủ cách xuống lên tha-thiết,

                  Ở ngoài đường nó biết tên mình.

                  Tin cùng không thì cũng mặc tình,

482.          Chớ Ta lắm công trình dạy-dỗ.

                  Hồi thuở trước Thích-Ca Phật-Tổ,

                  Ngồi tham-thiền bị nó ghẹo hoài.

                  Mà cũng không rúng động đặng Ngài,

486.          Nên cố oán phá đời mãi mãi.

                  Trong bổn-đạo cùng là sư vãi,

                  Rán bền lòng cho được hiền từ.

                  Hết khổ lao thì đến vui cười,

490.          Chừng đó mới phỉ tình nguyện ước.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 471 đến câu 490) :

      -Bởi kẻ hung ác hiện đang gặp thời, họ dùng đủ cách nhiễu hại lê dân, trước tình cảnh ấy, người tu như con gà bị thất thế giữa trường, nên Đức Giáo Chủ khuyên kẻ thức thời hãy ẩn nhẫn cho qua hồi vận bĩ:“ Đấng nam nhi ẩn nhẫn tùy thời, Vậy mới gọi khôn ngoan hữu chí.(GMTK, Q.4).

      -Lại nữa, chúng sanh đã gây nghiệp tội ác từ lũy kiếp, nên nay bị luật trời phân xử, mở cửa cho các loài ma quỉ xuống thế, gây tai họa chiến tranh, bệnh chết cho sanh linh. Do đó Đức Thầy phải gấp rút lâm trần mở cơ cứu độ, để chúng sanh kịp thời cải dữ về lành hầu vượt qua cảnh sầu khổ.

      Ngài còn cho biết: bọn quỉ vương ra đời, chúng có đủ tài phép lên trời xuống đất, hiểu rành tên tuổi và tâm lý của cả chúng sanh; chúng dùng đủ thứ bùa ngãi thính linh, ông lên, bà xuống, soi căn, cầu hồn.v.v…số người nào còn mê tín sẽ bị thảm sầu vì chúng. Đức Thầy cũng đã nhiều lần và khổ công nhắc nhở, mặc cho bá tánh có tin nghe hay không tùy ý.

      Đức Thầy còn kể lại, thời gian Đức Thích Ca ngồi tham thiền tại gốc Bồ Đề, gần bờ sông Ni Liên Thiền, bọn Ma Vương Quỉ quái cũng tìm đủ cách theo phá khuấy, nhưng tâm Ngài vẫn an nhiên định tĩnh và dùng thần thông nghị lực hàng phục được chúng. Tuy đã khâm phục Phật, song lòng chúng ma còn căm tức mãi nên phát thệ:“Hiện giờ bọn ta phá Phật không được, nhưng cũng thệ quyết qua đời sau sẽ phá hại Phật pháp và cả đồ chúng cho kỳ được mới nghe”. Vì thế từ độ ấy nhẫn nay, lúc nào cũng có chúng Ma quỉ: hoặc dùng áp lực bên ngoài, hoặc len lỏi vào nội bộ để tìm đủ cách phá hại nền Phật pháp.

      -Do đó, Đức Thầy kêu gọi tất cả môn đồ nhà Phật, trong giới xuất gia hay hàng cư sĩ, từ đây hãy rán kiên tâm bền chí trên đường tu học và gắng sức rèn luyện thân tâm cho được trọn lành trọn sáng; được thế, chẳng những không bị chúng quỉ ma nhiễu hại mà còn đặng chứng thành Đạo quả. Và chúng ta phải tin chắc rằng: hết hồi khổ công hành đạo, dĩ nhiên phải tới lúc giải thoát an vui, và khi đó nhà tu sẽ thỏa lòng mãn nguyện.

 CHÚ TH ÍCH :

      CHÚNG SANH THỂ NHƯ GÀ THẤT THẾ, PHẢI NẰM CHỜ TỚI NƯỚC BẮT RA: Thường thấy trong những cuộc chọi (đá) gà, sau khi cáp độ xong, người ta dùng cây nhang để phân ra nhiều chặng, rồi treo đồng xu ngay chặng phân đó. Khi gà bắt đầu đá thì đốt nhang; nhang cháy đến chặng, xu rớt xuống gọi là một nước gà. Bấy giờ hai bên đều bắt gà ra cho uống nước, săn sóc, o bế ít phút cho gà khỏe, rồi tiếp tục thả ra đá nước kế tiếp. Đến khi nào có một con chạy, hoặc chết tại chỗ là biết ăn thua. Trong khi ấy, nếu có một con thất thế, té xuống hay bị thương đá nữa không nổi, nó chỉ nằm đó, không chết, không chạy, thì chưa phải thua. Song nếu nó còn chòi đạp sẽ bị con gà kia cắn đá tất phải chết. Bằng nó biết khôn một chút, giả nằm yên tại chỗ thì con gà kia tưởng đâu đối thủ sắp chết, nên chỉ đứng nghiềm đó, chớ không cắn đá nữa. Nhờ đó kịp khi tới nước, người chủ bắt con gà thất thế ra cho nước, và may các vết thương, gà lấy lại sức khỏe. Bấy giờ chủ thả gà vào trường đá nữa, nhiều khi thắng được gà kia một cách dễ dàng.

      Ở đây Đức Giáo Chủ muốn nói: hiện giờ nhằm lúc thạnh thời của ma quỉ và kẻ hung ác, chúng dùng đủ cách đàn áp, phá hại người lương thiện:“Quân tử tùy thời hơi sút bước, Tiểu nhơn ỷ sức mạnh pha xông.(Cho Ô. Chín Diệm) cũng như con gà bị thất thế. Vậy mỗi người nên ẩn nhẫn (chờ tới nước):“Nhẫn nhẫn cho rồi cơn bĩ cực, Thời lai sẽ được cảnh tiêu dao.(Mấy Đoạn Tơ Lòng).

      QUỈ VƯƠNG: Xem lại chú thích tại tr. 101 trên.

      CỨU TẾ: Giúp đỡ và độ rỗi người ra khỏi tai nạn khổ não. Cứu tế là một trong nhiều nghĩa của chữ Bồ Tát (Bồ giả phổ dã, Tát giả tế dã cứu nhơn chi cấp, tế nhơn chi nguy, nãi thị Bồ Tát). Đức Thầy từng nói:“Phổ tế chúng sanh qua bể khổ.(Tỉnh Bạn Trần Gian).

      THA THIẾT: Xem lại chú thích tại tr. 179 Tập 1/3.

      CÔNG TRÌNH: Xem chú thích tại tr. 88 trên.

      THÍCH CA PHẬT TỔ: Xem lại chú thích tại tr. 113 Tập 2/3.

      THAM THIỀN: Do Phạn ngữ Dhyana. Tham là suy gẫm. Thiền là tịnh lự, là Tư duy. Nói chung là để tâm yên lặng chăm chú vào một chỗ mà suy nghiệm tìm hiểu Đạo lý mầu nhiệm. Tham thiền cũng hiểu như chữ Thiền na, Thiền định hay Nhập định. Đức Thầy từng khuyên:“Phật pháp thiền na dốc thực hành.(Cho cô Võ thị Hợi).

      SƯ VÃI: Các nhà Sư và Ni cô (Xem thêm chữ Tăng đồ, tr. 85 trên ).

      PHỈ TÌNH: Xem chú thích tại tr. 164 Tập 2/3.

      NGUYỆN ƯỚC: Cũng gọi là ước nguyện. Có nghĩa thề nguyền ước hẹn, thề hứa với lòng một việc gì. Ví dụ: Nguyện ước tu hành cho đến khi thành quả.

                                   CHÁNH VĂN

491.          Bọn gái mới ra đường tha-thướt,

                  Bỏ hết trơn nề-nếp ông cha.

                  Khác tánh-tình người cổ nước ta,

494.          Nên phải chịu đớn-đau đủ cách.

                  Trai với gái rán coi sử sách,

                  Đứng trung thần với kẻ tiết-trinh.

                  Dọn bề trong mới gọi đẹp xinh,

498.          Chớ mang lốt bề ngoài chẳng tốt.

                  Dạy chẳng đặng lòng như lửa đốt,

                  Khắp dương-gian chưa đặng ba phần.

                  Kể từ nay Tiên, Phật, Thánh, Thần,

502.          Lo dạy-dỗ dương-trần chẳng xiết.

                  Đức Thượng-Đế ngự đền Ngọc-Khuyết,

                  Nhìn dương-gian cũng luống thở dài.

                  Thấy chúng- sanh trau-trỉa mặt mày,

506.          Chớ chẳng chịu trau tâm trỉa tánh.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 491 đến câu 506) :

      Nhận thấy một số phụ nữ thời nay đua đòi theo nếp sống mới của Âu Tây, ăn mặc se sua kiểu cách:“Diện áo quần, son phấn lấn chen, Miễn cho mình được lên xe xuống ngựa.(Trao Lời Cùng Ông Táo),vội quên đi phong tục cổ truyền của ông cha ta từ trước. Tánh tình họ trở nên hỗn láo, vô lễ, không còn được như hàng nữ lưu tốt đẹp thời xưa. Đức Thầy thường thống trách hạng người ấy:

                  Cớ sao chê cổ trọng kim,

       Phụ cha phản chúa lỗi niềm tôi con .

                                          (Sấm Giảng, Q.3)

Do thế, sắp tới đây họ phải chịu lắm tai nạn khổ sầu.

      -Bởi lý do kể trên, Đức Thầy khuyên dạy trong hàng nam nữ hãy thường xem sử liệu để học đòi theo những tấm gương trung trinh tiết liệt. Và rán lo trau sửa phần tâm đức bên trong, mới là điều đáng quí, chớ chẳng  phải lo ăn diện sắc lịch bên ngoài mà gọi là tốt đẹp được.

      -Đức Thầy cũng sốt lòng vì đã giác tỉnh chúng sanh nhiều lần, nhưng mãi đến nay, vẫn chưa được ba phần mười thức tỉnh. Cũng vì thế, từ đây sẽ có các đấng Phật, Tiên, Thần, Thánh, cùng với Đức Thầy, dùng đủ phương tiện giác tỉnh quần sanh.

      -Lại nữa, nơi đền Ngọc Khuyết, Đức Ngọc Đế xót thương cho chúng sanh trong cõi trần. Bởi việc khổ sắp kề bên mà họ mãi chạy theo cái đẹp hào nhoáng bên ngoài: lo trang sức vàng ròng son phấn, ăn dọn lụa là…chớ không sớm hồi tâm hướng thiện, để lo tu sửa trí lành, giồi mài tâm đức, hầu sau nầy được thoát qua tai khổ và dựa kề Tiên Phật.

                                             CHÚ THÍCH :

      THA THƯỚT: Cũng gọi là thướt tha. Có nghĩa yểu điệu, lả lơi. Ví dụ: dáng điệu tha thướt. Tha thướt ở đây chỉ cho nữ giới có tánh nết ăn dọn kiểu cách lả lơi, theo nếp sống văn vật.

      NỀ NẾP: Cũng gọi là nền nếp. Có nghĩa: Lề lối, kỷ cương trong một gia đình hoặc cả dân tộc, quốc gia. Đức Thầy từng cảnh tỉnh:

                  Gương Tổ phụ còn roi lại đó,

             Sao không theo nề nếp gia phong”.

                                          (Khuyến Thiện, Q.5)

      SỬ SÁCH: Sách viết về lịch sử để lưu lại đời sau. Ví dụ: Chuyện ấy có sử sách đành rành.

      TRUNG THẦN: Xem chú thích tại tr. 230 Tập 2/3.

      TIẾT TRINH: Xem chú thích tại tr. 13 Tập 2/3.

      ĐỀN NGỌC KHUYẾT: Một cái đền ở thượng giới (cõi Trời) của Đức Ngọc Đế ngự.

      TRAU TRỈA: Cũng đọc là trau tria. Trau là giồi mài chải chuốc, đánh bóng. Trỉa là tỉa, là xen bớt. Trau trỉa ở đây chỉ cho sự trau hình chuốc dạng, cạo sửa mặt mày, tô son đánh phấn.

 

                            CHÁNH VĂN

507.          Kẻ đói khó người sang hay lánh,

                  Bước lại gần chê lũ tanh-hôi.

                  Cõi ta-bà Ta thấy hỡi ôi ! 

510.          Sầu bá-tánh quá nên kiêu-cách.

                  Người tàn-tật đui-cùi đói-rách,

                  Ít có ai để mắt nhìn vào.

                  Chuộng những người dù võng sắc màu,

514.          Cậu với mợ, ông-thầy, cô-bác.

                  Thị kẻ khó như rơm như rác,

                  Ta quá rầu đài-các văn-minh.

                  Mấy ai mà giữ dạ sắt đinh,

518.          Theo Tông-Tổ của mình thuở trước ?

                  Đầu với tóc áo quần láng-mướt,

                  Chữ lanh khôn của quỉ của ma.

                  Chớ nó không có giống người ta,

522.          Ma với quỉ sanh người hung ác.

                  Lo tâp luyện những câu đờn hát,

                  Chớ chẳng lo dạy-dỗ ngu khờ.

                  Để cái tâm yên-lặng như tờ,

526.          Coi Ta nói câu nào bất chánh ?

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 507 đến câu 526) :

      -Tâm lý kẻ giàu hiện nay, phần đông chẳng lúc nào họ muốn gần gũi người nghèo, nếu trường hợp đặc biệt không thể tránh được, buộc phải tiếp xúc với kẻ nghèo thì họ luôn tỏ vẻ khi dể, né mình, bịt mũi, vì cho là hôi hám khó chịu. Đức Thầy nhìn tâm trạng loài người trong cõi khổ mà bắt hỡi ôi ! Ngài rất buồn thương cho những kẻ quá kiêu căng hống hách.

      -Lại có số người không hề đoái tưởng đến những kẻ tật nguyền cùng khổ, chỉ lo bưng bợ và yêu chuộng hạng cao sang quyền thế.

      -Đối với kẻ nghèo hèn thiếu ăn thiếu mặc họ xem chẳng xứng đáng vào đâu, Đức Thầy buồn thương cho những người quá đam mê xa hoa phung phí theo nền văn minh vật chất. Xét ra, chẳng còn bao người bền gan chặt dạ, ăn ở đúng theo nền nếp, gia phong của Tổ tiên từ trước :“Gan vàng sắt đá lòng son mấy người?”(Giác Mê của Đức Phật Thầy).

      -Họ chỉ lo chưng diện lụa the màu sắc, tập tành theo lối sống gian ngoan, quỉ quyệt, mất cả lòng nhơn. Đức Thầy cho những kẻ thiếu tình nhân loại ấy, chưa xứng đáng là một con người. Bởi từ chỗ khôn ma, khôn quỉ đó, sẽ đưa họ đến hung tàn bạo ác, gây đau khổ cho nhân loài.

      -Cũng có hạng cho mình là kẻ học thức, nhưng họ chỉ biết điêu luyện tiếng đờn giọng hát, để ru hồn tuổi trẻ, chạy theo nếp sống xa hoa trụy lạc, không để tâm chỉ dạy người quê dốt. Đến đây Đức Giáo Chủ kêu gọi mọi người trong xã hội hãy bình tâm suy nghĩ lời luận giải của Ngài, xem có chánh lý hay không ?

 

CHÚ THÍCH :

      TA BÀ: Xem chú thích tại tr. 62 Tập 2/3.

      KIÊU CÁCH: Cách điệu kiêu hãnh, khi người, hoặc bằng lời nói, bằng dáng điệu ngạo nghễ, lập dị. Ví dụ: Cử chỉ kiêu cách, lời giọng kiêu cách. Đức Thầy hằng răn dạy:

                  Hãy bỏ dứt tánh tình kiêu cách,

                    Các con lành khá chọn ngay đường”.

                                                      (Nang Thơ Cẩm Tú)

      VĂN MINH: Xem chú thích tại tr. 209 Tập 1/3.

      DẠ SẮT ĐINH: Sắt và đinh là thứ kim loại, màu xám, chất nó cứng và chắc. Dạ sắt đinh là lòng dạ cứng bền trước sau như một, không hề thay đổi và không ai có thể làm lay chuyển được. Ví dụ: gan vàng dạ sắt. Đức Thầy từng khuyên:

                  “Rèn lòng giữ dạ sắt đinh,

        Đừng phai đừng lợt thân mình thảnh thơi”.

      TÔNG TỔ: Xem chú thích chữ tổ tông tại tr.157, Tập 2/3.

 

                              CHÁNH VĂN

527.          Rán bắt chước làm theo Phật Thánh,

                  Nếu thiệt người thì biết thương người.

                  Thấy kẻ khờ quê dốt ngạo cười,

530.          Nào có lấy lời chi chỉ bảo.

                  Ta thương xót lo tần lo tảo,

                  Chẳng thấy ai rể thảo dâu hiền.

                  Làm cho người Thượng-Cổ thêm phiền,

534.          Rất đau xót cho nòi cho giống.

                  Biết chừng nào được qui nhứt thống,

                  Khắp hoàn-cầu dân biết thương nhau.

                  Nhắc ra thì dạ ngọc đớn-đau,

538.          Không nhắc đến biết đâu dân sửa.

                  Cơm được chín ta nhờ có lửa,

540.          Dân được vui nhờ lúc khải-hoàn.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 527 đến câu 540) :

      -Đoạn giảng trên Đức Giáo Chủ khuyên mọi người nên noi gương và thực hành theo lời giảng huấn của Phật Thánh. Nếu là con người thì phải có lòng nhân, thương yêu và tận tâm giúp đỡ những kẻ chung quanh, thấy hạng quê mùa dốt nát, không vội khinh chê mà phải thật lòng chỉ bảo họ, những điều hay lẽ phải.

      -Bởi lòng quá thương xót sanh linh nên Đức Thầy chẳng ngại sự gian khổ, dùng đủ phương tiện tế độ bá gia, và sáng tác Sấm kinh, luận giải đạo lý, cho thuốc trị bịnh với dụng ý là làm cho mọi người đều biết giác ngộ, quay về con đường đạo đức. Thế mà chưa được bao người biết xử sự cho đúng với bổn phận, dâu hiền rể thảo. Do đó, khiến cho người xưa phải não lòng xót dạ cho dân tộc ta, cũng là nòi giống Tiên Rồng, mà nay lại để mất đi những đức tánh hiền lương tốt đẹp:“Giống lành xưa cũng Rồng Tiên, Ngày nay hung ác đảo điên khắp cùng.(Viếng Làng Phú An).

      -Đức Giáo Chủ cũng mong đến một ngày cả nhơn loại trong địa cầu đều biết qui về gốc thiện, mọi người cùng thương nhau như ruột thịt, chẳng còn diễn ra cảnh đau thương tang tóc. Và mỗi khi nhắc đến sự thống khổ của nhân sanh, Ngài cũng bắt đau lòng chua xót. Nếu Ngài không nhắc nhở thì dân chúng biết đâu mà ăn năn hối cải.

      -Vả lại, người sống trong trần nhờ có lửa mới nấu được cơm chín mà dùng, còn đất nước gặp thuở thanh bình, dân chúng mới hưởng cuộc đời an vui hạnh phúc. Vậy ai muốn sống cảnh ấy, hiện giờ phải lo gieo trồng giống thiện.

                                     CHÚ THÍCH :

      PHẬT THÁNH: Xem lại chú thích tại tr. 42  trên.

      LO TẢO LO TẦN: Tảo tần là hai loại rau, do chữ “thái tảo, thái tần”. Nghĩa rộng là chỉ cho sự đảm đang nhiều việc, làm lụng cực nhọc, nào buôn tảo bán tần, nào việc nầy việc nọ để nuôi sống gia đình. Ca dao có câu “Đại phú do Thiên, tiểu phú do cần, Thức khuya dậy sớm tảo tần với anh”.

      Lo tảo lo tần ở đây ý nói: Vì quá thương xót chúng sanh, Đức Thầy phải dầy công cực nhọc, dùng mọi phương tiện cứu độ, như Ngài từng nói:

                  Tảo tần lo liệu năm ba,

         Biết sao hiệp mặt lòng già mới nguôi.

                                          (Từ Gĩa Bổn Đạo Khắp Nơi)

      RỂ THẢO DÂU HIỀN: Rể thảo, do chữ rể đông sàng, tức người rể xứng đáng, có lòng hiếu thảo với cha mẹ vợ, cũng như cha mẹ ruột. Người xưa từng nói:“Dâu hiền là gái, rể thảo là trai”.Dâu hiền, do chữ dâu nam gián, cũng gọi là dâu nên, tức là người dâu hiền đức, hết lòng tôn kính và phụng dưỡng cha mẹ chồng:“Dâu hiền như báu trong nhà, Khác nào như gấm thêu hoa rõ ràng.(Ca dao).

      Trong văn chương Việt Nam có tác phẩm “Thoại Khanh Châu Tuấn”, đã nói lên tấm gương dâu hiền rất mực: Sống trong gia đình nghèo túng với một mẹ già, Châu Tuấn (chồng) đi thi, Thoại Khanh (vợ) hết lòng phụng dưỡng mẹ chồng, hằng ngày bắt ốc hái rau nuôi mẹ…

      Đến Kinh đô, Tuấn thi đỗ cao, bị nhà vua ép gả Công chúa; Tuấn từ chối vì đã có vợ nhà. Vua nổi giận, đày Tuấn qua xứ khác. Mẹ và con dâu ở nhà trông đợi mãi, càng lúc càng bặt tin. Sau đó,Thoại Khanh  dắt mẹ đi tìm chồng, gặp nhiều gian nan vất vả. Khi được tin Tuấn bị đày, mẹ khóc thương mù cả đôi mắt. Thoại Khanh tiếp tục cõng mẹ chồng, băng rừng vượt suối để đến gặp  Tuấn. Trong thời gian bị lạc trong rừng, bà mẹ đói quá, Thoại Khanh hy sinh lóc thịt nướng cho mẹ ăn đỡ đói. Một hôm, nàng lại bị hung thần bắt ép phải ưng nó làm chồng, bằng không thì phải chịu móc đôi mắt, thế là nàng đành chịu mất đôi mắt để tròn câu chung thỉ với Châu Tuấn. Do lòng trọn thảo với mẹ và trinh tiết với chồng, nên Trời  cảm động ban phúc cho cặp mắt Khanh lành sáng lại và cho thần sơn quân (cọp) cõng hai mẹ con đưa đến gặp Tuấn. Sau đó, Châu Tuấn thi đậu lại lần nữa, cả nhà vui mừng sum họp và sống cuộc đời hạnh phúc vinh quang.

      Đó là một tấm gương dâu hiền đáng kính và đáng noi theo. Nhìn lại hàng phụ nữ thời nay thì quá hiếm thảo hiền nên Đức Thầy  khuyến tấn:

                  “Hàng phụ nữ gương xưa nối chí,

           Những mẹ hiền dâu thảo roi truyền.

                                                      (Khuyến Thiện,Q.5)

      NGƯỜI THƯỢNG CỔ: Người thời xưa. Đây chỉ cho Tổ tiên ta, những người đã sản sanh ra giống Tiên Rồng Việt Nam.

      NÒI GIỐNG: Cũng gọi là giống nòi. Chỉ cho nguồn gốc dòng dõi của một dân tộc, như dân tộc Việt Nam là nòi giống Tiên Rồng, con Hồng cháu Lạc:

                  “Giống nòi thiệt cốt Rồng Tiên,

               Mà nay lạc mất gương hiền nơi đâu ?”

                              (Từ Giã Bổn Đạo Khắp Nơi)

      QUI NHỨT THỐNG: Gom về một mối. Đây ý nói đến thời kỳ mà cả nhân loại đều biết trở về với tánh lành, tánh nhân từ bác ái thì chẳng còn ai gây khổ cho ai nữa. Đức Thầy từng nói trong bài “Thu Đã Cuối”:

                  Chấn hưng Phật giáo học đường,

          Dưới trên hòa thuận chọn đường qui nguyên.

      HOÀN CẦU: Cũng gọi “địa cầu”. Xem chú thích tại tr.35 Tập 1/3.

      DẠ NGỌC: Xem lại chú thích tại tr. 216 Tầp2/3.

      KHẢI HOÀN: Xem lại chú thích tại tr. 25 Tập 2/3.

 

                                 CHÁNH VĂN

541.          Phật Như-Lai cho phép Khùng troàn,

                  Cho bổn-đạo khắp nơi đặng biết. 

                  Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,

544.          Đợi cho người hết giận ta khuyên.

                  Chữ nhẫn-hòa ta để đầu tiên,

                  Thì đâu có mang câu thù-oán.

                  Việc hung-ác hễ vừa thấp-thoáng,

548.          Chữ từ-bi ta diệt nó liền.

                  Sự oán-thù đáp lại chữ hiền,

                  Thì thù-oán tiêu-tan mất hết.

                  Chữ bạn-tác dầu cho đến chết,

552.          Cũng keo-sơn gắn chặt mới là.

                  Bước ra đường ăn nói thiệt-thà,

                  Dầu khôn-khéo cũng là giả dại.

                  Nếu tranh-đương ắt ta bị hại,

556.          Thêm sa-cơ lại bị xích-xiềng.

                  Vì đời nay chúng nó dụng tiền,

558.          Ít ai dụng chữ nhơn chữ nghĩa.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 541 đến câu 558) :

      -Đức Thích Ca Như Lai đã sắc lịnh cho Đức Thầy truyền dạy khắp môn đệ các pháp tu hành. Trong đây, có pháp nhẫn nhục, ví như áo giáp tường đồng để bảo vệ nhà tu, khỏi nổi cơn nóng giận trước sự khiêu khích của kẻ khác. Khi có người đến mắng nhiếc chửi rủa thì ta giả như không nghe, không thấy. Tâm nên xét rằng vì họ thiếu đạo nghĩa, mới lấn hiếp mình như thế nên đáng thương hại hơn là thù ghét, và luôn giữ lòng nhẫn nhục, tha thứ lỗi lầm của họ. Đợi qua cơn giận dữ, ta sẽ dùng lời dung hòa ra khuyên giải, tức nhiên lòng thù oán giữa ta và họ sẽ tiêu tan.

      -Thêm nữa, nhà tu cần theo dõi lòng mình từ phút giây, hễ thấy một niệm hung dữ vừa chớm nghĩ, lập tức dùng tâm từ bi giải trừ. Còn đối với sự thù oán phải lấy lòng hiền đức ra đối trị, bởi “Dĩ đức báo oán, oán tự tiêu tan”; bằng : “Dĩ oán báo oán thì oán kết thêm mãi”.

      -Đức Thầy cũng dạy về đạo bằng hữu, cần phải giữ lòng thương mến, tương trợ lẫn nhau cho được thỉ chung như nhất. Về mặt giao tiếp với mọi người, ta hãy nói năng chơn chất, chẳng nên khoe khoang lớn lối, dầu ta có đủ tài trí cũng giả như kẻ thật thà quê dốt, tránh tranh đương tất được yên thân.

      -Vì rằng nếu ta ham đua tranh, giành giựt với mọi người, ắt không tránh khỏi va chạm đến quyền lợi, hay lòng tự ái của kẻ khác; rồi dẫn đến chỗ tranh tụng kiện cáo, nhiều khi phải chuốc lấy sự thất bại, tù tội. Bởi thời nay, người ta xem tiền bạc là trên hết “Đa kim ngân phá luật lệ” chớ ít ai thi thố lòng nhơn nghĩa.

 

CHÚ THÍCH :

      NHƯ LAI: Xem lại chú thích tại tr. 161 Tập 2/3.

      NHẪN HÒA: Nhẫn nhịn và khoan hòa, dung thứ mọi người. Đây là một đức tánh, cũng là phương pháp, có diệu năng trừ được lòng nóng giận hung ác.

      THẤP THOÁNG: Lấp loáng, vừa nhoáng lên, vừa thoáng qua. Đây ý nói tánh hung ác vừa mới chớm phát.

      TỪ BI: Xem lại chú thích tại tr. 40 Tập 1/3.

      OÁN THÙ: Cũng gọi là thù oán. Có nghĩa thù nghịch oán hận và căm tức trong lòng để chờ dịp làm cho lợi gan. Đức Thầy có câu:

                  “Giận hờn nhau thù oán dẫy tràn

                    Mới có cuộc tranh tài đấu lực”.

                                          (Khuyến Thiện, Q.5)

      BẠN TÁC: Làm bạn. Do chữ “bằng hữu”, tức tình bè bạn. Cũng có nghĩa là kết bạn giữa hai người xuýt xoát tuổi với nhau. Ở đây chỉ cho đạo bè bạn, một trong “ngũ luân”, đã kết bạn với nhau thì phải đối xử đứng đắn, trước sau như một. Sau đây là câu chuyện tình bạn tác cho đến chết vẫn còn keo sơn gắn chặt.

      -Thời Chiến Quốc (Trung Hoa) có đôi bạn thân là Tả Bá Đào và Dương Giác Ai, cùng nhau đến nước Sở để lập công danh. Đường xa diệu vợi, tắm nắng dầm mưa. Bá Đào vương phải bệnh, nằm lạnh run, suy tính: số y thực mang theo chỉ đủ một người dùng, mới đi đến nơi, nên anh khuyên Giác Ai: hãy đi một mình để anh ở lại, nhưng Giác Ai không đồng ý.

      Độ ấy, mưa càng lúc càng nhiều, trời rét buốt, Bá Đào kêu Giác Ai nói:

      -Anh mệt mỏi và lạnh quá đi không được nữa !

      Giác Ai liền đỡ Bá Đào nằm trên tảng đá, rồi chạy đi kiếm củi để đốt hơ, nhưng khi trở lại, thấy Bá Đào cởi hết y phục xếp lại, để mình trần nằm đó chờ chết. Giác Ai ngạc nhiên hỏi:

      -Anh sao thế ?

      Bá Đào đáp:

      -Anh sức kém lại học ít, liệu tới nước Sở cũng chẳng làm được gì, nếu không khéo, cả hai ta đều chết đói giữa đường. Vậy em hãy lấy hết y thực mà đi, anh đành chết nơi đây. Nói xong Bá Đào tắt thở ! Giác Ai khóc than thảm thiết, toan liều mình chết theo bạn, song nghĩ làm vậy tức phụ lòng anh, bèn lo chôn xác Bá Đào, chất đá làm dấu, rồi bùi ngùi ôm gói ra đi tiếp.

      Tới Sở, Giác Ai được vua Sở trọng dụng, phong tước Trung Đại Phu. Giác Ai đem sự tình tâu hết cho Vua nghe, và xin phép trở lại xây mộ cho anh. Vua chuẩn y, lại cũng truy phong cho Bá Đào chức Trung Đại Phu và cắt quan quân theo hộ vệ Giác Ai.

      Công việc xây mộ vừa xong, Giác Ai nằm mộng thấy Bá Đào về cho biết: Anh rất cám ơn em lo danh phận và mồ của anh chu đáo, ngặt nơi đây gần mộ Kinh Kha, một thần linh ở đất nầy; bộ hạ y sanh đố kỵ, nên mấy hôm nay xua đuổi và đánh đập anh khổ sở lắm !

      Giác Ai thức giấc, liền đòi làng xóm sở tại đến hỏi. Quả có mộ Kinh kha gần đó. Giác Ai cấp tốc đến miếu phân bày hơn thiệt, bảo Kinh Kha từ rày không được cho bộ hạ đến hiếp anh ấy nữa ! Nhưng đêm sau, Bá Đào cũng ứng mộng bảo Giác Ai: nên dời mộ anh đi nơi khác, vì Kinh Kha và bộ hạ y chẳng khứng để yên.

      Giác Ai tỉnh dậy, liền viết sớ tâu Vua hay và kêu đoàn tùy tùng nói: Bọn Kinh Kha ỷ mạnh ăn hiếp anh ấy đến đỗi, ta phải chết theo anh để trừ kẻ cường nghịch, đoạn rồi anh rút gươm tự tử.

      Đêm đó giữa lúc canh ba, gió mưa sấm sét tưng bừng, có tiếng la hét vang dội. Sáng lại, người ta thấy mồ Kinh Kha bể nát, xương cốt văng lên mặt đất, cây cối chung quanh tróc gốc ngã lăn. Miễu môn cũng cháy sạch như chỗ đất bằng. Vua Sở được tin, liền sai quan đến nơi ấy lập miễu thờ hai anh em Dương Giác Ai và Tả Bá Đào để tưởng nhớ đôi bạn “Chí thân tử hữu”. Người sau thường dùng điển tích nầy để tỉnh đời:

                  Thương nhau như gã Ai Đào,

              Mong chi ai xẻ đồng bào nhiều phe”.

      KEO SƠN: Keo và sơn là hai chất dính khó làm cho tróc ra. Cổ thi có câu:“Cổ giao đầu tốt trung, Thùy năng biệt ly thử.(Lấy keo bỏ vào trong sơn thì ai chia rẽ cho được). Đây ý nói tình bạn thương yêu, đoàn kết nhau rất khắng khít như keo với sơn dính liền. Đức Thầy nay từng nói trong bài “Viếng làng Mỹ Hội Đông”: Keo sơn đâu cật liền lưng”.

      TRANH ĐƯƠNG: Tranh đua giành giựt, chống cự lẫn nhau.

      SA CƠ: Bị việc không may, phải thua, phải thất bại. Ví dụ: Sa cơ thất thế,

      XÍCH XIỀNG: Xích là sợi dây bằng sắt, có nhiều khoen móc liền nhau; Xiềng là trói buộc lại. Xích xiềng là bị cột trói bằng dây xích. Nghĩa bóng là bị sự tù tội, ràng buộc khổ sở. Đức Thầy bảo:

                  Tham chi giả tạm của tiền,

           Như chim vào lưới xích xiềng trói thân.

                                                      (Hoài Cổ)

      NHƠN NGHĨA: Xem chú thích tại tr.275 Tập 1/3.

 

                                 CHÁNH VĂN

559.          Theo học Đạo mặc ai mai-mỉa,

                  Ta cũng đừng gây-gổ với người.

                  Được mấy điều thì đáng vàng mười,

562.          Thiệt hiền-đức có ai mắng chưởi.

                  Xưa đức Thánh luận bàn cái lưỡi,

                  Ngài nói rằng các việc tại mầy.

                  Thuận với hòa hay ghét với rầy,

566.          Cũng cái lưỡi làm thầy các việc.

                  Phải kiếm cách đặng ta trừ tuyệt,

                  Lấy tâm thần làm chủ mới mầu.

                  Cũng chẳng nên theo tánh Võ-hầu,

570.          Thấy chẳng nói mà nhăn mà nhướng.

                  Hãy liệu sức chớ nên nói bướng,

                  Dầu việc chi liệu lượng mà làm.

                  Điên Khùng nầy chẳng có nói xàm,

574.          Nói những chuyện từ-bi bác-ái.

                  Nếu bổn-đạo còn ai làm sái,

                  Coi kệ này mình sửa lấy mình.

                  Ta không tranh mà cũng không kình,

578.          Cho bá-tánh gièm-pha thoả chí.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 559 đến câu 578) :

      -Đã quyết tâm tu học đạo pháp thì dù ai có gièm siểm nhạo chê, ta cũng đừng sân si với họ, hầu để tâm yên tĩnh lo thi hành việc đạo nghĩa; mỗi người đều biết tu sửa như vậy, ắt được quí báu hơn vàng ngọc. Và, nếu ta đã thật tâm tu niệm, tức nhiên mọi kẻ chung quanh đều kính nể, thì đâu còn ai khinh khi mắng chửi.

      -Xưa Thánh nhơn thường răn đời, nên thận trọng lời nói, bởi mọi thành quả thấp cao, tội phước hòa vui hay thù hận, cũng đều do miệng lưỡi mà ra. Cho nên ngày nay Đức Thầy thường chỉ dạy tín đồ:“…phải giữ cho lời nói mình được thành thật chánh đáng, được vậy trong hương đảng mới bớt rầy rà, ngoài xã hội không điều xích mích và mình cũng không còn chịu ác cảm, tránh sự miệt khinh của kẻ khác.(Ác Lưỡng Thiệt).

      -Song muốn trừ tuyệt các lời nói quấy ta phải tự chủ thân tâm, mỗi khi muốn nói hay làm việc gì, trước phải dùng thần trí sáng suốt mà xét suy kỹ lưỡng. Nếu thấy điều đó là ôn thuần đạo nghĩa thì mới thực hiện. Bỏ hẳn những tánh tình thô bạo, những cử chỉ hăm he, nhăn nhện làm cho kẻ khác khó chịu.

      -Và trước khi thi thố điều chi, ta cần phải suy lường cân nhắc, chớ không nên làm càng nói bướng. Còn những lời khuyên dạy trên đây, là tiếng lòng từ ái của Đức Giáo Chủ, chớ chẳng phải là lời nói nhảm, mà bá tánh thờ ơ không lưu ý.

      -Ngài cũng kêu gọi khắp bổn đạo, mỗi người hãy tự kiểm, nếu thấy mình quấy phạm thì xem theo lời dạy trong quyển “Giác Mê Tâm Kệ” nầy, mà tu sửa thân tâm, rèn luyện ngôn ngữ cho được ngay chánh. Riêng phần giáo độ nhân sanh của Đức Thầy, Ngài chẳng hề tranh luận chống kình với một ai, nên dầu cho tiếng đời có nhạo chê gièm siễm cũng mặc:“Cay đắng siểm gièm thân lão chịu, Miễn đời thạnh trị hết cuồng ngông.(Phòng Vắng Đêm Khuya).

 

CHÚ THÍCH :

      MAI MỈA: Cũng gọi là mỉa mai. Có nghĩa châm biếm, chế nhạo, nói cạnh khía, nói cười nửa chơi nửa thật, nhưng có ẩn ý khi dể. Ví dụ: nói mỉa mai, cười mai mỉa.

      VÀNG MƯỜI: Xem lại chú thích tại tr. 152 Tập 2/3.

      CŨNG CÁI LƯỠI LÀM THẦY CÁC VIỆC: Lưỡi là một bộ phận của cơ quan tiêu hóa, bằng thịt nằm trong miệng, có nhiều hạch nước miếng, dùng để nếm, lừa thức ăn và cũng để nói chuyện.

      Sách Tây phương có sự tích:

      Erope, một triết gia, cũng là một nhà thơ nổi tiếng nhất ở Hy Lạp, sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6 và thứ 7 trước Tây lịch. Lúc ông còn làm nô lệ, một hôm chủ bảo ông ra chợ mua thức ăn nào ngon nhất. Ông bèn mua toàn là lưỡi heo, đem về làm các thức ăn, chủ lấy làm lạ hỏi lý do. Ông đáp:

      -Lưỡi là cái chìa khóa của tất cả lý lẽ. Nhờ nó mà con người được địa vị cao sang, nhiều kẻ khác kính nể.

      Ít hôm sau, người chủ muốn thử ý, bèn sai ông đi mua món nào xấu và dở nhất về nấu ăn, ông cũng mua toàn lưỡi heo. Người chủ ngạc nhiên hỏi:

      -Tại sao nay cũng mua lưỡi heo nữa ?

      Ông đáp:

      -Nếu nói về cái quí thì không gì quí hơn lưỡi, nhưng tìm cái xấu thì cũng không gì xấu hơn nó. Chính cái lưỡi đã khiến con người ưa tranh biện, gây chia rẽ, vu cáo, nói những lời bất nghĩa, bất nhân. Tài hùng biện của Erope khiến người chủ phải chịu thua.

      Đây ngụ ý lời nói (lưỡi) là nguồn cội của sự chân thật hay là điêu ngoa xảo trá. Ngạn ngữ Việt Nam có câu:“Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”. Thánh Khổng Tử cũng bảo:“Nhất ngôn bất chánh,, vạn sự bất thành”. Và “Cổ ngôn chi bất xuất, Sĩ cung chi bất đãi dã(Người xưa chẳng dám khinh dễ lời nói, sợ e chẳng theo kịp lời nói mà hổ ngươi). Bởi mọi việc hư nên tốt xấu gì, cũng do nơi lời nói mà ra cả.

      TÂM THẦN: Phần tinh thần của thể xác, tức là sự linh diệu sáng suốt của tâm trí mình. Đức Thầy có câu:“Tâm thần hoài tưởng chuyện xa xôi.(Thi Xuân).

      VÕ HẦU: Loài khỉ, tánh võ hầu là tánh hay nhảy nhót, bực dọc, nhăn nhướng.

      LIỆU LƯỢNG: Toan tính, suy lường, cân nhắc đâu đó chu toàn. Ví dụ: Việc đó đã liệu lượng xong rồi.

      BÁC ÁI: Xem chú thích tại tr. 58 Tập 1/3.

      GIÈM PHA: Đặt chuyện nói xấu người với một kẻ khác, hoặc nói vô nói ra cho hư chuyện người.

 

                            CHÁNH VĂN

579.          Ai làm phước in ra mà thí,

                  Thì được nhiều hạnh-phúc sau nầy.

                  Chốn non xanh dạy-dỗ cáo-cầy,

582.          Xuống trần-thế ra tay dắt chúng.

                  Tới với Ta chớ đem đồ cúng,

                  Chỉ đem theo hai chữ thành-lòng.

                  Chẳng có cần trà, quả, hương nồng,

586.          Mong sanh-chúng từ-lòng hối-ngộ.

                  Kẻ xa-xuôi có lòng ái mộ,

                  Xem Kệ nầy tu tỉnh tại nhà.

                  Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,

590.          Phật chẳng chấp chẳng nài thời khắc.

                  Chay bốn bữa ấy là quy-tắc,

                  Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng-sanh.

                  Con Phật thì chẳng có khôn lanh,

594.          Đời văn-vật khôn ma khôn quỉ.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 579 đến câu 594) :

      -Đoạn giảng trên Đức Giáo Chủ khuyến dạy chư thiện tín, nếu ai muốn tạo nhân từ thiện, hãy xuất tiền in kệ giảng, truyền bá trong quảng đại quần chúng, vì đó là công tác pháp thí (một trong 3 món bố thí) thì sau nầy được hưởng nhiều phúc hạnh sáng mầu. Bởi đầy lòng từ bi đối với cả chúng sanh, nên lúc còn an trú nơi rừng núi, Đức Thầy đã từng độ rổi các loài cầm thú, nay lâm phàm Ngài có bổn phận hướng dẫn nhân sanh, tiến lên đường đạo đức.

      -Vậy ai muốn qui đầu Phật pháp, khi đến với Ngài, khỏi phải bận tâm dùng lễ vật, chỉ cần có sự thật lòng thành tín là được. Bởi những lễ lộc như: nhang, đèn, bánh trái.v.v…của trần gian, Ngài và chư Phật chẳng hề màng đến:“Phật, Thần, Tiên, Thánh chẳng dùng ham.(Hai Mươi Chín Tháng Chạp) Ngài mong sao mọi người đều biết trở lại với tâm lành, hối cải những lầm lỗi vừa qua và tự quyết không còn tái phạm.

        -Đến như những kẻ ở quá cách xa, không đủ phương tiện tới gặp Đức Thầy, song họ có lòng thành, kính mộ đạo đức thì cứ ở ngay tại nhà, xem theo lời dạy trong Kệ nầy mà phát nguyện qui y Tam Bảo, cũng được Ngài và Tam Bảo ứng chứng cho.

      -Về qui tắc của PGHH, mỗi tín đồ khi mới đặt chân vào cửa Đạo, cần giữ giới (Tám Điều Răn Cấm) và phải  chay lạt căn bản mỗi tháng bốn ngày (ngày 14, rằm, 29 và 30, tháng thiếu thì 29 và mùng một),  rồi tùy theo lòng nhân và trình độ của mỗi hành giả mà tiến dần lên. Đức Thầy còn dạy rằng: đã tự nguyện làm tôi con của Phật thì sự nói năng phải giữ cho được chân thật hiền hòa, không nên đua chen, tập nhiễm theo nếp sống văn vật kim thời mà ăn nói khôn lanh xảo quyệt.

 

CHÚ THÍCH :

      HẠNH PHÚC: Xem chú thích tại tr. 59 trên.

      THÀNH LÒNG: Xem chú thích chữ “thiềng lòng” tại tr. 142 Tập 1/3.

      HỐI NGỘ: Ăn năn và tỉnh ngộ, tức là tự tỉnh biết mình đã làm quấy mà ăn năn cải sửa. Đây là nghĩa của chữ Sám Hối (Xem thêm chú thích tại tr. 92 trên).

      ÁI MỘ: Yêu chuộng, ưa thích và kính tin. Ví dụ: ái mộ Đạo đức, ái mộ việc lành.

      TU TỈNH: Xem chú thích tại tr. 103 Tập 2/3.

      THỜI KHẮC: Giờ khắc. Xem chú thích chữ “sáu khắc” tại tr. 87 Tập 1/3.

      QUI TẮC: Do chữ “Qui tắc chuẩn thằng”. Qui là cái dung cụ vẽ hình tròn (com-pa), tắc là cây thước của người thợ dùng để đo góc vuông (thước vuông). Chuẩn thằng là dây chuẩn, dây tiêu, dây mực. Nhờ các món ấy mà người thợ làm nên vật dụng ngay thẳng, khéo đẹp. Nghĩa rộng là chỉ cho luật lệ phép tắc. Ở đây ý chỉ cho qui luật, nghi thức của Đạo mà mỗi tín đồ phải hành trì, cho đúng theo đó.

      VĂN VẬT: Xem chú thich tại tr. 148, Tập 2/3.

 

                             CHÁNH  VĂN

595.          Lo trang-sức kim-thời huê mỹ,

                  Rồi phụ-phàng tục cổ nước nhà.

                  Trong tâm thì chứa chữ gian-tà,

598.          Chớ chẳng chứa tấm lòng bác-ái.

                  Học chữ nghĩa cho thông cho thái,

                  Đặng xuê-xang đài-các xe-tàu.

                  Tiếng chào mừng cửa miệng làm màu,

602.          Trong tâm-ý mưu-mô đủ thế.

                  Ta còn mắc phiêu-lưu dương-thế,

                  Dạo Lục-Châu đặng cứu bá-gia.

                  Mặc tình ai xem kệ ngâm-nga,

606.          Hay sửa-đổi tùy lòng hưu-hỷ.

                  Thương sanh-chúng tỏ bày quá kỹ,

                  Hỡi dương trần nên sớm quày đầu.

                  Đặng sau xem Phật-pháp nhiệm-mầu,

610.          Với báu-quí đài-lầu tươi-tốt.

                  Xác Ta vốn là người quê dốt,

                  Nên mở mang chưa được mấy rành.

                  Khắp dương-gian như sợi chỉ mành,

614.          Mong bổn-đạo tâm thành trở lại.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 595 đến câu 614) :

      -Con người thời nay hay tập nhiễm theo sự ăn xài chưng diện, trang sức lụa là v.v…vội quên đi phong tục tốt đẹp của nước ta từ xưa. Lòng họ luôn chứa chấp điều ác gian tà vạy, chẳng hề để tâm thương xót một ai.

      -Lại nữa, từ ngày có làn sóng văn vật của Tây Âu tràn ngập vào, phần đông dân ta đua đòi theo lối học mới, ai cũng muốn lo cho mình văn hay chữ giỏi, song chỉ để tranh đoạt lợi danh, tiêu xài xa xí. Về sự giao thiệp, họ tỏ vẻ ngọt ngào óng chuốt bên ngoài, nhưng trong thâm ý thì đủ đầy mẹo mưu để lường gạt mọi người.

      -Riêng phần Đức Thầy còn phải rày đây mai đó, dạo qua 6 tỉnh miền Nam nước Việt, để đánh thức vạn dân sớm giác ngộ tu hành. Và dù bá tánh khi xem đến Kệ Giảng của  Ngài, chỉ biết ngâm nga tiêu khiển hay vui vẻ thực hành theo, tùy ý, chớ Ngài chẳng hề nài ép một ai.

      -Bởi quá thương xót chúng sanh nên Ngài giải bày cặn kẽ để mỗi người nhận thức được lẽ tội phước mà qui y đầu Phật, gấp rút tu rèn tâm trí, bòn mót phước nhân hầu sau nầy thấy sự diệu mầu trong Đạo pháp, và cảnh quí báu đền vàng điện ngọc của nước Việt Nam.

      -Đức Giáo Chủ cũng khiêm nhượng cho biết: Ngài là người ít học quê mùa, việc đạo đức chưa rành mấy, nhưng  nhận thấy cõi đời Hạ ngươn sắp đến ngày tàn cỗi, như chỉ mành treo chuông. Vốn sẵn lòng từ bi, Đức Thầy không nỡ yên nhìn chúng sanh đang vướng vòng khổ lụy nên Ngài không ngần ngại ra tay tế độ. Vậy mỗi người trong bổn đạo, muốn vượt qua truông khổ, phải thật lòng tu thân, hành thiện mới mong kết quả:“Tu thật tâm thì được thảnh thơ.(Kệ Dân, Q.2).

 

                              CHÚ THÍCH :
      TRANG SỨC: Ăn mặc lụa là và đeo đồ nữ trang để chưng diện cho đẹp.

      KIM THỜI: Thời đại hiện giờ, sự mới mẻ.

      HUÊ MỸ: Cũng gọi là hoa mỹ. Có nghĩa đẹp đẽ lộng lẫy.

      PHỤ PHÀNG: Bỏ bê khinh bạc, không kể đến.

      TỤC CỔ: Những phong tục lễ nghi của ông cha từ xưa để lại.

      THÔNG THÁI: Hiểu biết rộng rãi hơn người. Đây chỉ cho sự thông hiểu về việc đời (thế trí biện thông).

      XUÊ XANG: Sung sướng, tốt đẹp.

      MƯU MÔ: Mưu mẹo khôn xảo quỉ quyệt.

      PHIÊU LƯU: Phiêu là gió thổi bay; lưu là trôi đi. Ví như con thuyền bị trôi giạt theo sóng gió, linh đinh vô định. Đây ý nói vì muốn rộng độ chúng sanh, Đức Thầy phải lưu hành khắp nơi, rày đây mai đó, như Ngài từng nói trong bài “Đến Làng Nhơn Nghĩa”:

                  Thân Khùng vận bĩ trớ trêu,

           Phiêu lưu trôi giạt danh nêu khắp cùng”.

      LỤC CHÂU: Xem lại chú thích tại tr. 91 Tập 1/3.

      HƯU HỶ: Vui vẻ.

      PHẬT PHÁP: Xem chú thích tại tr.54 Tập 1/3.

      NHIỆM MẦU: Cũng gọi là mầu nhiệm. Có nghĩa sự cao sâu huyền diệu khó nghĩ lường. Ý nói lý nghĩa trong Phật pháp sâu kín mầu nhiệm, không thể dùng ngôn ngữ hay bút mực mà diễn tả cho hết được. Chỉ có kẻ tu hành khi trực nhận được bản tâm mới thông đạt mà thôi.

Comments