2) Chú Giải Quyển Tư: GIÁC MÊ TÂM KỆ

CHÚ GIẢI QUYỂN TƯ:

 

GIÁC MÊ TÂM KỆ

 
 

XUẤT XỨ - VĂN THỂ

         Đây là quyển thứ tư, trích từ phần nhất Sấm Giảng Giáo Lý trong Thi Văn Giáo Lý Toàn Bộ. Đức Huỳnh Giáo Chủ đã sáng tác quyển nầy vào ngày 20 tháng 9 năm Kỷ Mão (1939), lúc Ngài còn ở Tổ Đình Thánh Địa Hòa Hảo.

         Ngài viết theo lối văn vần, thể thất ngôn trường thiên, loại thuyết giáo, dài 846 câu, khởi đầu bằng câu:

                 Khai ngọn đuốc từ bi chí thiện

         Và chấm dứt bởi câu:

                 Mong bá tánh vạn dân giải thoát”.

 

TIÊU ĐỀ:

         Trước khi đi sâu vào nội dung quyển thứ tư, chúng ta nên tìm hiểu ý nghĩa bốn chữ “Giác Mê Tâm Kệ”(GMTK) mà Đức Thầy dùng làm tiêu đề.

         Giác Mê là tỉnh biết sáng suốt, hết mê lầm. Theo Phật học thì Giác có hai phần:

         -Tỉnh ngộ: thấy ra những điều quấy ác để trừ dứt gọi là giác sát.

         -Tự khai ngộ được chân lý để nương theo gọi là giác ngộ. Cho nên Giác là danh từ chỉ cho bậc Phật (giác ngộ) đối với chúng sanh (mê lầm).

         Hiểu chung, hai chữ Giác Mê nghĩa là thức tỉnh kẻ còn mê lầm tăm tối.

         Tâm Kệ  là quyển Kệ dạy hành giả tu ngay tâm để kiến tánh thành Phật, cũng như quyển Tâm Kinh của Đức Bổn Sư Thích Ca và quyển Giác Mê của Đức Phật Thầy Tây An trước kia.

         Vậy quyển Giác Mê Tâm Kệ nầy có ý nghĩa Đức Giáo Chủ khuyên dạy môn đồ các phương pháp sửa đổi tâm chúng sanh để trở thành tâm Phật. Bởi Phật hay chúng sanh cũng do tâm mình tạo nên, như Ngài đã bảo:

                 “Cái chữ tâm mà quỉ hay ma,

                   Tiên hay Phật cũng là tại nó.

                   Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,

                   Nếu lặng tâm tỏ ngộ đạo mầu”.

 

NỘI DUNG:

         Đại ý trong đây Đức Thầy nhắc lại Đức Thích Ca xưa kia vì nghiệm xét bốn nỗi khổ của mỗi chúng sanh, nên lìa bỏ cung vua, vợ đẹp con ngoan để ra đi tầm Đạo cứu đời. Nay Đức Thầy khuyên các giới nhân sanh hãy noi theo gương ấy mà giác tỉnh tu hành.

         Về phương cách tu, Ngài dạy: Trước nhứt hành giả phải lánh xa lối sống đam mê trụy lạc, tức tửu sắc tài khí và chiến thắng tam bành lục tặc; lấy tâm làm chủ 6 căn đừng để ô nhiễm 6 trần. Đồng thời hãy nghiệm xét Tứ Diệu Đề, trì hành Bát Chánh Đạo, chuyên hành Bát Nhẫn và phá tan Ngũ Uẩn để đạt đến lý “sắc không”, chân như thật tướng.

 

BỐ CỤC:

         Quyển “Giác Mê Tâm Kệ” gồm có ba phần chánh và nhiều tiểu đoạn.

         I.- Phần nhứt cũng là phần khai đề. Đức Giáo Chủ cho biết vì lòng từ bi Ngài lâm phàm tại miền Nam nước Việt, dùng trí siêu mầu giác tỉnh chúng sanh sớm nương về nẻo thiện. Phần nầy từ câu 1: “Khai ngọn đuốc từ bi chí thiện” tới câu 4: “Đặng chỉ ngỏ làm lành lánh dữ”.

         II.- Phần nhì cũng là phần chánh đề. Đức Giáo Chủ vừa khuyên tu vừa khai triển các pháp tu tự lực cứu cánh (Thiền Tông). Nhứt là hành giả phải chủ yếu về nội tâm, bởi vạn vật trong thế gian, từ Địa ngục, Thiên đường hay Niết Bàn, Cực Lạc đến Phật ma, Thần Thánh đều do tâm mình tạo ra cả:

                 Địa Ngục cũng tại tâm làm quấy,

                   Về Thiên đàng tâm ấy tạo ra…”

         Vậy hành giả muốn an cư nơi cảnh giới nào hay tiến đến địa vị nào cũng đều do tâm mình tạo nên.

         Phần nầy từ câu 5: “Sách Thánh đạo ghi trong Tam-Tự” tới câu 836: “Luân với chuyển dời qua đổi lại.”

         III.- Phần ba cũng là đoạn kết. Đức Thầy ân cần dặn bảo những phương thức Ngài dạy trong quyển “Giác Mê Tâm Kệ sẽ giúp cho hành giả đạt đến chỗ an cư thanh tịnh. Những gì quí báu của đất nước Việt Nam sau nầy, còn tiềm ẩn trong đỉnh núi nhà Nam (Thất Sơn), ai muốn trông thấy phải gắng công bền chí tu hành. Lời khuyên nhủ của Ngài là vì lòng từ bi, mặc tình cho người đời có khen chê Ngài cũng không màng kể, miễn sao cho khắp bàng nhân bá tánh đều được giải thoát an vui là Ngài thỏa nguyện. Phần ba từ câu 837:“Ra kệ nầy hai chữ bảo an”, cho đến câu 846:“Mong bá tánh vạn dân giải thoát”.

 

CHỦ ĐÍCH:

         Chủ yếu quyển “Giác Mê Tâm Kệ”, Đức Thầy dạy môn đồ học Phật tu Phật, chuyên về các pháp tu tự lực Thiền Tông, từ tiệm tu đến đốn ngộ đều có đầy đủ, tức là từ “Diệt lục căn đừng nhiễm lục trần” đến chỗ đạt được lý sắc không. Từ chỗ trì hành Tứ Diệu Đề, Bát Chánh Đạo đến chỗ “Giữ tấm lòng bất động như như, và “Vô pháp tướng mới là thiệt tướng”.

 

*****