3) Chú Giải Quyển Năm: KHUYẾN THIỆN

CHÚ GIẢI QUYỂN NĂM:

 

KHUYẾN THIỆN

 
 

XUẤT XỨ - VĂN THỂ :

         Đây là quyển thứ Năm, trích từ phần nhứt: “Sấm Giảng Giáo Lý” trong Thi Văn Giáo Lý Toàn Bộ. Đức Giáo Chủ PGHH sáng tác quyển nầy vào năm Tân Tỵ (1941) lúc Ngài  bị người Pháp an trí tại nhà thương Chợ Quán (Sài Gòn). (Đức Thầy vừa viết xong quyển Khuyến Thiện thì được trả tự do. Khi về tới Bạc Liêu, Ngài mới cho tín đồ in ra nên có người chép là Ngài viết tại Bạc Liêu, chớ kỳ thật là Ngài viết tại nhà thương Chợ Quán. Vì ông Trần Văn Tâm, người cai quản nhà thương nầy còn giữ nguyên bản chánh và xác nhận là Đức Thầy viết lúc còn ở đây).

         Ngài viết bằng vận văn (văn vần ), lối biến thể, đoạn đầu và cuối thể lục bát, nhưng đoạn giữa là thất ngôn trường thiên và có xen vào một ít bài thi. Quyển Khuyến Thiện thuộc loại khuyến tu và tự thuật, dài 776 câu. Khởi đầu bằng câu:

                 Băng tâm ngẫu hứng thừa nhàn,”

         Và chấm dứt bởi câu:

                 Sĩ xuất văn từ dốc dạy khuyên”.

 

TIÊU ĐỀ - DANH HIỆU :

         Khuyến Thiện: Khuyến là khuyên lơn chỉ bảo. Ý dùng lời nói dung hòa êm dịu khuyên nhủ khiến cho mọi người nghe theo. Thiện là việc lành, việc phải và tốt đẹp, có ích lợi cho mọi người. Nghĩa chung là ý dùng lời pháp giáo khuyên nhắc mọi người trở lại con đường lành, làm việc từ thiện, tránh xa những điều hung ác.

         Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy:“Tu cả thảy pháp lành tất chứng bực Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”(Tu nhứt thiết thiện pháp, tức đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề).

         Đức Thầy hiện nay cũng nói:

              Rung chuông lành bằng muôn tiếng kệ.

                  Gọi hồn người hành thiện truy kinh”.

                                           (Nang Thơ Cẩm Tú)

         Vô Danh: Không có tên. Đây có ý giấu tên (ẩn danh). Đức Thầy đã nói:“Lánh thế chẳng bày danh Lão Sĩ.”(Cho Ô. Tham Tá Ngà). Trong Trang Tử Tiêu Dao cũng có câu:“Bực Chí nhân thì không vì mình, bực Thần nhân thì không kể công, còn bực Thánh nhân thì không cầu danh.”(Chí nhân vô kỷ, Thần nhân vô công, Thánh nhân vô danh).

         Cư Sĩ: Người tu tại gia. Huệ Viễn Duy Ma Kinh có câu:“Cư sĩ hữu nhị: Nhứt quản tích tư tài, cư tài chí sĩ, danh vi cư sĩ; nhị tại gia tu Đạo, cư gia Đạo sĩ danh vi cư sĩ”.(Cư sĩ có hai hạng: Một là người có chứa nhiều tiền của mà không trước nhiễm; hai là những người tại gia tu hành, hoặc xưng là bậc Đạo sĩ, nhưng không xuất gia). Như trường hợp Đức Phật Thầy Tây An và Đức Huỳnh Giáo Chủ, tuy các Ngài là Cư sĩ, nhưng đã viên thành Đạo quả “Cư gia Tịnh Độ tâm viên mãn”.

         Vậy bốn chữ  “Vô Danh Cư Sĩ” là người tu tại gia có ý ẩn danh.

         Sở dĩ Đức Thầy đề bút hiệu cho quyển Khuyến Thiện như vậy là có 3 dụng ý:

         1- Chính Ngài và hầu hết tín đồ hành đạo và truyền đạo đều mang hình thức cư sĩ, nhưng chủ trương thực thi bồ tát hạnh (bố thí vị tha).

         2- Từ ngày 18 tháng Năm năm Kỷ Mão (1939) đến tháng Tư năm Canh Thìn (1940), Ngài còn được tự do sáng tác và in ấn Sấm Giảng. Nhưng hiện tình năm 1941 Ngài bị người Pháp quản thúc tại nhà thương Chợ Quán, sự sáng tác và in ấn không còn được tự do như trước, nên Ngài phải quyền biến thay tên và bút hiệu để dễ bề in ấn và truyền bá.

         3- Bởi giữa thời Mạt pháp có nhiều tà đạo ra đời, họ xưng hô toàn là Phật Thánh, gạt người lạc vào tà kiến dị đoan. Thêm có lắm phần tử cũng trong phạm vi Phật giáo, song là kẻ giả tu, hành động sai chơn lý, chỉ khoát bên ngoài cái vỏ đạo mạo, lợi dụng lòng tín ngưỡng của bá tánh.

         Tóm lại, bởi các lý do kể trên, nên Đức Giáo Chủ đề tên tác giả cho quyển Khuyến Thiện“Vô Danh Cư Sĩ”.

 

NỘI DUNG :

         Trước hết Đức Thầy xác định hạnh tu của Ngài và cả môn đồ. Kế tiếp, Ngài kể sơ lược lịch sử của Đức Phật Thích Ca; rồi Ngài phân tách tám nỗi khổnăm điều uế trược của mỗi chúng sanh trong cõi Ta-bà với tám điều vui cùng mọi sự thanh khiết ở cõi Cực lạc của Đức Phật A Di Đà. Để rồi Ngài khuyến khích mọi người nên trì hành môn Tịnh Độ, hầu được vãng sanh về đó. Tiếp theo là Ngài dạy hành giả chừa mười điều ác và tu mười điều lành. Sau rốt là một bài Kệ Giảng tổng quát về sự tu đúng theo tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân” của Ngài đã đề vạch.

 

BỐ CỤC :

         Toàn quyển Khuyến Thiện gồm có 3 phần chánh và nhiều tiểu đoạn:

         I- Phần nhứt, cũng là phần khai đề: Đức Thầy cho biết về hình thức hành đạo của Ngài và hầu hết môn đồ rất bình thường giản dị; không xuất gia bằng hình tướng mà chỉ chú trọng về nội tâm. Tuy vừa làm ăn vừa tu, nhưng không nghiêng nặng về vật chất phù hoa, lúc nào cũng giữ lòng thanh tịnh sống theo chánh nghiệp:“Cư trần bất nhiễm, lẩn tục đừng mê, từ câu 1:“Băng tâm ngẫu hứng thừa nhàn,” tới câu 8:“Thân tuy còn tục tâm lìa cõi mê”.

         II- Phần hai, cũng là phần chánh đề: Ngài nói lên chí nguyện cao cả là đem lòng Từ bi Giác ngộ ban rải khắp nơi khuyến hóa chúng sanh sớm thoát ly cảnh tục. Kế tiếp, Ngài lược kể lịch sử Đức Phật Tổ và khai triển pháp tu Tịnh Độ (niệm Phật làm lành). Mỗi hành giả phải có đủ “Tín, Nguyện, Hành” và nhận rõ Tám điều khổ ở cõi Ta Bà và Tám điều vui ở cõi Cực Lạc, để vừa lo niệm Phật, vừa xa tránh mười điều ác và tu mười điều lành, để được trọn lành trọn sáng, vãng sanh Cực Lạc. Từ câu 9:“Chí toan gieo giống Bồ Đề,” tới câu 768:“Rán trau đức hạnh ngày sau sẽ tường”.

         III- Phần ba, cũng là phần kết: Đức Thầy khuyến khích tín đồ đã quy Phật tu hành tất phải trau giồi hạnh đức cho tinh minh. Kết quả chẳng những cứu mình mà còn độ được Cửu Huyền Thất Tổ thoát nẻo luân hồi. Cuối cùng là một bài thi khoán thủ đề danh cho bút hiệu và thố lộ sự chứng đạt tâm ấn với pháp môn Thiền Tịnh song tu của Ngài. Từ câu 679:“Ngôn từ Đạo hạnh ý Thầy khuyên,”tới câu:“Sĩ xuất văn từ dốc dạy khuyên”.

 

CHỦ ĐÍCH :

         Chủ yếu của quyển Năm (Khuyến Thiện) là Đức Giáo Chủ giải rõ nguyên nhân phát xuất Đạo Phật và khai triển Pháp môn Tịnh Độ (tha lực cứu cánh). Tịnh Độ một pháp tu rất thích hợp với mọi tầng lớp chúng sanh, dễ hành và dễ chứng đắc.

 

 

*****