Chú giải từ câu 205 - 476 (Quyển II)

                                CHÁNH VĂN

205.  Ghét những kẻ có ăn bỏn-sẻn,

  Thương những người đói rách lương hiền.

          Muốn tu-hành thì phải cần-chuyên,

208.  Tưởng nhớ Phật chớ nên sái buổi,

          Kẻ phú-quí đừng vong cơm nguội.

          Sau đói lòng chẳng có mà dùng. 

          Ta yêu đời than-thở chẳng cùng,

212.  Mà bá-tánh chẳng theo học hỏi.

          A-Di-Đà nhìn xem khắp cõi,

    Đặng trông chờ mong-mỏi chúng-sanh.

          Hiện hào-quang ngũ sắc hiền lành,

216.  Đặng tìm kiếm những người hiền-đức.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 205 tới câu 216) :

        -Thói thường người giàu sang mà bón rít thì ai trông vào cũng chán ghét. Còn kẻ ăn ở hiền lành tốt đẹp, dù nghèo khó ai thấy cũng mến thương. Đức Giáo Chủ khuyên trong sanh chúng, nếu ai muốn tu hành thì lòng phải chuyên cần, tinh tấn, trong các thời lễ bái, niệm Phật tham thiền không nên chểnh mảng sơ sót, có thế mới mong kết quả.“Tưởng nhớ Phật như ăn cơm bữa, Vọng Cửu Huyền sớm tối mới mầu”(Kệ Dân, Q.2)

        -Ngài cũng kêu gọi những nhà giàu có, dư ăn, dư để đừng phụ bỏ cơm thừa mà nên dành cho kẻ nghèo đói, tàn tật. Vì sau nầy sẽ gặp tai nạn đói khổ:“Đói với nghèo sắp đến bây giờ”. :“Cảnh vinh hoa lại quá cheo leo, Nhà giàu có sau nhiều tai ách(Kệ Dân, Q.2). Trong lúc nầy dù họ muốn có chén cơm nguội đỡ lòng, cũng chẳng biết tìm đâu ra.

        -Vì lòng quá thương xót chúng dân sắp lâm cơn đồ thán, nên Đức Thầy thở than khuyên dạy không ngừng, thế mà ít ai thức tỉnh tìm học Đạo mầu.

        -Đức Phật A Di Đà lúc nào cũng rất mong đợi chúng sanh, biết hồi tâm hướng thiện, niệm Phật làm lành. Tuy Ngài an tọa nơi Tây phương Cực Lạc, nhưng luôn dùng hào quang năm sắc soi rọi khắp cõi Ta bà, tìm thấy chúng sanh nào biết tu thân lập hạnh, chuyên tâm trì niệm danh hiệu của Ngài thì Ngài ủng hộ và tiếp dẫn chúng sanh ấy được vãng sanh về cõi Cực Lạc.

 

CHÚ THÍCH:

        BỎN SẺN: Hà tiện, rít róng, hẹp hòi với bà con chòm xóm trong việc tiền bạc. Ví dụ: người có tánh tham lam bỏn xẻn.

        LƯƠNG HIỀN: Tốt lành, người hiền lành tốt đẹp, chơn chất làm ăn. Đức Thầy có câu:

                “Kẻ lương hiền chờ giọt mưa ngâu,

             Người bạo ngược thừa cơ nguy thủ lợi”.

                                (Trao Lời Cùng Ông Táo)

        CẦN CHUYÊN: Cũng viết là chuyên cần. Có nghĩa là siêng năng, chăm chú, không xao lãng. Ví dụ: cần chuyên tu học. Ở đây ý nói hai thời công phu lễ bái, niệm Phật, xem kinh, người tu hành phải chịu khó chuyên trì cho đầy đủ, đừng để lãng xao, sơ sót. Đức Thầy từng nhắc nhở trong bài “Dặn Dò Bổn Đạo”:

                “Sớm khuya bá tánh cần chuyên,

                   Nghe lời dạy bảo cảnh Tiên dựa kề”.

        TƯỞNG NHỚ PHẬT CHỚ NÊN SÁI BUỔI: Câu nầy ý dạy sự niệm Phật, nhớ Phật trong hai thời cúng lạy, mỗi tín đồ phải thật hành cho đúng, như lời Đức Thầy dặn dò trong bài “Từ Giã Làng Nhơn Nghĩa”:

                “Sớm chiều bình đẳng chớ lơi,

              Thường hành như vậy nhớ lời đừng sai”.

        ĐỪNG VONG: Đừng quên, không nên bỏ, chẳng nên phụ bạc.

        CHẲNG CÙNG: Không dứt, không hết, còn hoài, nói chẳng cùng.

        A DI ĐÀ: (Xem lại chú thích nơi câu 30 trên)

        MONG MỎI: Ao ước, mong muốn.

        HÀO QUANG: Hào là lông; quang là sáng. Nơi chơn mày của Phật có những sợi lông trắng phóng ra ánh sáng, nên gọi là hào quang. Đây là một trong 32 tướng hảo của Phật. Đức Thầy bảo:

                “Mắt nhìn thấy thần thông biến hóa,

                     Đức Di Đà hiện chóa hào quang”.

                                (Xuân Hạ Tác Cuồng Thơ)

        NGŨ SẮC: Năm màu sắc: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen. Đức Thầy có viết trong bài Nang Thơ Cẩm Tú:“Vừng mây lành ngũ sắc hào quang”.

 

                                CHÁNH VĂN

217.  Kẻ tâm-trí mau mau tỉnh-thức,

          Kiếm Đạo-mầu đặng có hưởng nhờ. 

     Chốn hồng-trần nhiều cảnh nhuốc-nhơ,

220.  Rán hiểu rõ huyền-cơ mà tránh.

          Chốn tửu-điếm ta nên xa lánh,

          Tứ-đổ-tường đừng có nhiễm vào.

          Người tránh xa mới gọi trí cao,

224.  Sa bốn vách mang điều nhơ-nhuốc.

          Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc,

          Đức Di-Đà truyền mở Đạo lành.

          Bởi vì Ngài thương xót chúng-sanh,

228.  Ra sắc lịnh bảo Ta truyền dạy.

          Nên khổ-lao Khùng không có nại,

          Miễn cho đời hiểu đặng Đạo-mầu.

          Ai muốn tầm Đạo cả cao sâu,

232.    Thì hãy dẹp tánh tình ích-kỷ.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 217 tới câu 232) :

        -Đức Thầy kêu gọi, ai là người hữu tâm hữu trí, nên sớm thức tỉnh tìm lẽ diệu mầu trong Đạo pháp mà thật hành theo, để sau nầy được hưởng điều cao quí. Cảnh trần đầy dẫy sự nhớp nhơ, mọi người nên khôn ngoan sáng suốt mà xa lánh. Nhứt là đừng để đắm nhiễm vào bốn vách: tửu, sắc, tài, khí. Vì nơi ấy làm cho con người phải hư thân mất nết, đọa lạc trần mê, xã hội chán chê ruồng bỏ.

        -Vậy ai là người tỉnh tâm tu niệm thì đây là dịp may ít có:“Xưa nay không có mấy khi, Dương trần có Phật vậy thì xuống đây.(Sấm Giảng Q.1) Bởi Đức Phật A Di Đà quá thương xót chúng sanh, nên truyền lịnh cho Đức Thầy khai hóa Đạo mầu.

        -Do đó, trên con đường giáo độ nhân sanh, dù gặp nhiều gian lao thử thách, Ngài cũng chẳng nao núng ngại ngùng miễn sao cho người đời hiểu biết Đạo mầu là thỏa nguyện. Và Ngài luôn khuyến tấn: Ai muốn thấu đạt lý diệu huyền trong Đạo pháp, trước tiên phải diệt lòng vị kỷ tham lam, đường tu mới mau thành đạt mục đích.

 

CHÚ THÍCH :

        TÂM TRÍ: (Xem lại chú thích tại tr.154 Tập 1/3).

        ĐẠO MẦU: (Xem lại chú thích tại tr.280 Tập 1/3).

        NHUỐC NHƠ: Dơ xấu, nhục nhã.

        HUYỀN CƠ: (Xem  lại chú thích tại tr.40 Tập 1/3)

        TỬU ĐIẾM: Uống rượu và đàng điếm, hai trong “Tứ đổ tường”. Đức Thầy từng dạy:

                “Người tu phải lánh hơi men,

             Đừng ham sắc lịch lắm phen lụy mình”.(SG-Q.3)

        TỨ ĐỔ TƯỜNG: Bốn việc tệ hại giữa bốn bức tường:“Tửu, Sắc, Tài, Khí”.

        1- Tửu là thích uống rượu. Trong rượu có chất men, đủ năm thứ vị: chua, cay, đắng, mặn, ngọt nên ai uống vào đều bị nhiễm ghiền, nóng nảy, say sưa thường sanh ra 10 điều lỗi:

             1./ Sắc diện khác thường.

             2./ Cử chỉ chẳng ra gì.

             3./ Mắt thấy không tỏ.

             4./ Hiện ra tuồng giận dữ.

             5./ Phá hại sản nghiệp, không lấy gì nuôi sống.

             6./ Hay sanh bịnh hoạn.

             7./ Gây thêm sự kiện cáo.

             8./ Danh xấu đồn khắp.

             9./ Trí huệ hao kém.

            10./ Chết bị đọa vào ba đường ác.

        Đức Thầy từng răn cấm:“Uống rượu : Phải cữ tuyệt; nhưng khi có tiệc lễ với người ngoài và không phải nhằm ngày chay lạt, có thể dùng một đôi chút rượu thật nhẹ, để đừng có tỏ sự chia rẽ với người ngoại Đạo. Nếu say sưa sẽ phải tội lỗi(Những điều phải tránh hẳn, hoặc được châm chế, hoặc nên làm - tr.205 SGTVTB 2004 ).

        2- Sắc là chơi bời theo đàng điếm. Những kẻ đắm mê sắc lịch, nếu là thường dân thì thân mau tàn tạ, trí hóa lu mờ, nhà tan cửa nát; hạng vua quan thì mất nước, danh thể nhuốc nhơ như “Trụ, Kiệt”…Còn người tu hành nếu không diệt được lòng tham sắc thì bị tiêu tan giới đức, dù Tiên cũng phải hườn tục, như Uất Đầu Lâm Phất.v.v…

        3- Tài là ham tiền của, cờ bạc. Người sa vào vách nầy, hay sanh ra trộm cướp, đàng điếm, bị xã hội ruồng bỏ. Tục ngữ thường nói:“Cờ bạc là bá thằng bần, Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm”. Đức Thầy đã bảo:“Cờ Bạc: Phải cữ tuyệt; những kẻ cờ bạc muốn vào Đạo, phải thệ nguyện bỏ cờ bạc rồi mới được nhìn nhận. Về sự nầy chẳng có cuộc vui nào có thể châm chế đặng”.(Những điều phải tránh hẳn, hoặc được châm chế, hoặc nên làm – tr.205 SGTVTB 2004).

        4- Khí là hơi thuốc phiện (nha phiến, a phiến)…Kẻ

hút thuốc phiện thì thân hình ngày càng gầy ốm, bạc nhược; ngày đêm xoay quanh bàn hút, nhả khói phun mây, không còn biết đến việc gì nữa, nên bao nhiêu tiền của ruộng vườn đều tiêu sạch. Người xưa từng cảnh giác:“Có ăn, ăn điếu thuốc lào, Đừng ăn a phiến ai nào có ưa”.

        Đức Thầy nay đã cấm tín đồ:“Thuốc phiện: Phải cữ tuyệt; không được hút một điếu nào hết. Những kẻ hút muốn vào Đạo phải bỏ hút rồi mới được nhìn nhận. Trừ ra những người đau mà thầy thuốc bảo phải dùng một chút ít hợp với các vị thuốc khác, mới có thể châm chế đặng.(Những điều phải tránh hẳn, …tr.205 SGTVTB 2004).

        Tóm lại, về “Tứ đổ tường”, Đức Thầy đã răn cấm các tín đồ:“Điều thứ nhứt: Ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm, phải giữ cho tròn luân lý tam cang ngũ thường.(Tám Điều Răn Cấm - tr.214 SGTVTB 2004).

        SA BỐN VÁCH: Rơi vào bốn điều tai hại “Tứ đổ tường”: Rượu thịt, sắc đẹp, cờ bạc, hút thuốc phiện.

        ĐẠO LÀNH: Đạo từ thiện, đây chỉ Đạo Phật. Bởi chủ yếu của Đạo Phật là dạy tín đồ phải:“Làm hết các việc từ thiện - Tránh tất cả điều độc ác - Quyết rửa tấm lòng cho trong sạch(bài Phật Là Gì ?) để đạt đến mức giải thoát. Trong bài “Cảm Tác”, Đức Thầy có viết:“Đạo lành mở cửa nơi miền Nam bang”.

        ĐẠO CẢ: Đạo lớn, nghĩa của chữ Đại Đạo (xem tr.48  Tập 1/3, đoạn 4 bài Sứ Mạng).

        ÍCH KỶ: Chỉ biết có lợi riêng cho mình, chỉ nghĩ đến mình, ai sao mặc kệ.

 

                                 CHÁNH VĂN

233.  Mau trở lại đừng theo tà-quỉ,

          Tham, Sân, Si chớ để trong lòng.

          Phải giữ lòng cho được sạch-trong,

236.  Mới thoát khỏi trong vòng bịnh khổ.

          Lớp đau chết kể thôi vô số,

          Thêm tà-ma yêu-quái chật đường. 

    Chốn hồng-trần nhiều nỗi thảm-thương,

240.  Làm sao cứu những người hung-ác.

          Khắp thế-giới cửa nhà tan-nát,

          Cùng xóm làng thưa-thớt quạnh-hiu.

          Bấy lâu nay nuôi duỡng chắt-chiu,

244.  Nay tận-diệt lập đời trở lại.

          Khắp lê-thứ biến vi thương-hải,

   Dùng phép-mầu lập lại Thượng-Ngươn. 

          Việc Thiên-Cơ Khùng tỏ hết trơn,

248.  Cho trần-hạ tường nơi lao-lý.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 233 tới câu 248) :

        -Đức Thầy kêu gọi những ai chạy theo tà đạo (mê tín dị đoan), sớm trở lại con đường chánh giáo.Vì:“Những hạng ăn đồ cúng kiếng mà làm hết bịnh là tà thần; nếu ta cúng kiếng mãi thì chúng ăn quen sẽ nhiễu hại ta”.(Tám Điều Răn Cấm/ Điều Thứ Năm).Còn lòng tham, sân, si của mỗi người, chính nó là thứ tà quỉ của nội tâm:“Tà kiến tam độc thật Ma Vương”(Pháp Bửu Đàn Kinh). Hễ tham sân si càng tăng thì bịnh khổ càng nhiều và hột giống trí tuệ càng bị vùi lấp. Cho nên Đức Thầy khuyên người tu cần diệt trừ tận gốc, ba món phiền não căn bản ấy, tức lòng mình được thanh tịnh, huệ mạng sáng suốt, vững vàng và khỏi nỗi khổ do tham, sân, si khuấy động.

        Ngài còn cho biết, sắp tới đây: nào cảnh ốm đau chết chóc, nào tà quái cả âm lẫn dương nhiễu hại khắp lê dân. Bởi:

                “Thời kỳ nầy nhiều quỉ cùng ma,

                     Trời mở cửa Quỉ Vương xuống thế”.

                                (Giác Mê Tâm Kệ, Q.4)

        Thảm thương cho kẻ hung ác, phải gặp nhiều khổ nạn, dù Phật Tiên có đầy lòng từ bi, nhưng cũng không sao cứu được. Lại nữa, cơ Trời tiêu diệt buổi Hạ ngươn bắt đầu diễn tiến: trước nhất là cảnh chiến tranh chết chóc xảy ra, làm xóm làng thưa thớt, tài vật tiêu hao; kế đó là nạn đói đau tiếp diễn, khiến cả nhân loại, đều chịu cảnh lầm than thống khổ. Trong “Giác Mê Tâm Kệ, Q4”, Đức Thầy nói rõ:

                “Khổ với thảm ngày nay có mấy,

                     Sợ mai sau dòm thấy bay hồn.

                     Trừ tà gian còn thiện chỉ tồn,

                   Cảnh sông máu núi xương tha thiết”.

        Và rồi đây cuộc diện sẽ xảy ra:

                “Ngọn thủy triều nô nức sục sôi,

                    Bầu trái đất một phen luân chuyển”.

                                        (Nang Thơ Cẩm Tú)

        Hoặc là:

                “Ôi ! Khổ thảm bốn bề sóng dậy,

                     Dòm lưng trời lửa cháy liên miên.

                            Tiêu điều sản vật điền viên,

    Thần thông biến hóa dưới miền Trung Ương”.

                                        (Đến Làng Nhơn Nghĩa)

        -Sở dĩ có thảm cảnh như vậy là do định luật trả vay của nhân và quả. Đó là do phép mầu của trời đất, dùng rửa sạch những phần tử xấu xa, tội ác trong thời hạ mạt, lập lại cảnh đời Thượng ngươn Thánh đức. Tất cả huyền cơ của tạo hóa, Đức Giáo Chủ đã nói hết cho thế trần được rõ những đau thương thống khổ, hầu sớm cải ác tùng thiện.

 

CHÚ THÍCH :

        TÀ QUỈ: Tà ma quỉ quái. Đây chỉ cho các tà đạo thường bày ra sát hại sanh vật cúng tế quỉ thần ma quái, để cầu cho hết bịnh, nhưng bịnh đã không hết dứt mà trong gia đình lại thường bị đau ốm liên miên, nên Đức Thầy từng kêu gọi (trong Sấm Giảng,Q3):

                “Đừng theo lũ quỉ lũ ma,

              Cúng kiếng nó mà nó phải ăn quen”.

        THAM, SÂN, SI: Là ba điều ác của ý nghiệp, là ba món phiền não trong “ngũ độn sử”(tham, sân, si, mạn, nghi). Cũng gọi nó là “tam độc” (ba điều độc hại):

        -Tham: là lòng ham muốn quá độ, nó thường sanh ra chiến tranh, giết hại và trộm cướp.v.v…

        -Sân: là tánh nóng giận, hay sanh gây gổ, cấu xé, hận thù.

        -Si: là mê muội tà kiến, không phân biệt được lẽ tội phước, hư nên, tốt xấu; không nhận đâu là chân lý. Tham Sân Si là nguồn gốc sanh ra muôn ngàn tội lỗi khác, Đức Thầy thường răn dạy (Giác Mê Tâm Kệ, Q4):

                “Chữ Tham trong ý muốn mặc tình,

                     Rán định tánh trừ cho nó tuyệt.

                     Chữ gây gổ là Sân hãy diệt,

                   Cho nó đừng thấp thoáng trong lòng.

                     Thêm chữ Si thiệt quá lòng dòng,

                     Nên tỉnh trí tìm nơi dụt tắt”.

        THẢM THƯƠNG: Đau đớn thương xót.

        CHẮT CHIU: cũng gọi là chít chiu, có nghĩa là đùm bọc, dắt dìu. Cổ thi có câu:

                “Chắt chiu trong trứng mới nở ra,

                  Diều đâu bay lại sớt con gà”.(Thân Gà)

        Hoặc là:“Mẹ gà, con vịt chắt chiu”.(Ca dao)

        TẬN DIỆT: Dứt hết, tiêu diệt hết; cơ tận diệt, đời tận diệt.

        BIẾN VI THƯƠNG HẢI: Do câu “Tang điền biến vi thương hải”, hoặc “Thương hải biến vi tang điền”. Có nghĩa là ruộng dâu hóa ra biển xanh, biển xanh trở thành ruộng dâu. Tục truyền trong trời đất, cứ 500 năm có biến đổi một lần. Do tích Tiên nữ Ma Cô: Bà thấy ba lần biển xanh hóa ra ruộng dâu…Đây ý nói sự biến đổi từ cảnh đời Hạ ngươn ra Thượng ngươn, theo luật “Châu nhi phục thỉ”.

        THƯỢNG NGƯƠN: Ngươn đầu tiên (Xem thêm Chú thích chữ Hạ ngươn tại tr.51 Tập 1/3).

        THIÊN CƠ: (Xem chú thích tại tr.64 Tập 1/3).

        LAO LÝ: Nhà ngục. Ý nói bị giam hãm trong tù ngục, rất buồn thương khổ sở. Ví dụ: Mắc vòng lao lý.

 

                                  CHÁNH VĂN

249.  Lão nào có bày điều ma-mị,

          Mà gạt-lường bổn-đạo chúng-sanh.

     Đức Minh-Vương ngự chốn Nam-Thành,

               Đặng phân xử những người bội nghĩa.

          Trung với hiếu ta nên trau-trỉa,

          Hiền với lương bổn-đạo rèn lòng.

     Thường nguyện-cầu siêu-độ Tổ-Tông,

256.  Với bá-tánh vạn dân vô sự.

          Đời Ngươn-Hạ nhiều người hung-dữ,

          Nên xảy ra lắm sự tai-ương.

          Đức Di-Đà xem thấy xót-thương,

260.  Sai chư Phật xuống miền dương-thế.

          Tu kíp kíp nếu không quá trễ,

          Chừng đối đầu khó kiếm Điên Khùng.

     Cứu lương-hiền chẳng cứu người hung,

264.  Kẻ gian-ác đến sau tiêu-diệt. 

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 249 tới câu 264) :

        -Đoạn nầy ý nói Đức Thầy chẳng hề mị dối để lừa gạt tín đồ và bá tánh mà lúc nào Ngài cũng tỏ thật cho mọi người được biết: sau nầy sẽ có Đức Thánh Vương ngự tại Hoàng thành Việt Nam để phân xử những người vong ân bội nghĩa:

                “Trên vua minh chánh cầm cân,

           Dưới quan liêm tiết xử phân công bình”.

(Hoài Cổ)

        -Cho nên Ngài khuyên vạn dân phải vẹn gìn trung hiếu, vì đó là hai điều trong “Tứ Đại Trọng Ân”:“Hiếu trung phải liệu cho xong, Đến chừng gặp chúa mới mong trở về” (Sám Giảng Q.3). Đồng thời lo rèn tập thân tâm được trở nên hiền từ thanh khiết và luôn tu cầu cho Cửu huyền Thất tổ đặng siêu thăng, cả vạn dân đều an cư lạc nghiệp, sớm tỉnh ngộ tu hành.

        -Bởi chúng sanh thời mạt hạ quá hung tàn bạo ác, nên có tai biến hãi hùng xảy đến. Đức Di Đà xót thương cho bá tánh gặp hồi tai họa nên sắc lịnh cho Đức Thầy theo chư Phật  lâm phàm khai Đạo cứu dân. Ngài truyền dạy mỗi người gấp rút tu hành, để kịp thời thoát khỏi “Nếu để trễ chầy e chẳng kịp”(Để Chơn Đất Bắc). Và:“ Để chừng đến việc kiếm Thầy khó ra”(Sám Giảng, Q.3).

        -Căn cứ luật công bằng của tạo hóa thì hiền còn dữ mất. Trong cuộc tẩy trần tới đây, chỉ có người lương thiện, mới được sống còn tới ngày Thượng ngươn an lạc, còn những phần tử ác hung tất phải bị luật đào thải diệt vong.

 

CHÚ THÍCH :

        MA MỊ: Dua mị dối trá.

        NAM THÀNH: Thành trì nước Việt Nam.

        BỘI NGHĨA: bội bạc (bội ơn, bạc nghĩa), không nhớ ơn nghĩa. Đức Thầy có câu:“Gẫm nhiều người bội bạc thâm ân”(Khuyến Thiện Q.5)

        TRUNG VỚI HIẾU: (Xem chú thích chữ “Thảo cha ngay chúa” tại tr.166 Tập 1/3).

        TRAU TRỈA: Cũng đọc là trau tria. Có nghĩa tu sửa, giồi chuốt; ý chỉ người hành đạo cần trau sửa bào chuốt cho thân tâm được hoàn toàn tốt lành. Đức Thầy từng dạy:“Mau mau trau trỉa chữ lành cho xong”.(Thiên Lý Ca)

        Và:   “Trau tria nhục thể về nơi cũ,

                     Chùi rửa tim gan một tấc lòng”.

                                (Cho Một Vị Sơ Tâm)

        SIÊU ĐỘ TỔ TÔNG: Siêu độ là cứu lên cho khỏi. Cũng gọi là độ thoát. Tổ tông là Ông bà dòng họ (Cửu huyền Thất tổ)… Ý nói người tu cần lo trau thân hành đạo, bố thí trì chay để hồi hướng công đức, cầu nguyện cho tổ tiên dòng họ được siêu thăng Tịnh độ, thoát khỏi sự khổ não trong luân hồi lục đạo. Đức Thầy dạy tín đồ hằng nguyện:

                        “Nguyện đem công quả tu hành,

                Cứu trong Tông Tổ vãng sanh liên đài.

                   Về Phật quốc ngày ngày an lạc,

                   Cả giống dòng giải thoát luân trầm”.

                  (Bài Nguyện Trước Bàn Thờ Cửu Huyền)

        TAI ƯƠNG: Tai họa lớn. Đức Thầy có câu:

               “Nếu chẳng nghe hồn vướng tai ương,

                     Chừng ấy mới kêu mời khó rước”.

                                        (Khuyến Thiện, Q.5)

        KÍP KÍP: Gấp gấp, ý khuyên việc gì cần làm mau, làm gấp mới kịp. Đức Thầy từng khuyên:“Đời cùng tu gấp kịp thì, Đặng xem báu ngọc ly kỳ năm non.(Sám Giảng, Q.3).

        ĐỐI ĐẦU: (Xem lại chú thích tại tr.123 Tập 1/3)

        GIAN ÁC: Gian trá và hung ác: phường gian ác. Đức Thầy thường cảnh tỉnh:

           “Thương đời văn vật say mê,

        Làm điều gian ác thảm thê sau nầy”(Sám Giảng, Q.3).

        TIÊU DIỆT: Diệt hết, làm tan mất cả, không để sót lại.

 

                                 CHÁNH VĂN

265.  Nay trở lại như đời Trụ-Kiệt,

          Hãy tu nhơn chớ có tranh-giành.

          Tuy nghèo hèn mà chí cao-thanh,

268.  Được hồi-phục nhờ ơn chư Phật. 

          Hãy thương-xót những người tàn-tật,

          Thấy nghèo hèn chớ khá khinh cười.

          Trên Năm-Non rồng phụng tốt-tươi,

272.  Miền Bảy-Núi mà sau báu-quí.

          Mặc trai gái trẻ già có nghĩ,

          Thì khoan cười tôi rất cám ơn.

          Khùng ra đời truyền dạy thiệt hơn,

276.  Chư bổn-đạo chớ nên khinh rẻ.

          Nay Khùng đã hết già hoá trẻ,

          Nên giữa đồng bỗng lại có sông.

          Ở Tây-Phương chư Phật ngóng trông,

280.  Chờ bá-tánh rủ nhau niệm Phật.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 265 tới câu 280) :

-Thế cuộc hiện nay, chẳng khác thời Kiệt Trụ khi xưa, tình trạng Vua bất minh, tôi bất trung:“Loạn luân cang kỷ bất từ bất lương”(Bài Cảm Tác) khiến chúng dân gánh chịu cảnh lầm than cơ cực. Đức Thầy kêu gọi mọi người nên mở rộng lòng nhơn bố thí cho những ai nghèo đói tàn tật. Đồng thời diệt bỏ tánh tham lam giành giựt. Tuy sống trong cảnh nghèo hèn, nhưng hãy rán giữ lòng trong sạch cao khiết, tất có ngày chư Phật sẽ hộ trì cho phục hồi cựu vị Phật Tiên.

        -Ngài còn cho biết tại miền “Năm Non Bảy Núi”, tuy hiện giờ thấy toàn là cây đá âm u, nhưng sau nầy sẽ có cảnh vui tươi quí báu:“Rừng lâm cây đá thấy ngày nay, Mà ruột năm non có các đài( Đến Làng Nhơn Nghĩa).

        -Vì lòng quá thương xót chúng dân, nên Ngài kể hết sự tình, mặc cho nam nữ trẻ già có tin hay không tùy ý, chớ không nên khi dể nhạo chê làm chi cho vương nghiệp tội.

        -Thời gian trước Đức Thầy giáo dân với xác thân là một ông Lão, nhưng Ngài chuyển kiếp khai Đạo kỳ nầy, với một thể xác trẻ trung. Nguồn giáo pháp của Ngài thuyết ra ví như con sông thông ra biển cả. Nếu ai biết nương theo đó mà tiến hành và chuyên tâm làm lành niệm Phật, tất được giải thoát an vui. Vì bên cõi Tây phương Cực Lạc Đức A Di Đà cùng chư Bồ Tát rất mong đợi khắp bá tánh đồng tâm niệm Phật để được các Ngài tiếp dẫn vãng sanh về cảnh giới ấy.

 

CHÚ THÍCH :

        TRỤ: (Xem lại chú thích tại tr.172 Tập 1/3).

        KIỆT: (Xem lại chú thích nơi câu 121 trên).

        CAO THANH: Cũng đọc là thanh cao. Có nghĩa cao thượng và thanh nhã, trong sạch. Truyện Kiều có câu:“Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Đức Thầy cũng dạy:

             “Thường trau giồi chí hướng cao thanh,

                     Cho khỏi thẹn con lành Phật giáo”.

        HỒI PHỤC: Khôi phục lại như cũ. Ý nói cái  đã bị mất mát, sai lạc hay bịnh hoạn mà nay được hồi phục trở lại.

        NĂM NON: Năm cái chỏm cao (vồ) trên núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn), gồm có:

1-    Vồ Bò Hong: vì khi xưa, ít người lai vãng nên giống bò hong sanh sản nhiều vô số ở tại vồ nầy. Cao 716 thước, ở về hướng Tây.

2-    Vồ Đầu: phải chăng vì cái vồ đầu tiên mà người ta gặp được khi lên núi do ngã chợ Thum Chưng. Cao 584 thước ở về hướng Tây Bắc.

3-    Vồ Bà hay Phnom Barech: vì ở đây có một cái điện thờ Bà Chúa Xứ. Cao 579 thước, ở về hướng Nam.

4-    Vồ Ông Bướm: vì khi xưa Ông Bướm và Ông Vôi, vốn người Miên, tướng lĩnh của Cố Quản Trần Văn Thành, tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương. Sau về ẩn náu tu hành ở nơi đây và được chứng đạo.

5-    Vồ Thiên Tuế hay Phnom Prapéal: Vì ở đây có nhiều cây thiên tuế. Cao 514 thước ở về hướng Đông.(theo quyển Thất Sơn Mầu Nhiệm của Nguyễn Văn Hầu).

        BẢY NÚI: (Xem lại chú thích tại tr.106 Tập 1/3).

NAY KHÙNG ĐÃ HẾT GIÀ HÓA TRẺ: Đức Thầy đã nhiều lần chuyển kiếp độ đời, từ xác già chuyển sanh lại xác trẻ, bởi Ngài:“Thương hồng trần mượn xác tái sanh(Bài Diệu Pháp Quang Minh).

        Như từ Phật Thầy Tây An chuyển sanh lại Đức Huỳnh Giáo Chủ:

                “Tạo xác Huỳnh danh thanh sắc trẻ,

                  Chờ thời Thiên định thiết hùng ca”.

                          (Hai Mươi Chín Tháng Chạp)

        (Câu giảng trên còn có ý nghiã đúng theo lời tiên tri của Đức Phật Thầy: Năm 1856, Đức Phật Thầy Tây An cùng các đệ tử đứng trước thềm chùa Tây An núi Sam, nhìn xuống đồng Láng Linh, nhằm mùa nước lớn mênh mông như biển, Ngài nói:  Chừng nào giữa đồng Láng Linh nầy có con sông thì ta sẽ trở lại độ đời với hình thể trẻ trung hơn bây giờ”. Đến năm 1939, người Pháp cho xáng múc con Kinh Vịnh Tre xuyên qua đồng Láng Linh. Và cũng trong năm 1939 ấy, Đức Huỳnh Giáo Chủ ra đời khai sáng PGHH. Nên biết Đức Phật Thầy tiên tri lời nầy năm 1856 lúc Ngài 50 tuổi; 83 năm sau, Đức Giáo Chủ PGHH ra đời mới 20 tuổi. Cho nên sự việc nầy cũng rất ứng với các câu giảng kể trên).

        NÊN GIỮA ĐỒNG BỖNG LẠI CÓ SÔNG: Phàm những người ở giữa đồng khô, thường bị thiếu nước xài và cũng chẳng có sông rạch, để thông ra biển cả. Bỗng nhiên lại được con sông đào đến, thật là điều may mắn ít có. Ý nói chúng sanh sống thời mạt pháp cảnh khổ bao trùm, rất khao khát trông đợi người cứu tinh, bỗng được Đức Thầy khai nguồn Đạo pháp, thì có chi vinh hạnh cho bằng.

        Con đường Đạo lý của Ngài vạch ra ví như dòng sông, giúp cho chúng sanh nương theo đó mà vượt ra biển cả, tức được giải thoát an vui. Như Ngài cho biết:

                “Cá to mà phải ở ao,

          Muốn ra biển rộng phải nhào kiếm sông.

                   Một mai dạo được Tây Đông,

            Khắp trong thế giới thỏa lòng ước ao”.

        TÂY PHƯƠNG: Cảnh Phật, tức cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.

        NIỆM PHẬT: Trì niệm lục tự Di Đà. Tức chỉ người tu theo Pháp môn Tịnh độ để được vãng sanh về cõi Tây phương Cực lạc. Bởi Đức Phật A Di Đà có nguyện:“Nếu chúng sanh nào xưng danh hiệu Ta (niệm Phật) thì chắc sanh về nước Ta, nếu không y lời thì ta chẳng thể làm Phật”. Đức Thầy nay cũng xác định:

                “Ao sen báu Tây phương đua nở,

                   Chờ chúng sanh niệm Phật chí tâm”.

                                (Khuyến Thiện, Q.5)

 

                                CHÁNH VĂN

281.  Làm nhơn-ái ắt tiêu bệnh-tật,

          Vậy hãy mau tầm Đạo Thích-Ca.

          Phật tại tâm chớ có đâu xa,

284.  Mà tìm kiếm ở trên Non-Núi. 

          Chúng đục-đẽo những cây với củi,

          Đắp xi-măng sơn phết đặt tên.

          Ngục A-Tỳ dựa kế một bên,

288.  Chờ những kẻ tu hành giả-dối.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 281 tới câu 288) :

        -Đức Giáo Chủ khuyên mỗi người, nên mở rộng lòng nhơn ái, đối với vạn loại chúng sanh thì ít vương mang bệnh tật. Bởi căn cứ vào luật nhân quả, hễ ai tạo nghiệp sát, hoặc đánh đập làm đau khổ chúng sanh khác thì kiếp nầy hoặc kiếp sau bị giảm thọ (bớt tuổi), đau ốm liên miên và thân hình xấu xí tàn tật. Bằng ai bố thí phóng sanh đối với người và vật thì được phúc thọ (sống lâu), ít bệnh tật, thân xác tươi đẹp. Kinh Niết Bàn có chép:“Có hai nhân duyên làm cho chẳng sanh ra bệnh khổ: Một là thương xót tất cả chúng sanh, hai là thí thuốc cứu những người có bệnh”.

        -Trên đường tu học, nếu hành giả muốn kết quả chắc chắn, trước phải tìm hiểu Đạo Phật cho chính xác. Bởi muôn ngàn phương tiện trong Giáo lý của Phật đều dạy nhà tu hãy tìm lại Phật tâm của mình:“Phải bền lòng tầm Phật trong tâm(Kệ Dân, Q.2). Muốn thế, hành giả phải dùng trí huệ diệt hết vọng tâm phiền não, tức Phật tánh hiện bày:“Trí hiền tâm đức chùi lau, Ra công lọc kỹ thì thau ra vàng(Sám Giảng, Q.3). Bằng ai tìm Phật theo những tượng cốt (thinh âm sắc tướng) hoặc núi non am cốc thì chẳng khác “người cỡi trâu lại đi tìm trâu”, tu như thế rất sai lầm mong gì kết quả.

        -Còn những kẻ tu hành giả dối, phô trương hình thức bên ngoài để lừa bịp thế gian. Chính họ đã hành sai chân lý, lại còn dẫn dắt bá tánh lầm lạc thì ắt:“Khó mong cửa Phật dựa kề, Càng gần địa ngục nhiều bề thảm thương”(Phụ Nữ Ca Diêu).

 

CHÚ THÍCH :

        NHƠN ÁI: Cũng gọi là nhân ái, tức lòng nhơn đức hay thương người mến vật, tha thứ người, thương xót hạng cơ bần và tận tâm giúp đỡ họ mọi điều ích lợi. Người có lòng nhơn ái bao giờ cũng tròn hiếu đạo với cha mẹ, kính thuận với đệ huynh, hòa hài với xóm chòm, cô bác, tôn trọng mạng sống các sanh vật, không vô tình hay cố ý làm đau đớn hoặc thiệt hại thân mạng của chúng.

        Kinh Phật bảo:“Cái lợi lớn hơn hết là ở nơi lòng nhân từ, cái phước lớn hơn hết là do tâm thanh tịnh”. Đức Thầy nay cũng từng dạy trong bài “Khuyên Người Giàu Lòng Phước Thiện:“Lòng nhơn xin khá tập rèn và trong bài“Diệu Pháp Quang Minh”:“Chí quân tử lòng nhơn vạn đại”.

        ĐẠO THÍCH CA: Đạo Phật, vì Đức Thích Ca là Giáo chủ Đạo Phật toàn cõi Ta bà. Truyện Quan Âm Thị Kính có câu:“Buồn muốn đi tu Đạo Thích Ca”.

        PHẬT TẠI TÂM CHỚ CÓ ĐÂU XA: Tâm của mỗi chúng sanh đồng một bản thể với chư Phật. Từ vô thỉ trong thể chơn như ấy, vì một tích-tắc bất giác vọng niệm sai lầm, nên bị đám mây phiền não che lấp Phật tâm. Từ đó mọi kiến thức đều do phiền não chi phối, nên ta không thể thấy được Phật tâm của mình. Cũng ví như hồ nước đang trong sạch, bỗng bị gió thổi, sóng trào, khiến cặn cáu nổi lên làm nước đục ngầu, không thể nhìn ra đâu là nước trong. Nhưng khi hết gió, sóng lặng, bùn cặn lắng chìm tận đáy, bấy giờ ta thấy hồ nước trong lành trở lại.

        Vậy trong hồ nước đục trước kia, có sẵn thể nước trong sạch. Cũng như trong tâm chúng sanh (vọng), có sẵn chơn thân (Phật), tức trong phiền não vẫn có bồ-đề, trong mê có giác. Nên người muốn tìm Phật mà cứ chạy theo hình tướng bên ngoài, hoặc tìm nơi non cao rừng thẳm là sai lầm. Bởi không có Phật nào khác hơn là bản lai thanh tịnh của chính mình.

        Kinh Niết bàn, Phật bảo:“Nhược nhơn bất tri Phật tánh giả, tắc vô trượng phu tướng giai danh nữ nhơn”(Nếu người không biết mình có tánh Phật thì người đó không phải là bậc trượng phu, chỉ gọi là nữ nhơn thôi). Đức Lục Tổ Huệ Năng cũng nói:

                “Người tu hành muốn kiếm Phật thân,

                  Nơi nào kiếm chơn thân của Phật.

                  Trong tự tánh thấy thường chơn thật,

                  Có chơn thì giống Phật mới thành.

                  Chẳng thấy tâm kiếm Phật ngoài thân,

                  Tâm vọng khởi thiệt phần si ám”.

         Đức Phật Thầy Tây An cũng dạy:

                “Lọc lừa thì được nước trong,

             Ma, Phật trong lòng lựa phải tầm đâu ?”

        Đức Thầy nay cũng đã hằng khuyên:

                “Nhàn thanh tìm kiếm, kiếm nơi tâm,

                     Phật cũ ngày xưa hãy rán tầm”.

                                (Đến Làng Nhơn Nghĩa)

        NGỤC A TỲ: Phạn ngữ là Avichi, phiên âm là A-tỳ, dịch là vô gián (không lúc nào ngừng, gián đoạn). Ngục A-tỳ là cảnh địa ngục thấp hơn hết và nguy khổ hơn hết trong tám cảnh Địa ngục lớn (Bát đại Địa ngục). Tội nhân vào đó bị trừng phạt không lúc nào ngừng nghỉ, nên có tên là ngục vô gián.

        Trong Địa Tạng kinh có giải năm nghiệp cảm chẳng gián đoạn ấy như sau:

1-    Tội nhơn vào đây, ngày đêm đều chịu sự trừng phạt, cho đến hằng số kiếp, không lúc nào gián đoạn.

2-    Nhiều người nằm trong giường ngục thì bị chật, nhưng bớt ra, chỉ còn một người cũng thấy chật như thường.

3-    Những đồ trừng trị như: gậy, côn, chim cắt, rắn, chó sói, chó thường, cối xay, cối giã, cưa xẻ, đâm, xẻo, vạc dầu, lưới sắt, dây sắt, ngựa sắt, da sống trói đầu, sắt nóng dội vào mình, đói ăn viên sắt, khát uống nước sắt, quanh năm suốt kiếp, kể vô số.

4-    Bất luận nam nữ, thổ mán mọi rợ, già trẻ sang hèn, hoặc Trời, người, quỉ, thần.v.v…Hễ ai làm ra tội gì thì mang lấy tội nấy đều phải chịu mãi như vậy.

5-    Đọa xuống Địa ngục nầy, từ khi mới vào cho đến trăm ngàn kiếp, trong một ngày một đêm muôn lần chết đi rồi sống lại, cầu xin tạm nghỉ một chút cũng không được, cứ liên tiếp như vậy mãi, trừ ra khi nào hết tội nghiệp mới được đi đầu thai.

                Cũng trong Địa Tạng Kinh còn nói rõ những người phạm tội như sau đây sẽ bị đọa vào Ngục A Tỳ:

        Kẻ bất hiếu với cha mẹ, chê bai Tam Bảo, hủy báng Kinh Pháp; làm thân Phật chảy máu; kẻ xâm lấn tổn hại nhà chùa, làm ô uế tăng ni, ở trong vòng chùa chiền làm việc dâm dục, phóng túng hoặc giết hại nhơn vật. Kẻ giả bộ thầy tu để phá đồ vật nhà chùa, lường gạt kẻ tại gia, làm trái giới luật và tạo ra nhiều tội ác; kẻ trộm cắp đồ vật của nhà chùa và chúng tăng”. Tất cả những tội phạm nói trên đều bị đọa vào Ngục A-tỳ.

 

                                 CHÁNH VĂN

289.  Khuyên sư-vãi mau mau cải-hối,

          Làm vô-vi chánh Đạo mới mầu.

          Đạo Thích-Ca nhiều nẻo cao sâu,

292.  Hãy tìm kiếm cái không mới có.

          Ngôi Tam-Bảo hãy thờ Trần-Đỏ,

          Tạo làm chi những cốt với hình.

          Khùng nói cho già trẻ làm tin,

296.  Theo Lục-Tổ chớ theo Thần-Tú.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 289 tới câu 296) :

        -Bởi thấy thời nay có số tăng ni trong các chùa tu theo sắc tướng thinh âm làm sai lạc chân truyền của Đạo Phật từ trước, nên Đức Thầy khuyên họ mau trở về với Chánh pháp vô vi:“Huyền pháp thâm trầm thơm bất tuyệt, Vô vi chánh Đạo hỡi người ôi !”(Cho Ông Tham Tá Ngà).

        Có thế mới đúng chân truyền của Đức Phật Thích Ca và mới kết quả trên đường tu Phật. Vì rằng: tất cả hình tướng màu sắc đều là hư vọng, ảo ảnh. Người tu theo sắc tướng (hữu vi), khác nào kẻ bắt bóng trong gương, mò trăng đáy nước. Kinh Thiền Môn đã nói:“Tu mà cầu hình tướng bên ngoài, tuy trải qua nhiều kiếp, rốt cuộc chẳng đặng thành công. Nếu giác ngộ trở về xem bản tánh mình, thì trong một niệm liền chứng quả Bồ đề. Cho nên hành giả phải tìm cái chơn không (chơn tâm) mới là thật có”. Đức Giáo Chủ hằng dạy:

                Chuyện cao siêu Phật pháp còn dài,

                    Khó gặp chữ không không mà có”

(Sa Đéc).

        -Do đó, về nghi thức thờ phượng, Đức Thầy không cho tín đồ tạo thêm hình cốt, hoặc tụng tán trống mõ, chuông đẩu, mà:“…nên thờ đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào sự hào nháng bề ngoài”. :“Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn nhang dùng đặng bán mùi uế trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ Ông Bà cúng món chi cũng đặng”(Xem Cách Thờ Phượng..., tr.201-202 SGTV 2004).

        -Đức Thầy hằng khuyên dạy tín đồ hãy tu theo Đức Lục Tổ Huệ Năng, tức là tu đúng theo chánh pháp vô vi của Đức Thích Ca, vì Đức Lục Tổ đã chứng thọ chân truyền, chớ không nên tu theo Thần Tú, bởi phái nầy thường bày ra sắc tướng thinh âm, làm sai lạc chân lý của Đạo Phật.

 

CHÚ THÍCH :

        SƯ VÃI: Các Tăng sư và những Ni cô đã xuất gia vào chùa tu hành.

        CẢI HỐI: Hối hận những việc đã lầm lỗi và quyết định sửa đổi lại.

        VÔ VI: Phạn ngữ Asamskrta. Dịch là Vô vi, có nghĩa: không có nhân duyên tác động, không có hình tướng màu sắc, không có bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt. Vô vi tức là chơn lý tuyệt đối, là Niết bàn, là Đạo, là Vô tướng và Thật tướng.

        Vậy làm vô vi là làm không có hình tướng về sắc mà cũng không có hình tướng về tâm. Tuy tri hành tất cả việc Đạo pháp, nhưng tâm không còn phân biệt ngã chấp, không có tướng người, tướng ta, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tất đạt đến thật tướng Niết bàn, chơn không diệu hữu.

        Đức Thầy dạy “làm vô vi mới là Chánh Đạo, và mới đúng chân truyền của Đức Thích Ca, bởi tâm ấn của Ngài là:“Chánh pháp nhãn tàng, Niết Bàn diệu tâm”, lìa cả hình tướng văn từ, ngôn ngữ, chỉ dùng tâm mà trì hành chứng đắc và dùng tâm truyền qua 33 vị tổ. Tới Đức Lục Tổ Huệ Năng cũng chỉ có một tâm ấn. Đức Thầy hiện nay cũng bảo:“ Đạo vô vi của Phật ân cần, Noi theo chí Thích Ca ngày trước”.(Giác Mê Tâm Kệ Q.4).

        Và:   “Xả thân tầm Đạo vô vi,

               Nhiệm mầu thâm diệu nan tri Lão bày”.

                                (Từ Giã Làng Nhơn Nghĩa)

        CÁI KHÔNG MỚI CÓ: Cái lý chơn không mà diệu hữu. Cái không ở đây là không có sắc tướng, bởi Đức Phật từng bảo:“Nhược dĩ sắc kiến ngã, Dĩ âm thinh cầu ngã. Thị nhân hành tà Đạo, bất năng kiến Như Lai”(Nếu dùng sắc mà thấy ta, lấy âm thinh cầu ta. Thiệt là người hành Tà đạo, chẳng bao giờ thấy được Như Lai). Hoặc là:“Phàm hữu sở tướng, giai thị hư vọng; nhược kiến chư tướng, phi tướng, tức kiến Như Lai”(Các pháp tướng đều là không thật, đều là ảo mộng. Bằng thấy các tướng mà chẳng chấp tướng tức thấy được Như Lai).

        Vậy hành giả nếu không còn thiên chấp theo sắc tướng tức chứng được “cái không”, tức là chơn không, cũng gọi là Tạng Tánh Như Lai. Nhưng không mà chẳng không, nên gọi là có. Bởi trong cái chơn không thanh tịnh ấy vốn có diệu dụng sáng mầu, chẳng thể nghĩ bàn được, nên gọi “không mà có”. Như Đức Thầy từng bảo trong Giác Mê Tâm Kệ, Q.4:“Vô pháp tướng mới là thiệt tướng”. Hoặc là:

                “Tìm tõi Đạo mầu trong Phật pháp,

                     Cho đời hiểu rõ lý chơn không”.

                                (Khuyên Bỏ Dị Đoan)

        TAM BẢO: Phạn ngữ Triratna, dịch là Tam Bảo. Có nghĩa ba ngôi quí báu : Phật, Pháp, Tăng.

1-    Phật là đấng toàn thiện toàn giác “bác ái vô cùng, quyết cứu vớt sanh linh ra khỏi vòng trầm luân khổ hải”. (Ân Tam Bảo)

2-    Pháp là lời của Phật thuyết ra để giáo hóa chúng sanh, về sau các Đại đệ tử kết tập lại thành Tam tạng: Kinh, Luật, Luận. Người tu nhờ trì hành theo đó mà đắc thành Đạo quả.

3-    Tăng là các Đại đệ tử của Phật, bậc giới hạnh tinh nghiêm, liễu ngộ Phật pháp và vâng ý Phật mà giáo hóa chúng sanh.

        Lúc Đức Phật Thích ca còn trụ thế, chính Ngài là Phật bảo. Lần đầu tiên Ngài đến rừng Lộc Giả thuyết pháp Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo cho năm anh em Kiều Trần Như nghe, đó là Pháp Bảo. Năm vị ấy khi nghe xong đều tỏ ngộ chứng quả A La Hán, ấy gọi là Tăng Bảo. Rồi từ đó Phật pháp truyền dạy lan rộng thêm vô số Pháp bảo và Tăng bảo.

        Còn luận giải theo lý tánh thì tự tâm mình giác ngộ là Phật Bảo, tự tâm mình chơn chánh là Pháp Bảo, tự tâm mình thanh tịnh là Tăng Bảo.

        Ngôi Tam Bảo mà Đức Thầy đề cập ở đây là chỉ cho Bàn thờ Phật tại mỗi gia đình của mỗi tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.

        TRẦN ĐỎ: Bức trần màu đỏ thờ trên ngôi Tam Bảo để biểu hiện tinh thần từ bi của Phật. Đó là lúc Đức Thầy mới khai Đạo, nhưng sau đó 8 tháng Ngài cho đổi lại màu dà. Về ý nghĩa và lý do thay đổi, Ngài có nói rõ trong một đoạn văn như sau:

        “Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của Đức Phật Thầy Tây An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng Tông phái với chúng ta, làm sái phép, sái với Tôn chỉ của Đức Phật, nên toàn thể trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các Sư dùng màu dà để biểu hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại, không phân biệt chủng tộc và cá nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng để tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật(Xem Cách Thờ Phượng,… tr.201 SGTVTB 2004).      

        LỤC TỔ: (638-713). Ngài là vị tổ đã được thọ truyền tâm ấn của Đạo Phật. Kể từ Sơ tổ Ca Diếp truyền dẫn đến Ngài là Tổ thứ 33, song kể riêng bên Trung Hoa, từ Đạt Ma Tổ sư thì Ngài là tổ thứ sáu (Lục Tổ).

        Lục Tổ tên thật là Huệ Năng, họ Lư, đạo hiệu là Phụ Trung Cư sĩ, con của Lư Khánh Thao và bà Lý Thị. Nguyên quán Ngài tại đất Phạm Dương, sau dời về Tân châu, xứ Lãnh Nam.

        Ngài sanh vào đêm mùng 8 tháng 2 năm Mậu Tuất (638), thuộc nhà Đường (Trung Hoa). Từ khi lọt lòng mẹ, Ngài không bú sữa, vì hằng đêm có thần nhân cho uống nước Cam lồ. Mới ba tuổi Ngài phải mồ côi cha; mẹ của Ngài thủ tiết nuôi con trong cảnh nghèo khổ, cháu rau đạm bạc. Lớn lên Ngài chuyên đốn củi đổi gạo về nuôi mẹ. Một hôm, Ngài gánh củi xuống chợ đặng đổi gạo nghe có người tụng Kinh Kim Cang đến câu:“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”(Không trụ vào chỗ nào để sanh tâm mình) thì Ngài tỏ ngộ và ý quyết đi tu. May mắn có người giúp cho 10 lượng bạc, Ngài chu cấp cho mẹ già, rồi đến chùa Đông Thiền, huyện Huỳnh Mai cầu học với Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn.

        Trên tám tháng Ngài vui vẻ làm công quả bửa củi, giã gạo, gánh nước.v.v…mà không hề than van, chỉ chuyên trì môn kiến tánh:“Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Một hôm Ngũ Tổ truyền khắp môn đồ: mỗi người hãy làm một bài kệ tự tánh, nếu ai được tỏ ngộ sẽ được kế truyền ngôi Tổ thứ sáu. Trong đồ chúng cả ngàn người, nhưng không ai dám làm, duy có Thần Tú học rộng biết nhiều, làm một bài kệ lén dán trên tường:

                “Thân thị Bồ đề thọ,

                     Tâm như minh cảnh đài.

                     Thời thời cần phất thức,

                     Vật sử nhá trần ai”.

        (Thân ấy Bồ đề thọ, Tâm như minh cảnh đài.

        Giờ giờ cần phủi sạch, Chớ để vướng trần ai).

        Bài kệ ấy được đồ chúng truyền tụng, thấu đến tai Huệ Năng. Ngài liền đến xem và muợn người chép giùm bài kệ của Ngài lên vách:

                “Bồ đề bổn vô thọ,

                     Minh cảnh diệc phi đài.

                     Bổn lai vô nhứt vật,

                     Hà xứ nhá trần ai”.

        (Bồ đề vốn không thọ, Minh cảnh cũng không đài.

          Xưa nay không có vật, Nào chỗ vướng trần ai”.

        Sau đó, Ngũ Tổ đến xem biết Huệ Năng đã ngộ chơn tánh, nên dùng mật ngữ gọi vào phòng, truyền tâm ấn và phú chúc y bát cho Ngài nối ngôi Tổ thứ sáu. Lúc ấy nhằm đời Đường Cao Tông, hiệu Long Sóc năm Tân Dậu. Ngài lãnh y bát, về phương Nam ẩn dật 16 năm mới ra truyền Đạo. Đến ngày 13 tháng 8 năm Quý Sửu, Ngài ở chùa Quốc Ân kêu đồ chúng lại thuyết bài kê:

                “Trơ trơ chẳng làm lành,

                  Xăn xăn chẳng tạo ác.

                  Bặt bặt dứt thấy nghe,

                  Lộng lộng tâm không mắc”.

        Thuyết kệ xong, tới canh ba Ngài ngồi ngay thẳng mà tịch. Đến đời vua Hiến Tông nhà Đường, ban hàm ân cho Tổ là:“Đại Giám Thiền Sư” và đề tặng trên tháp bốn chữ “Nguyên Hòa Linh Chiếu”, các đệ tử tạo tháp thờ Ngài ở Tào Khê. Nhục thân của Ngài không hư rã, đệ tử xây tháp lưu giữ cho đến ngày nay.

        Quan huyện Thiều Châu có dựng bia ghi Đạo hạnh của Tổ sư để làm kỷ niệm:“Tổ Sư Xuân Thu bảy mươi lẻ sáu. Hai mươi bốn tuổi được truyền y bát, ba mươi chín tuổi xuống tóc. Sư thuyết pháp ba mươi bảy năm. Trong các môn nhơn của Ngài có bốn mươi ba người đặng đạt Tông Chỉ và nối truyền chánh pháp. Còn những người ngộ đạo siêu phàm chẳng biết bao nhiêu mà kể”.

        Trong hàng cao đệ của Lục Tổ như: Thanh Nguyên Hành Tư, Nam Nhạc Hoài Nhượng, Hà Trạch Thần Hội, Vĩnh Gia Huyền Giác, Nam Dương Tuệ Trung và Pháp Hải.v.v…Đó là những nhân vật trọng yếu.

        Lời truyền giáo của Ngài còn lưu lại cho đời quyển Pháp Bửu Đàn Kinh; lý nghĩa diệu mầu khó tả, hàm chứa tâm ấn và chánh Pháp của Đạo Phật.

        Ngày nay Đức Giáo Chủ bảo chúng ta tu theo Lục Tổ là tu đúng theo Chánh Pháp Vô Vi của Đức Phật Thích Ca vậy.

        THẦN TÚ: (606-707) Trong lịch sử Phật giáo không có ghi chép tiểu sử rõ ràng, chỉ biết đại lược: Thần Tú là đệ tử của Tổ Hoàng Nhẫn, làm chức Giáo thọ, trông coi đồ chúng tu học; mọi người đều kính nể sự học tập nghe nhiều của ông.

        Khi ông làm Kệ dâng Ngũ Tổ, lòng luôn nao nức tự phụ trong hàng tăng chúng chẳng ai bằng mình. Song sau khi chẳng được truyền y bát, ông đâm ra hiềm khích Lục Tổ Huệ Năng, bèn lập thành một tông phái Đạo Phật truyền bá phương Bắc nước Tàu, trụ trì tại chùa Ngọc Tuyền, ở Kinh Châu. Học trò của Thần Tú có khoảng 3.000. Thầy trò đều chủ trương lối tu tiệm giáo, lần lần bày ra âm thinh sắc tướng: gõ mõ, tụng kinh, cúng kiếng chè xôi…làm sai lạc tông chỉ của Đạo Phật.

        Trong hàng đệ tử muốn tôn ông làm Tổ thứ sáu, nhưng vì Lục Tổ Huệ Năng đã được thọ truyền y bát, thiên hạ đều tin nghe. Thế nên đã mấy lần đệ tử của Thần Tú âm mưu hành thích Lục Tổ, song cơ mưu bất thành. Từ đó hai tông phái Bắc, Nam lần lần xa cách.

 

                                     CHÁNH VĂN

297.  Khuyên bổn-đạo chớ nên mê ngủ,

          Thức dậy tìm Đạo chánh của Khùng.

          Đặng sau xem liệt quốc tranh hùng,

300.  Được sanh sống nhờ ơn Chín-Bệ.

          Hóa phép lạ biết bao mà kể,

          Chín từng mây nhạc trổi tiêu-thiều.

          Kẻ tà-gian sau bị lửa thiêu,

304.  Người tu niệm sống đời thượng-cổ.

      Khùng vưng lịnh Tây-Phương Phật-Tổ,

          Nên giáo-truyền khắp cả Nam-Kỳ.

          Hội Long-Hoa chọn kẻ tu-mi,

308.  Người hiền đức đặng phò chơn Chúa. 

          Khuyên những kẻ giàu sang có của,

          Hãy mở lòng thương-xót dân nghèo.

          Cảnh vinh- hoa lại quá cheo-leo,

312.  Nhà giàu có sau nhiều tai-ách.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 297 tới câu 312) :

        -Đoạn nầy Đức Giáo Chủ khuyên trong bổn đạo, chớ đắm mê theo danh lợi ảo huyền mà hãy sớm thức tỉnh, nương theo con đường Đạo đức chân chánh, do Ngài đã vạch sẵn, hầu sau nầy:“ Đặng coi chư quốc non Tần giành chia” (Thiên Lý Ca). Chừng ấy sẽ có:“ Đức Minh Vương ngự chốn Nam Thành(Kệ Dân, Q.2), biết bao cảnh vui tươi báu lạ, nhạc Tiên reo mừng khắp ba cõi, chín từng để tiếp rước “Phật, Thánh, Tiên  an bang cùng định quốc(Không Buồn Ngủ). Ai biết tu tỉnh hiền lương thì được “... nhuần ân Thánh Đế(Nang Thơ Cẩm Tú), và Ngài sẽ ban thưởng cho sống đời thượng cổ; còn hạng gian tà bạo ác, tất bị luật đào thải diệt vong.

        -Đức Phật Tổ ở Tây Phương đã sắc lịnh Đức Thầy truyền dạy cho nhân dân được rõ: Phật Trời sẽ lập Hội Long Hoa để chọn những ai xứng đáng là bực râu mày quân tử, tài đức vẹn toàn, hầu được phò trì Đức Thánh Vương và sống đời Ngươn thượng.

        -Ngài cũng hằng khuyên hạng người giàu sang dư ăn dư để hãy mở rộng lòng nhơn, giúp đỡ cho kẻ cơ bần, bệnh tật. Vì bao sự nghiệp phú quí vinh hoa đối với thời chiến loạn, khó mà bảo tồn vĩnh cửu:“Giàu sang như nước trên nguồn, gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ.(Sấm Giảng, Q1).

 

CHÚ THÍCH :

        ĐẠO CHÁNH: (Xem lại chú thích nơi câu 161 trên)

        LIỆT QUỐC: Các nước trên thế giới. Cũng như chữ chư quốc hay chư bang. Đức Thầy có câu:

                “Các nơi liệt quốc chư bang,

               Chúc cầu bình trị trướng loan sum vầy’.

                                (Viếng Làng Mỹ Hội Đông)

        TRANH HÙNG: Tranh giành để xưng hùng với thiên hạ.

        CHÍN BỆ: Cũng gọi là chín từng, là nghĩa của chữ “cửu trùng”, tức là chín bực thang (thềm), bước lên ngai vua. Ý chỉ cho ngai vua hay là ông vua. Ví dụ: Tâu qua chín bệ; “Trên chín bệ mặt trời gang tấc”. (Cổ thi)

        TIÊU THIỀU: Tiếng dùng để chỉ chung cho âm nhạc trong cung vua. “Tiêu thiều nhả nhạc vang lừng” (Cổ thi).

        THƯỢNG CỔ: Thời Thái cổ, đời xưa; thời xa xưa trước thời trung cổ. Nghĩa cũng như chữ Thượng ngươn.

        HỘI LONG HOA:(Xem lại chú thích tại tr.45-47 Tập1/3).

        TU MI: (Xem lại chú thích nơi câu 111 trên).

        CHƠN CHÚA: Cũng viết là chân chúa. Có nghĩa ông vua rất chân chánh, công bằng và sáng suốt, được lịnh Trời sai xuống trị dân.

        VINH HOA: (Xem lại chú thích tại tr.233 Tập 1/3).

        CHEO LEO: Lắt lẻo, không vững; rất nguy hiểm, rất có thể ngã rơi bất cứ lúc nào. Người xưa từng hát;

                “Phượng Hoàng đậu chốn cheo leo,

                    Đến khi thất thế phải theo đàn gà”.

        TAI ÁCH: (Xem lại chú thích nơi câu 4 trên).

 

                                 CHÁNH VĂN

313.  Hỡi bá-tánh rừng sâu có mạch,

          Tuy u-minh mà có đền vàng.

          Lịnh Quan-Âm dạy biểu Khùng troàn,

316.  Cho bổn-đạo rõ nguồn chơn-lý.

          Lũ thầy-đám hay bày trò khỉ,

          Mượn kinh luân tụng mướn lấy tiền.

          Chốn Diêm-Đình ghi tội liên-miên,

320.  Mà tăng-chúng nào đâu có rõ.

          Theo Thần-Tú tạo nhiều chuông mõ,

          Từ xưa nay có mấy ai thành ?

          Phật từ-bi độ tử độ sanh,

324.  Là độ kẻ hiền-lương nhơn-ái.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 313 tới câu 324) :

        -Đoạn giảng trên Đức Thầy ý thức cho mọi người được biết: dù là ở chốn núi cao rừng thẳm song nơi nào cũng có sẵn mạch nước ngọt trong lòng đất. Còn miền Thất sơn, tuy hiện giờ chỉ thấy toàn là cây đá âm u nhưng sau nầy sẽ có đền vàng điện ngọc:“Chừng Bảy núi lầu son lộ vẻ”(Đáp họa cho Ông Lương Văn Tốt). Hoặc là:

                “Chừng nào tiếng sấm nổ vang,

                   Thất sơn lộ vẻ đền vàng báu thay”.

                                (Vọng Bắc Hòa Nam)

        Lại nữa, Đức Quan Thế Âm đã sắc lịnh cho Đức Thầy truyền dạy khắp giới tu hành được rõ đâu là chơn thật ngay chánh nên theo và đâu là tà mị nên tránh.

        -Bởi hiện tình có số người tu giả dối, đã mang lốt Sư mà còn đem kinh kệ đi tụng mướn để thọ hưởng tiền công đức của bá tánh, mê hoặc thiện tín, làm sai tông chỉ tu hành, đó là điều nên tội mà tăng chúng nào đâu hay biết !

        Những âm thinh sắc tướng, cúng kiếng chè xôi, tụng tán cầu siêu, làm đám.v.v…là do phái Thần Tú bày ra từ trước, làm sai lạc chân truyền của Đạo Phật. Thế mà trong giới tu hành chẳng lo cải sửa. Cho nên từ ấy đến nay ít có nhà tu được chứng đắc.

        -Vẫn biết chư Phật đầy lòng từ bi bác ái, lúc nào cũng muốn độ hết chúng sanh, nhưng nếu hành giả nào muốn được sự cứu độ của các Ngài, cần phải tu sửa thân tâm trở nên hiền lương nhân ái. Chớ chẳng phải do sự mướn người tụng kinh, cầu siêu hoặc bày ra cúng kiếng lễ mễ mà được.

 

CHÚ THÍCH :

        MẠCH: Mạch máu hay mạch nước. Đây chỉ cho mạch nước, tức đường đi ngầm dưới đất, cung cấp nước ngọt cho nhân loại. Trong trái đất dù nơi rừng sâu hay đồng nội, chỗ nào cũng có mạch nước ngầm.

        U MINH: Tối tăm, mờ mịt. Ví dụ: nơi u minh, rừng u minh.

        TROÀN: là truyền. Ví dụ: Lịnh trên troàn dạy cho mọi người được biết.

        CHƠN LÝ: (Xem lại chú thích tại tr.171 Tập 1/3).

        TRÒ KHỈ: Pháp ngữ gọi là Singerie (trò nỡm). Ý chỉ cho việc gì không nên, không thành công, chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Kinh sách đạo Phật có chép câu chuyện ngụ ngôn như sau:

        “Xưa, ở khu rừng nọ, có đàn khỉ độ 500 con. Hôm nọ, chúng rủ nhau đến cây cổ thụ bên bờ giếng cư ngụ. Tối lại chúng thấy dưới giếng nước có mặt trăng nằm tận đáy. Một con khỉ hốt hoảng kêu ầm lên:

        “-Ôi ! Chết rồi anh em ơi ! Hôm nay mặt trăng bị chết, nó rơi xuống đáy giếng đây nầy ! Chúng ta hãy mau tìm cách vớt nó lên, kẻo thiên hạ bị tối tăm, khổ sở lắm ! Chúng xôn xao nhảy nhót, cuống quít với nhau, chưa biết phải làm thế nào ? Bỗng nghe con khỉ chúa nói lớn:

        “-Tất cả anh em hãy yên lòng, tôi đã có cách rồi. Việc nầy chẳng khó chi, miễn là các anh em nghe theo tôi. Phần tôi nắm lấy cành cây rồi một anh bám lấy đuôi tôi, và cứ thế lần lượt cứ bám đuôi nhau hết cả đàn. Thế là chúng ta sẽ xuống tận đáy giếng để vớt trăng lên.

        “Cả đàn khỉ nghe nói reo mừng đều cho đó là diệu kế, bèn làm đúng như lời khỉ chúa. Khi chúng nối nhau gần đến nơi, vì nặng quá nên cành cây bị gãy lìa, cả lũ khỉ đều rơi xuống giếng. Chúng lúng túng không có lối lên mà cũng chẳng có ai ở đó cứu vớt; kết cuộc cả đàn khỉ đều bị chết nơi đáy giếng.

        “Lúc ấy có vị thần ở trên cây trông thấy liền ngâm bài kệ:

                “Một con ngu dại đã xong,

           Thương thay ! Cả lũ đều không biết gì.

                  Trăng còn vằng vặc trên kia,

            Dắt nhau xuống giếng làm chi cực lòng”.

        Ở đây, ý nói những người tu hành sai chơn lý, đã tốn công mà không kết quả, chỉ làm trò cười cho thiên hạ, thật đáng tiếc ! Đáng thương hại !

        KINH LUÂN: Công việc kéo tơ. (Kinh là sắp từ mối tơ và chia ra; Luân là so từ sợi tơ mà hợp lại). Nghĩa rộng là sắp đặt và sửa sang chánh trị theo qui củ và có kế hoạch…Song chữ kinh luân ở đây là chỉ cho Kinh Kệ của Phật.

        DIÊM ĐÌNH: Triều đình của Diêm La Vương nơi phân xử tội phước các linh hồn sau khi bỏ xác (chết) lại thế gian.

        LIÊN MIÊN: Liền liền, không dứt.

        TĂNG CHÚNG: Phạn ngữ là Samgha. Tăng là tiếng đọc tắt, nói cho đủ là Tăng già (samgha). Tức là một số đông nhà sư (Tỳ-kheo) hòa hợp nhau thành một đoàn thể, sống với tinh thần lục hòa. Chúng là chữ Hán, dịch nghĩa là đông người (chúng tăng). Vậy chúng tăng là hai tiếng: Phạn và Hán đồng nghĩa, ghép lại dùng để gọi chư Tỳ-kheo ở một ngôi chùa hay một Giáo hội đạo Phật.

        THẦN TÚ: (Xem lại chú thích nơi câu 296 trên).

        TỪ BI: (Xem lại chú thích tại tr.40 Tập 1/3).

        NHƠN ÁI: (Xem lại chú thích  nơi câu 281 trên).

 

                                 CHÁNH VĂN

325.  Xá với phướn là trò kỳ-quái,

          Làm trai-đàn che miệng thế-gian.

          Kẻ vinh-hoa phú-quí giàu sang,

328.  Mướn tăng-chúng đặng làm chữ hiếu.

          Thương bá-gia vì không rõ hiểu,

          Tưởng vậy là nhơn nghĩa vẹn tròn.

          Thấy lạc-lầm Đây động lòng son,

332.  Khuyên bổn-đạo hãy nên tỉnh-ngộ.

          Ở dương-thế tạo nhiều cảnh khổ,

  Xuống huỳnh-tuyền Địa-Ngục khảo hình.

          Tuy lưới Trời thưa rộng thinh-thinh,

336.  Chớ chẳng lọt những người hung-ác.

          Khi nhắm mắt hồn lìa khỏi xác,

      Quỉ Vô-Thường dắt xuống Diêm-Đình.

          Sổ sách kia tội phước đinh-ninh,

340.  Phạt với thưởng hai đường tỏ rõ.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 325 tới câu 340) :

        -Bởi nhận thấy một số tăng chúng thời nay, đáng lẽ họ phải gắng sức trau giồi trí tuệ để khuyên dạy bá tánh tự lo khử ác tùng thiện, hiếu thuận từ hòa hầu hồi hướng công đức cho Cửu huyền Thất tổ được siêu thăng. Đằng nầy họ lại bày vẽ những cuộc trai đàn với các nghi thức rườm rà, đượm màu mê tín.  Việc đó khiến cho những kẻ giàu sang hiểu lầm: hễ có tiền của nhiều mang đến cho chúng tăng cầu siêu giùm là vẹn tròn hiếu nghĩa, khỏi cần phải tu hành, tác phước làm chi cho cực.

        -Đức Thầy thấy sự lầm lạc như thế mà động lòng thương, nên Ngài kêu gọi khắp thiện tín mau tỉnh ngộ trở về với chơn lý:“Mình làm chữ hiếu mới hay, Chớ muớn người ngoài cầu nguyện khó siêu”(Sám Giảng, Q.3). Và phải tin sâu nơi luật nhân quả, hễ làm lành hưởng phước, tạo ác mang tai, chẳng hề sai chạy. Xưa, Đức Phật từng bảo:“Cầu phước chẳng qua trai giới bố thí; Cầu thọ chẳng qua giới sát, phóng sanh; cầu huệ chẳng qua học rộng nghe nhiều, suy tư, tịnh ý; cầu an tâm chẳng qua xét ngăn tư tưởng phải quấy, chớ không phải đem tài vật lễ mễ Phật Trời mà được”.

        -Nhân loại ở thế gian nếu ai làm điều hung ác thì khi chết linh hồn bị nghiệp lực hút vào Địa ngục chịu sự hình phạt khốc liệt. Lưới trời tuy thưa, nhưng khó lọt dù một mảy lông (Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu). Kiếp sống của con người cứ miệt mài con đường tội ác, một khi số vô thường đến thì trước công án của Diêm Vương, dù một điểm nhỏ cũng không cãi chối được:“Bán điểm nan mãn nguyệt cảnh minh, Bá kế thiên mưu đô thị thố”.( Đến lúc thác xuống âm ti dù nửa điểm tội cũng khó che dấu được, vì cái kiếng tại đài nguyệt cảnh chiếu rất rõ ràng. Ở đây có trăm điều mưu kế lầm lỗi đều hiện ra tất cả) (Trong Tỉnh Thế Ngộ Chơn).

        -Bấy giờ Phán quan sẽ đem bản ghi chép tội phước hằng ngày ra và Diêm Vương sẽ xét xử kẻ tội phước; đâu đó thưởng phạt rất công minh.

 

CHÚ THÍCH :

        XÁ VỚI PHƯỚN LÀ TRÒ KỲ QUÁI: Xá hạc, xá ngựa, lầu kho, phướn sớ là những đồ vật của mấy ông “nhưn bông, làm đám” tạo ra để đốt khi có người đem tiền của đến để nhờ làm lễ cầu siêu. Họ nói với tang chủ rằng:”Đốt đồ ấy cho người chết ở dưới âm phủ xài được và xá hạc, xá ngựa sẽ mang sớ đến Trời Phật”. Đó thật là điều rất giả dối lạ lùng, thế mà người ta vẫn tin. Sau đây là câu chuyện có liên quan đến vấn đề, do ông Võ Quang Lệ ở xã Hòa Hảo tường thuật:

        Vào ngày 27 tháng 8 năm Kỷ Mão (1939), tại An Hòa Tự làng Hòa Hảo, có cuộc trai đàn do ông Võ Quang Lệ là tang chủ. Ông đem tiền đến chùa, nhờ Sư trụ trì là Yết Ma Thường tổ chức lễ cầu siêu cho thân phụ ông nhân ngày lễ làm tuần bá nhựt.

        Trong cuộc trai đàn ấy, dĩ nhiên là có tụng kinh, gõ mõ, có xá phướn lầu kho theo tục lệ của mấy thầy làm đám. Giờ cúng ngọ gần tới thì cũng chính nhằm dịp Đức Thầy vừa đến. Sau khi đi một vòng thăm “đại hùng bảo điện”, Đức Thầy bước vào hậu đường, trong khi Yết ma Thường cùng ông Lệ đang săm soi sửa chữa lại mấy xá hạt, xá ngựa, để chuẩn bị cho kịp giờ “đưa tiễn về Trời”.

        Đã biết tin Đức Thầy bất thần ghé chùa và cũng biết ý Đức Thầy lúc nào cũng đả phá những điều dị đoan và lợi dụng, nên Yết ma Thường không vui. Ông muốn nhân dịp nầy “hạ uy tín” Đức Thầy để bù trừ điều Ngài không chấp nhận việc ông nầy“Làm chay đám tạo nhiều xá mã”(GMTK, Q.4) và “Mượn kinh luân tụng mướn lấy tiền(Kệ Dân, Q.2); đồng thời cũng để thử xem oai linh của Đức Thầy, nên Yết ma Thường lén để dưới manh chiếu xếp lại, đặt trên chiếc trường kỷ đối diện ngay Ông, một quyển Kinh Phổ Môn, rồi chờ đợi.

        Khi Đức Thầy đến, Yết ma Thường giả bộ niềm nở mời Ngài ngồi ngay trên chiếc ghế ấy. Đức Thầy với cử chỉ hòa hưỡn và tự nhiên, trả lời ông Yết Ma:

        -Được, Ông cứ để tôi đứng đây nói chuyện. Đoạn, Ngài nhìn ngay ông Lệ đang ngồi trên chiếc trường kỷ bên kia với Yết ma Thường, ứng khẩu một bài thi tứ tuyệt:“Cho hay Đạo cả thiệt vì tiền,

                 Đạo cả không tiền, Đạo ngửa nghiêng.

                      Có bạc sợ chi miền Địa ngục,

                   Không tiền khó đến cảnh Tây Thiên”.

        Nghe bài thi của Đức Thầy, ông Thường nóng mặt; còn ông Lệ như thoát cơn say. Khi Đức Thầy ra về, Yết ma Thường dở chiếu lấy quyển kinh lên, cho ông Lệ xem và cả hai đều gật gù nghĩ ngợi.

        Mẩu chuyện nầy là một nhát búa đẽo mạnh vào những mắt cây cong, nó có hiệu năng khuyến cáo mọi người chừa bỏ các điều phi lý, chỉ thể hiện sự mê tín hoang đàng, chớ không đem lại một mảy may lợi ích.

        TRAI ĐÀN: Đàn làm chay. Là những tăng chúng hội hiệp tại một ngôi chùa nào đó để làm lễ cầu siêu cho các vong hồn trong thân nhân của chư thiện tín, do họ đem tiền của, vật thực đến nhờ các sư tổ chức giùm để họ lễ bái cầu nguyện.         

        NHƠN NGHĨA: (Xem lại chú thích tại tr. 275 Tập 1/3)

        LÒNG SON: (Xem lại chú thích tại tr.239 Tập 1/3).

        TỈNH NGỘ: (Xem lại chú thích nơi câu 93 trên).

        HUỲNH TUYỀN:(Xem lại chú thích tại tr.94Tập 1/3).

        ĐỊA NGỤC KHẢO HÌNH: Sự hành phạt tra khảo nơi Địa ngục. Do sự tội ác nặng hay nhẹ của mỗi cá nhân mà khi chết linh hồn bị đọa vào cảnh giới Địa ngục, họ cảm thấy mình bị sự trừng phạt, mỗi nơi mỗi khác.

        Có ngục tội nhân bị kéo lưỡi dài ra cho trâu cày; hoặc có nơi quỉ sứ móc trái tim của tội nhơn cho quỉ dạ xoa ăn; có nơi quỉ sứ đun sôi vạc dầu mà nấu thân thể kẻ có tội; có nơi đốt cột đồng cho đỏ, rồi bắt kẻ có tội ôm vào; có nơi người ta thổi cho lửa bay gộp lại, áp vào kẻ có tội. Có ngục toàn là giá lạnh, hoặc có ngục toàn là phân người và nước tiểu; có nơi bay tới những cây gai toàn bằng sắt ghim vào mình người tội, hoặc có nơi gươm giáo đâm vào tội nhơn; có nơi bị gậy gộc đánh vào bụng, vào lưng liên tiếp. Hoặc có ngục hình, hành bằng cách đốt cháy tay chơn tội nhơn; hoặc có nơi tội nhơn bị rắn sắt quấn chung quanh mình, hoặc chó sắt đeo tội nhơn mà cắn xé.v.v…

        QUỈ VÔ THƯỜNG: Quỉ bắt người tới số phải chết; cũng gọi như chữ tử thần. Vì cái chết làm cho con người phải mất đi tất cả (số vô thường đã đến) nên người ta quá ghê sợ mà gọi nó là Quỉ Vô Thường hay là Tử Thần.

 

                                 CHÁNH VĂN

341.  Tìm Cực-Lạc, Đây rành đường ngõ,

          Hãy mau-mau tu tỉnh mới mầu.

          Tận thế-gian còn có bao lâu,

344.  Mà chẳng chịu làm tròn nhơn-đạo.

          Kẻ nghèo khó hụt tiền thiếu gạo,

          Mở lòng nhơn tiếp rước mới là.

          Làm hiền-lành hơn tụng hơ-hà,

348.  Hãy tưởng Phật hay hơn ó-ré.

          Đã chánh Đạo thêm còn sức khoẻ,

          Đặng nuôi cha dưỡng mẹ cho tròn.

          Vẹn mười ơn mới đạo làm con,

352.  Lúc sanh sống chớ nên phụ-bạc.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 341 tới câu 352):

        -Đoạn nầy Đức Giáo Chủ chỉ cho biết: nếu ai muốn vãng sanh Cực lạc thì nơi đây Ngài vạch sẵn đường lối, tức là Pháp Môn Tịnh Độ. Đại ý Ngài dạy: hành giả cần có đủ Tín, Nguyện và chuyên tâm niệm Phật, làm lành:“Nam Mô A Di Đà Phật, sáu chữ đi, đứng, nằm, ngồi rán niệm chớ quên không đợi gì thời khắc”(Niệm Phật, tr.212 SGTVTB 2004). Nếu ai nhứt tâm trì chí như vậy, quyết đặng vãng sanh Cực Lạc, như Ngài đã viết trong Quyển 5, Khuyến Thiện:

     “Lòng thương chúng thuyết phương Tịnh độ,

  Đặng dắt dìu tất cả chúng sanh.

                     Nếu như ai cố chí làm lành,

            Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật quốc.

            Cả vũ trụ khắp cùng vạn vật,

            Dầu Tiên, Phàm, ma quỉ, súc sanh.

            Cứ nhứt tâm tín, nguyện, phụng hành,

            Được cứu cánh về nơi an dưỡng.

            Chỉ một kiếp Tây Phương hồi hướng,

          Thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi”.

        Vậy chúng sanh nào muốn được kết quả như trên, phải mau thức tỉnh tu hành. Lại nữa, ngày tận diệt gần kề, thế mà chúng dân chẳng chịu tu tròn Nhân Đạo. Bởi phần Nhân Đạo có làm tròn mới được sống còn trong ngày Thượng ngươn Thánh đức và như thế cũng gọi là trả xong nợ thế, vẹn đáp tứ ân:“Tứ ân đã trả chẳng còn tội căn.(Cho ông Cò Tàu Hảo).

        -Ngoài ra còn phải rộng lòng thương những người nghèo khổ, tàn tật để tùy phương giúp đỡ:“Nếu đã xả thân tầm đạo đức, Mở lòng bố thí ngộ thần ca(Khuyên Người Giàu Lòng Phước Thiện). Bởi điểm trọng yếu của người tu Phật là bên ngoài lo làm lành lánh dữ, tác phước thiện duyên, bên trong thì chuyên tâm niệm Phật và tảo trừ vô minh phiền não để kiến diện Phật tâm (Phước Huệ song tu ). Chính đó là chánh Đạo, là chơn lý tuyệt vời. Bằng ai mảng lo tụng kinh gõ mõ, ó ré theo hình tướng (không cần thấu đạt nghĩa lý) thì mong gì đạt đạo:

                “Kinh Thích Đạo, Kinh xem chẳng tụng,

                  Việc thinh âm sắc tướng chẳng dùng.

                  Đạo tại tâm, tâm Đạo xuất tùng,

                  Tùng tâm Đạo mới là Phật Đạo”.

                           (Kim Cổ Kỳ Quan của Ô.Ba Thới)

        -Thêm nữa, người tu có hành đúng theo chánh Đạo mới bảo tồn được sức khỏe, hầu làm tròn bổn phận người con, đối với công ơn trời biển của cha mẹ. Nghĩa là phải ghi nhớ mười điều ân vào thâm tâm để sớm lo đền đáp: Lúc cha mẹ còn sanh tiền thì lo cung cấp từ miếng ăn, thức mặc, cho đến chỗ được chu toàn. Vâng lời dạy bảo của cha mẹ và hằng khuyên cha mẹ làm việc phước nhân, tránh điều tội lỗi. Còn khi cha mẹ quá vãng thì rán tu cầu cho linh hồn được siêu sanh cõi thọ, thoát đọa trầm luân. Đó là vẹn tròn Đạo làm con.

 

CHÚ THÍCH :

        CỰC LẠC: (Xem lại chú thích nơi câu 28 trên)

        TU TỈNH: Thức tỉnh và trau sửa thân tâm cho được trọn lành, trọn sáng.

        TẬN THẾ GIAN: (Xem lại chú thích nơi câu 25 trên)

        NHƠN ĐẠO: (Xem lại chú thích tại tr. 152 Tập 1/3).

        TỤNG HƠ HÀ: Cách tụng kinh như la lối lớn tiếng, có giọng điệu ca kệ.

        MƯỜI ƠN: Những công ơn của người con thọ nơi cha mẹ. Trong “Phụ Mẫu Báo Hiếu Trọng Ân Kinh”, Phật có giảng mười điều ơn, tạm lược như sau:

1-    Thập ngoạt hoài thai ân: Ơn mười tháng cưu mang.

2-    Lâm sản thọ khổ ân: Ơn sanh đẻ chịu khổ.

3-    Sanh tử vong ưu ân: Ơn sanh được đứa con, mừng mà quên lo rầu.

4-    Yến khổ thổ cam ân: Ơn uống đắng nhổ ngọt.

5-    Hồi can tựu thấp ân: Ơn nhường chỗ khô nằm chỗ ướt.

6-    Nhũ bộ dưỡng dục ân: Ơn bú mớm và nuôi nấng.

7-    Tẩy trạc bất tịnh ân: Ơn rửa ráy mọi thứ dơ bẩn.

8-    Viễn hành ức niệm ân: Ơn con đi xa thì cha mẹ nhớ tưởng.

9-    Vị tạo ác nghiệp ân: Ơn vì con mà cha mẹ nhiều khi làm điều chẳng lành.

        10-Cứu cánh lân mẫn ân: Ơn cha mẹ thương con không có cái thương nào bằng.

        Bởi công ơn của cha mẹ lớn lao như thế, nên cổ nhân từng bảo:“Lên non mới biết non cao, Nuôi con mới biết công lao mẫu từ”. Và trong kinh “Tâm Địa Quán”, Phật dạy:“ Ân từ phụ cao như núi chúa; Ân bi mẫu sâu tợ đại dương”. Đức Thầy hiện nay cũng khuyên:

                “Ở ăn cho vẹn mười ơn,

            Cảnh tình hiền đức gặp cơn khải hoàn”.

                                           (Để Chơn Đất Bắc)

        ĐẠO LÀM CON: Bổn phận làm con phải vẹn tròn hiếu thảo với cha mẹ. Bởi hạnh hiếu là đứng đầu các hạnh. Cổ nhân từng nói:

                “Công cha như núi Thái Sơn,

            Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

                  Một lòng thờ mẹ kính cha,

              Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

        Sách “Liên Tông Bửu Giám” cũng bảo:“Hiếu dưỡng bách hạnh vi tiên; Hiếu tâm tức thị Phật tâm; Hiếu hạnh vô phi Phật hạnh. Dục đắc Đạo đồng chư Phật, tiên tu hiếu dưỡng nhị thân”.(Điều hiếu dưỡng là đứng đầu trăm hạnh, tâm hiếu thảo tức là tâm Phật; hạnh hiếu đâu chẳng là hạnh của chư Phật. Vậy muốn đắc Đạo cũng như chư Phật, trước hết khá nên hiếu dưỡng song thân). Kinh Đạt Ma cũng có thi rằng:

                “Làm con khá trả đặng ơn sâu,

                  Muôn việc trần gian hiếu đứng đầu.

                  Chín tháng cưu mang nhiều khó nhọc,

                  Ba năm nhũ bộ cũng hèn lâu.

                  Tu hành trước hết tròn Nhân Đạo,

                  Ra thế mới mong tránh bể dâu,

                  Ba vạn sáu ngàn là dễ mấy,

                  Ngày qua tháng lại bóng thiều thâu”.

        Tóm lại, Đạo làm con là hiếu hạnh mà hiếu hạnh tức là Phật hạnh, và nó đứng đầu các hạnh. Đức Thầy cũng bảo:“Nhơn sanh hiếu nghĩa dĩ vi tiên”(Hiếu Nghĩa Vi Tiên).

        PHỤ BẠC: Bội bạc ân nghĩa. Không nhớ đến công ơn của cha mẹ, nỡ lòng cư xử bất hiếu. Đức Thầy thường thống trách hạng người phụ bạc (trong GMTK, Q.4):

              “Ham công danh quên chữ sanh thành,

                     Mến phú quí quên câu dưỡng dục”.

 

                                 CHÁNH VĂN

353.  Nếu làm đám được về Cực-Lạc,

          Thì giàu-sang được trọn hai bề.

          Ỷ tước-quyền làm ác ê-hề,

356.  Khi bỏ xác nhiều tiền lo-lót.

          Kinh với sám tụng nghe thảnh-thót,

          Lũ nhưn-bông tập luyện đã rành.

          Đẩu với đờn, kèn, trống, nhịp sanh,

360.  Làm ăn-rập đặng đòi cao giá.

          Tâm trần-tục còn phân nhơn ngã,

          Thì làm sao thoát khỏi luân-hồi.

          Những giấy-tiền vàng-bạc cũng thôi,

364.  Chớ có đốt tốn tiền vô lý.

          Xưa Thần-Tú bày điều tà-mị,

          Mà dắt-dìu bá-tánh đời Đường.

      Thấy chúng-sanh lầm lạc đáng thương,

368.  Cõi Âm-Phủ đâu ăn của hối.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 353 tới câu 368) :

        -Giả sử có kẻ mướn người cầu siêu mà linh hồn kẻ chết được về Cực Lạc thì tu quá dễ dàng vậy sao? Và kẻ quyền thế bình nhựt cứ tha hồ lường gạt dân chúng, rồi đến khi chết con cháu tung tiền ra mướn các thầy nhưn bông làm  hiếu sự cho mình, thế thì họ “bắt cá hai tay”đều được cả sao ? Như vậy, còn gì là chơn lý ?

        Người xưa từng bảo:“ Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, bất tu bất đắc”. Và người tu có “xả phú cầu bần, xả thân cầu Đạo” mới mong thành quả và cứu thoát Cửu huyền (Nhứt nhơn thành Đạo, Cửu huyền thăng).

        -Còn các món: đẩu đờn, kèn trống, chuông mõ, tụng tán v.v…do mấy thầy nhưn bông bày ra để đi làm đám, lòng còn đầy tham, sân, si, nhân, ngã, cộng với sự lừa người, dối Phật, họ đã tự trói mình vào luân hồi sanh tử, mong gì cầu siêu cho ai được.

        -Lại còn những giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo, vốn xuất phát từ đời Đường bên Trung Hoa. Đương thời phái Thần Tú chẳng những không cấm lại còn mặc nhận cho các môn đồ chứa chấp và hiệp nhau lừa bịp bá tánh, rồi lưu truyền mãi đến ngày nay.

        -Đức Giáo Chủ nhìn thấy chúng dân bị lầm lạc mê tín, Ngài động lòng từ bi giác tỉnh mọi người, nên nhận rõ: Ở thế gian còn phải tôn trọng lẽ công bằng thì chốn âm phủ có lý nào còn dùng hối lộ hay sao? Thế nên trong Tám Điều Răn Cấm, Đức Thầy có dạy:“ Điều thứ sáu: Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cõi Diêm Vương không bao giờ ăn hối lộ của ta, mà cũng không xài được nữa, phải để tiền lãng phí ấy mà trợ cứu cho những người lỡ đường đói rách, tàn tật”.

 

CHÚ THÍCH :

        NHƯN BÔNG: Là những người dọn sắc diện như nhà tu, nhưng chỉ chuyên đi làm đám, cầu siêu và tụng kinh mướn cho người ta, làm hoen ố Đạo Phật.

        TÂM TRẦN TỤC: Nghĩa cũng như tâm trần cấu. Tức là tâm nhiễm ô trần trược. Vì các phiền não mê tình đã kết cấu từ vô thỉ, khiến tâm càng ngày càng thêm ô trược . Đây chỉ cho tâm của mỗi chúng sanh.

        PHÂN NHƠN NGÃ: Tức là tâm phân biệt nhân ngã. Có nghĩa lòng phân biệt người - ta, và của người - của ta trong chỗ hơn thua cao thấp, xấu tốt. Sự phân biệt ấy như sau:

        Nhơn: Vọng tâm phân biệt người với ta khác nhau, muốn người lúc nào cũng phải theo cái ta muốn và phải lệ thuộc, phải kém thiếu hơn ta mọi việc.

        Ngã: Phân biệt rằng ta quí trọng hơn người, đáng sống hơn người và mỗi việc cao sang sung sướng chi đều phải chiếm trên, hưởng trước hơn người.

        Của Người: Phân biệt thấy người có món chi tốt đẹp quí báu, đều muốn lấy về làm của mình, dù người không bằng lòng hay không hợp lý. Trái lại, của ấy xấu kém hơn của mình thì tìm đủ cách chê bai hất hủi.

        Của Ta: Phân biệt cái gì của ta đều là quí, là phải hơn của người gấp bội và lo bảo thủ không để hở. Rủi cái của ta mất đi thì sầu não, tìm kiếm và nghi ngờ đủ thứ. Nhiều khi vì chuyện nhỏ của ta mà nỡ hại sanh mạng hay tài sản của người.

        Tóm lại, vì cái vọng tâm phân biệt nhơn ngã, khiến con người tham đắm danh, lợi, tình…để bồi bổ cho giả thân mà phải luân hồi mãi mãi. Đức Thầy từng khuyên (trong GM  TK, Q.4):

                “Chữ nhân ngã cũng là quá gắt,

                     Ta chớ nên phân biệt với người”.

        LUÂN HỒI: (Xem lại chú thích tại tr. 36 Tập 1/3 )

        NHỮNG GIẤY TIỀN VÀNG BẠC CŨNG THÔI, CHỚ CÓ ĐỐT TỐN TIỀN VÔ LÝ: Từ lâu dân ta có tục lệ dùng giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo và xá phướn lầu kho để đốt cho người chết mang theo hoặc gởi xuống âm phủ. Mê tín rằng làm như vậy là người chết xài được, chớ họ có biết đâu những sự vật ấy là do Vương Dư và Vương Luân đời Đường (Trung Hoa) chế ra để phỉnh gạt người đời mà trục lợi.

        Sách “Trực Ngôn Cảnh Giáo” có chép: Vương Luân là miêu duệ (con cháu đời sau) của Vương Dư, lập mưu với người bạn để tiêu thụ số giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo do y làm ra còn ứ đọng quá nhiều.

        Người bạn của Luân giả đau rồi chết, thân nhân liệm xác vào quan tài đem chôn. Luân bèn đem giấy tiền, vàng bạc đến đốt để cầu xin chuộc mạng. Người bạn của Luân từ từ sống lại. Mọi người tưởng thật đều tin theo và càng đốt giấy tiền vàng bạc nhiều hơn trước, khiến Vương Luân trở nên giàu to.

        Sự mê tín nhảm nhí ấy từ nước Tàu truyền lần sang nước ta. Bấy giờ nhà nhà đều quen lệ nầy nên Đức Thầy cảnh tỉnh:

                “Vàng bạc bởi tay khách trú làm,

           Phật, Thần, Tiên, Thánh chẳng dùng ham.

                     Giấy quần giấy áo không nên đốt,

                 Nghĩ chuyện dối ma chẳng đáng làm”.

                                  (Hai Mươi Chín Tháng Chạp)

        THẦN TÚ: (Xem lại chú thích nơi câu 296 trên).

        TÀ MỊ: (Xem chú thích chữ ma-mị nơi câu 249 trên).

        ĐỜI ĐƯỜNG: Tức nhà Đường (618-906) bên Tàu. Vị vua sáng lập nhà Đường là Lý Uyên, kế truyền được 20 đời và trị vì được 289 năm.

        CÕI ÂM PHỦ: Cũng gọi là cõi âm cung hay âm ty, nơi Diêm Vương ngự để thưởng công phạt tội những linh hồn người chết. Cõi âm phủ đối với cõi dương gian:“Dương gian âm phủ đôi đàng cách xa”.(Cổ thi).

        CỦA HỐI: Của hối lộ. Tức là của lo lót, đút nhét, dâng của một cách kín đáo cho kẻ có quyền thế, để nhờ cậy che chở hoặc ban ân huệ. Ví dụ: Quan ăn hối lộ.

 

                      CHÁNH VĂN

          369.  Đúc Phật lớn chùa cao bối-rối,

          Mà làm cho Phật-Giáo suy đồi.

          Tu Vô-Vi chớ cúng chè xôi,

                 Phật chẳng muốn chúng-sanh lo lót.

          Tăng với chúng ưa ăn đồ ngọt,

      Nên bày ra cúng kiếng hoài hoài.

     Ỷ nhiều tiền chẳng biết thương ai,

376.  Cúng với lạy khó trừ cho đặng.

    Kẻ nghèo khó tu hành ngay thẳng,

     Không cầu siêu Phật bỏ hay sao ? 

          Lập trai đàn chạy-chọt lao xao,

                 380. Bôi lem mặt làm tuồng hát Phật.

Nay nhằm lúc mùa màng ngập thất,

          Vậy hãy mau bỏ bớt dị-đoan.

          Rán giữ-gìn luân-lý tam cang,

384.  Tròn đức-hạnh mới là báu-quí.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 369 tới câu 384) :

        -Bởi nhận thấy có số người tu Phật, mãi đua theo hình tướng, tạo chùa, đúc tượng, cúng kiếng chè xôi…khiến cho người đời chán chê xa lánh và Đạo Phật do đó càng lúc càng  suy yếu. Đức Thầy kêu gọi họ hãy tu theo Chánh pháp vô vi mới đúng chân lý. Vì rằng Phật chẳng hề dùng các món: chè xôi, bánh trái, hoặc tiền của. Chỉ vì chúng tăng làm sai chơn lý mới bày ra cúng kiếng nầy nọ để thọ hưởng vật thực đó mà thôi.

        -Ở đời có lắm kẻ gian tham, bỏn sẻn, ỷ mình giàu có, chẳng thương xót một ai, cứ đem tiền của vật thực đến chùa mướn người cầu siêu, lễ bái. Họ tin lầm rằng làm như vậy sẽ trừ hết tôi lỗi, khỏi cần phải tu. Họ có ngờ đâu:           

                “Phật chẳng qua dụng chữ tín thành,

                 Chớ nào dụng hương, đăng, trà, quả”.

                                        (Giác GMTK, Q.4)

        Do đó, Đức Thầy hằng cảnh tỉnh:“…Đức Phật chẳng bao giờ ngỏ ý rằng:Các người hãy lạy thờ ta cho nhiều rồi Ta sẽ độ giúp các người” mà trái lại, Ngài dạy rằng:Các người nên hiểu biết phận sự con người phải làm gì trong kiếp sống và tìm kiếm chân tánh của mình”. Thiệt hành theo giáo lý của Ngài thì Ngài sẽ hướng dẫn và ủng hộ vậy”(Trong Việc Tu Thân Xử Kỷ - tr. 457 SGTVTB 2004).

        -Xét như trên, chư Phật lúc nào cũng tiếp độ những người tu hành chân chất, dù kẻ đó là bần hàn hạ tiện. Còn những cuộc trai đàn hát Phật, là trò mị dối, mê tín dị đoan, làm sai lạc chân truyền của Đạo Phật quá nhiều. Cho nên Đức Thầy kêu gọi các môn đồ trong Phật giáo từ đây hãy chấm dứt tệ đoan ấy để làm cho tròn bổn phận thực tại:“Rán tu Nhân Đạo cho tròn mới hay”(Sấm Giảng, Q.1). Ấy là bổn phận từ trong gia đình (giữa cha con, chồng vợ, huynh đệ) đến ngoài xã hội, đâu đó đều đối xử được vẹn toàn tốt đẹp. Đồng thời lo trau giồi hạnh nết, phát triển lòng nhơn và gội rửa tâm trí cho được sạch trong để tiến lên đường giải thoát, chính đó mới là điều cao quí.

 

CHÚ THÍCH :

        SUY ĐỒI: Đồi bại, đổ nát. Ví dụ: Phong hoá suy đồi hay Phật giáo suy đồi. Đức Thầy có câu:

        “Lòng quảng ái xót thương nhân chủng,

           Buổi lố lăng Phật giáo suy đồi”.

(Khuyến Thiện, Q.5)

        VÔ VI: (Xem lại chú thích nơi câu 290 trên).

        TRAI ĐÀN: (Xem lại chú thích nơi câu 326 trên)

        LÀM TUỒNG HÁT PHẬT: Lối hát y như hát bộ (bội), cũng mang râu đội mão, vẽ mặt.v.v…Những tuồng tích theo sử liệu Phật giáo, do tăng chúng và các ông nhưn bông đóng trò. Trong những cuộc làm chay ở các chùa, thường bày hát như vậy, nên gọi là Hát Phật.

        DỊ ĐOAN: (Xem lại chú thích nơi câu 78 trên).

        LUÂN LÝ: (Xem lại chú thích tại tr.270 Tập 1/3).

        TAM CANG: Cũng gọi là tam cương, tức là ba giềng mối quan trọng của Đạo làm người: 1-Quân thần cang; 2-Phụ tử cang; 3-Phu thê cang. Việc ăn ở, đối xử đâu phải ra đấy, như: vua tôi đối nhau phải có lòng trung chánh, cha con đối nhau phải có hiếu từ và chồng vợ đối nhau phải ân nghĩa song toàn. Đức Thầy có câu:

                “Ngũ luân lễ nghĩa năm hằng,

              Tam cang trung trực người rằng ngu si”.

                                      (Để Chơn Đất Bắc)

        ĐỨC HẠNH: Đức là tâm lành; hạnh là nết tốt. Người vẹn tròn đức hạnh là bên trong đầy lòng nhân ái, khoan hòa; bên ngoài mọi cử chỉ nói làm đều biểu hiện hạnh nết tốt lành với mọi người từ trong gia đình đến ngoài xã hội.

                “Những người tích đức tu nhân,

                Ít khi gặp phải tai ương khổ nàn”.

(Ca dao)

        Đức Thầy cũng khuyên:

                “Chốn Phật đường rán trau đức hạnh,

                     Phải bền lòng mới rảnh trần ai”

(Sa Đéc)

 

                                   CHÁNH VĂN

385.  Nay gần đến long phi xà vĩ,

          Cảnh gian-nan bá-tánh hầu kề. 

          Thấy chúng sanh còn hỡi say mê,

388   Khùng chỉ rõ đường tà nẻo chánh.

          Ta là kẻ vô hình hữu ảnh,

          Ẩn xác phàm gìn đạoThích-Ca.

          Làm gian ác là quỉ là ma,

392.  Làm chơn chánh là Tiên là Phật.

     Hiếm những kẻ không nhà không đất,

     Mà sang giàu chẳng xót thương giùm.

          Có lỡ-lầm chưởi mắng um-sùm,

396.  Thêm đánh đập khác nào con vật.

          Ăn không hết lo dành lo cất,

          Đem bạc trăm cúng Phật làm chi ?

          Phật Tây-Phương vốn tánh từ-bi,

400.  Đâu túng thiếu mà quơ mà tởi.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 383 tới câu 400) :

        -Đoạn nầy Đức Thầy tiên tri, nay sắp đến hai năm thìn, tỵ, cảnh gian lao chiến nạn sẽ đến với chúng sanh không còn xa lắm. Điều nầy Ông Sư Vãi Bán Khoai đã nói:“Rồng bay xao xuyến nào yên, Rắn bò giáp giới đảo điên dương trần”. Ông Ba Thới cũng bảo:“Rắn lộn rồng nhơn dân sanh giặc”. Và trong Quyển Nhứt, Đức Thầy còn cho biết:                                  “Mèo kêu bá tánh lao xao,

            Đến chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê”.

        Điều nầy đã ứng nghiệm vào hai năm (1940-1941), giai đoạn đầu của cuộc Đệ nhị thế chiến.

        -Đức Giáo Chủ nhìn thấy chúng sanh mãi đắm mê trong cảnh đời ảo mộng, đầy gian lao tội lỗi, nên Ngài phân tách rõ hai nẻo chánh tà cho bá tánh nhận thức. Công cuộc chuyển kiếp độ đời Ngài không hề phô trương hình tướng Phật Tiên, mà chơn linh Ngài chỉ ẩn nương vào xác phàm, để hoằng truyền Phật Pháp. Vậy ai muốn biết đâu tà đâu chánh, chẳng phải xem hình thức mà phải căn cứ vào hành động, hễ ai hành động chơn chánh thiện lương là Tiên Phật, còn tạo việc gian ác tức quỉ ma.

        -Ngài hằng kêu gọi kẻ giàu sang nên bỏ tánh kiêu căng ỷ thị, nhiếc xài đánh đập tôi tớ mà hãy mở lòng thương xót, bố thí cho kẻ khốn cùng đó là điều chánh lý, đáng làm. Bằng ai mãi tham lam ky cỏm, rồi mang tiền của đến chùa cúng Phật, thật chẳng có ích chi. Bởi lẽ chư Phật lúc nào cũng đầy lòng từ ái, hằng rộng độ khắp vạn dân, đâu có túng thiếu, cũng chẳng hề xài tiền bạc của thế gian mà chúng Tăng lại tởi khuyên như thế.

 

CHÚ THÍCH :

        LONG PHI XÀVĨ: Rồng bay đuôi rắn. Ý chỉ năm thìn đã qua và đến cuối năm tỵ.

        SAY MÊ: Cũng gọi là mê sa, tức say đắm mê nhiễm một cách mù quáng, không thức tỉnh rời rứt ra. Đức Thầy nói (trong GMTK, Q.4):

                “Thương lê dân còn mảng say mê,

                Chẳng tu tỉnh cho rành sương nắng”.

        VÔ HÌNH HỮU ẢNH: Không có hình tướng, nhưng có bóng (Chơn linh hay Pháp thân). Ông Sư Vãi Bán Khoai có nói:“Phật Trời hữu ảnh vô hình, Thánh Thần cũng vậy mới là oai linh”. Đức Thầy cũng cho biết:

                “Tuy là hữu ảnh vô hình,

             Chớ dân lòng tưởng sân trình đáo lai”.

                                (Từ Giã Bổn Đạo Khắp Nơi)

        ẨN XÁC PHÀM: Dấu kín Chơn linh trong xác thể phàm tục. Ý nói Đức Thầy chuyển kiếp độ đời, cũng mang xác thể như bao nhiêu người phàm tục khác, nhưng tâm hồn siêu việt hơn người thường.

        THÍCH CA: Phạn ngữ là Sakya. Họ của Phật. Tàu dịch là Năng nhơn, nghĩa là người có năng lực từ bi rộng lớn. Kinh “Di Đà Sớ Sao” nói:“Năng giả thiện quyền phương tiện khúc trực cơ nghi, Nhơn giả trí đức hồng ân phổ triêm vạn loại. Thị đại từ lợi vật dã”. (Chữ Năng là hay dùng pháp phương tiện quyền xảo tùy theo cho thích hợp các căn cơ để hóa độ; chữ Nhơn là lấy trí đức ân từ rộng lớn bủa khắp muôn loài. Thật là đại từ đại bi, tế nhơn, lợi vật của Phật vậy).

        TỪ BI: (Xem lại chú thích tại tr. 40 Tập 1/3)

        QUƠ TỞI: Quơ là lấy, vơ vét, quơ quào. Tởi là tải, quyên góp. Ví dụ: Tởi tiền cất chùa, đúc tượng…Đức Thầy từng nói:        

                “Bị Tăng chúng quá ham chùa ngói,

                  Nên tởi khuyên khắp chốn cùng làng.

                     Phật nào ham tượng cốt phết vàng,

                     Mà Tăng tạo hao tiền bá tánh”.

                                        (GMTK, Q.4)

 

                                 CHÁNH VĂN

401.  Khùng cả tiếng kêu dân ơi hỡi,

          Hãy giúp cho kẻ đói mới nhằm.

          Đến loạn-ly khổ hạnh khỏi lâm,

404.  Còn hơn đúc chuông đồng Phật bự.

          Chẳng làm phước để làm hung dữ,

          Rồi vào chùa lạy Phật mà trừ.

          Phật Tây-Phương có lẽ hiểu dư,

408.  Dụng tâm ý chớ không dụng vật.

          Muốn bổn-đạo tánh tình chơn-chất,

          Rèn lòng hiền thương xót lẫn nhau.

          Kể từ rày vàng lộn với thau,

412.  Phật, Tiên, Thánh cùng nhau xuống thế.

          Cứu bá-tánh không cần lễ mễ,

          Để dắt-dìu đạo lý rành đường.

      Nước Nam-Việt nhằm cõi Trung-Ương,

416.  Sau sẽ có Phật Tiên tại thế.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 401 tới câu 416) :

        -Đoạn nầy Đức Thầy kêu gọi bá tánh, muốn tạo phước nhân, hãy trợ giúp cho kẻ nghèo đói mới đúng lý, đã thoát qua các tai nạn khổ ách, lại còn được phước đức nhiều hơn người sắm chuông đúc tượng.

        -Ngài hằng thống trách hạng người chẳng chịu tu thân hành thiện, mãi làm điều hung ác rồi mang tiền, vật đến chùa cúng bái, cho rằng làm như vậy sẽ trừ được tội lỗi. Nào ngờ mỗi hành động, hoặc tâm niệm nhỏ nhặt nào của chúng sanh, chư Phật đều thông suốt cả và các Ngài luôn tiếp độ những ai trở về với Đạo bằng tấm lòng thành thật. Còn những kẻ tuy đem lễ vật đến chùa cúng Phật rất nhiều, song chỉ để cầu phước và chẳng thật ý tu hành, thì các Ngài không hề chấp nhận.

        -Đức Thầy hằng mong mọi người đều rèn luyện tâm tánh cho được chơn thật hiền lương, để biết:“...thương yêu lẫn nhau như con một cha, dìu dắt lẫn nhau vào con đường đạo-đức..”.(Tám Điều Răn Cấm/Điều thứ tám - tr.214 SGTVTB 2004).Trong thế gian hiện giờ, kẻ chân giả, xấu tốt, còn đang lẫn lộn. Chư vị Phật Tiên, lâm phàm độ chúng, chẳng vì lợi lộc, mà chỉ vì muốn vạch rõ con đường đạo lý, để bá tánh nương theo đó mà tu hành thoát khổ.

        -Bởi cơ luân chuyển Việt Nam sẽ nhằm trung tâm điểm của quả địa cầu:“Cõi trung ương luân chuyển phương Nam, Mở hội thánh chọn người trung hiếu”(Diệu Pháp Quang Minh) nên sau nầy và nơi đây sẽ có: Phật, Tiên, Thánh an bang cùng định quốc? (Không Buồn Ngủ) và:

        “Long Hoa Tiên Phật đáo Ta bà,

          Lừa lọc con lành diệt quỉ ma”.

                   (Thức Tỉnh Một Nữ Tín Đồ Ở Bạc Liêu)

 

CHÚ THÍCH :

        LOẠN LY: Rối loạn và tản mác, lộn xộn. Ví dụ: gặp lúc loạn ly, phân vân khổ sở. Đức Thầy bảo:“ Đời cùng ly loạn khắp chư bang”(Lộ Chút Cơ Huyền).

        KHỎI LÂM: Khỏi là thoát qua được. Lâm là gặp phải, vướng nhằm. Khỏi lâm là khỏi vướng phải. Trong Sấm Giảng Q.1, Đức Thầy có câu:

                “Đến sau khổ hạnh khỏi lâm,

                 Nhờ công tu niệm âm thầm quá hay”.

        DỤNG TÂM Ý CHỚ KHÔNG DỤNG VẬT: Câu nầy ý dạy, ai thành tâm thật ý cải hối tội lỗi thì Phật trời sẽ ứng chứng cho, chớ không phải dùng lễ vật cúng tế cho nhiều mà được. Đức Thầy hằng khuyên:

                  “Tới với Ta chớ đem đồ cúng,

                Chỉ đem theo hai chữ thành lòng”(GMTK,Q.4).

        CHƠN CHẤT: Thật thà chất phác. Đức Thầy (trong Tám Điều Răn Cấm/Điều thứ nhì) có dạy:“..phải cần kiệm, sốt sắng, lo làm ăn và lo tu hiền chơn chất”.

        VÀNG LỘN VỚI THAU: Ý nói chân giả, tốt xấu còn lộn xộn chưa phân biệt. Đây chỉ cho hiện thời: Tiên, Phàm, Ma, Phật đang ở chung lộn trong cõi thế gian, rồi đây sẽ có ngày:

                “Nấu lọc rành mới biết vàng thau,

                     Ai thật tánh ai người giả đạo” (Sa Đéc)

        LỄ MỄ: Lễ lộc. Vật thực để cúng tế (Soạn giả) – Nhiều: đầy lễ mễ thức ăn; một cách khó nhọc: mang lễ mễ (Hiệu đính).

        ĐẠO LÝ: (Xem lại chú thích tại tr. 129-131 Tập 1/3)

        NAM VIỆT: (Xem lại chú thích nơi câu 3 trên).

        TRUNG ƯƠNG: Ở giữa, chỗ chính giữa. Đức Thầy từng nói trong bài Trao Lời Cùng Ông Táo:

                “Ngày vâng chỉ đáo lai trần thế,

             Cõi Trung ương nhằm nước Việt Nam”.

 

                                  CHÁNH VĂN

417.  Khuyên sư vãi bớt dùng của thế,

          Gắng công tu đặng có xem đời.

          Tu thật tâm thì được thảnh-thơi,

420.  Tu giả-dối thì lao thì lý,

          Khùng khuyên hết kẻ ngu người trí,

          Rán tĩnh tâm suy nghĩ Đạo-mầu.

          Chuyện huyền-cơ bí-hiểm cao sâu,

424.  Hãy nghiệm xét hai đường tà chánh.

          Các chư Phật không khi nào rảnh,

          Tâm từ-bi vẫn nhớ chúng-sanh.

          Các chư Thần tuần vãng năm canh,

428.  Về Thượng-Giái tâu qua Thượng-Đế.

          Sổ tội ác thì vô số kể,

          Còn làm nhơn thì quá ít-oi.

          Hội công-đồng xem xét hẳn-hòi,

432.  Sai chư tướng xuống răn trần-thế.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 417 tới câu 432) :

        -Đức Giáo Chủ hằng khuyên các sư vãi bớt hưởng dụng tiền vật của thập phương và cố gắng trau sửa thân tâm cho được toàn thiện, hầu sau nầy đặng xem cảnh đời biến đổi. Nếu ai thành lòng tu niệm sẽ được giải thoát an vui, bằng tu dối thế, phải gánh chịu vô vàn lao khổ.

        -Ngài kêu gọi khắp mọi người hãy mau thức tỉnh, dốc hết tâm trí suy nghiệm lẽ diệu mầu trong Đạo pháp, để xác định được hai đường tà chánh, thì sự tu mới khỏi bị lầm lạc.

        -Lòng từ bi của chư Phật lúc nào cũng thương xót chúng sanh, hằng tùy phương cứu độ. Các bậc Thần Thánh ngày đêm luôn tuần du xem xét điều tội phước của nhân gian để tấu trình về Thượng Đế.

        Xét ra thấy điều tội ác của chúng sanh quá nhiều, còn việc nhơn hiền quá ít, nên các Ngài hội công đồng phân xử, quyết định cho chư tướng xuống trần, răn phạt kẻ hung ác.

 

CHÚ THÍCH :

        GẮNG CÔNG: Cố công, đem hết tâm lực làm một việc gì. Ví dụ: Gắng công học tập, gắng công hành Đạo. Đức Thầy bảo trong Giác Mê Tâm Kệ, Q.4:

                “Gắng công tu xem nhiều phép lạ”.

        Và trong Khuyến Thiện, Q.5:

                “Gắng công trì niệm sớm khuya”.

        TU THẬT TÂM: Thật lòng tu sửa, không dối trá.

        THẢNH THƠI: Rảnh rang, thung dung, không bị ràng buộc lo nghĩ. Ví dụ: Cảnh sống thảnh thơi, và: “Bao giờ đồng ruộng thảnh thơi, Nằm trâu thổi sáo vui đời Thuấn Nghiêu”(Ca dao). Đức Thầy hằng dạy:

                “Nghe Điên dạy sau nầy thơi thảnh,

                   Đây chỉ đường Cực Lạc vãng sanh”

(Kệ Dân, Q.2)

        TU GIẢ DỐI: Không thành thật tu hành, giả dạng mang sắc áo nhà tu, nhưng không quyết lòng tu sửa, chỉ ẩn dương nương Phật, lòng luôn mưu tính lợi dụng bá tánh.

        TỈNH TÂM: (Xem lại chú thích nơi câu 20 trên).

        ĐẠO MẦU: (Xem lại chú thích tại tr. 280 Tập 1/3).

        HUYỀN CƠ:(Xem lại chú thích tại tr. 40 Tập 1/3 )

        BÍ HIỂM: Bí mật sâu kín.

        NGHIỆM XÉT: Ngẫm nghĩ, suy xét kỹ lưỡng.

        TỪ BI: (Xem lại chú thích tại tr. 40 Tập 1/3).

        TUẦN VÃNG: Đi qua lại để xem xét. Ví dụ: Vua phái các khâm sai đi tuần vãng các tỉnh, huyện…

        NĂM CANH: Theo giờ giấc thời xưa, một đêm có 5 canh, mỗi canh là 2 tiếng đồng hồ: Từ  8 giờ tới 10 giờ  là canh một, từ 10 giờ tới 12 giờ là canh hai, từ 12 giờ (giữa đêm) tới 2 giờ sáng là canh ba, từ 2 giờ sáng  tới 4 giờ sáng là canh tư, từ 4 giờ sáng đến 6 giờ sáng là canh năm.. Ông Ba Thới có câu:        

                “Đêm năm canh thổn thức chẳng an,

                  Ngày sáu khắc sầu riêng đoạn đoạn”.

        THƯỢNG ĐẾ: Vua cõi Trời. Chỉ cho Ngọc Hoàng Thượng Đế.

        VÔ SỐ: Nhiều lắm, không thể đếm hết.

        CÔNG ĐỒNG: Cùng chung nhau, toàn thể. Có tánh cách một hội nghị mở rộng:“Công đồng hoạch định san hà, Nước ai nấy ở nhà nhà tự do( Đi Khuyến Nông Về).

        HẲN HÒI: Cũng gọi là hẳn hoi. Có nghĩa tiêm tất đường hoàng, có quy định chắc chắn. Ví dụ: Làm việc hẳn hòi.

 

                                 CHÁNH VĂN

433.  Đau nhiều chứng dị-kỳ khó kể,

          Sắp từ nay lao-khổ đến cùng.

          Kẻ dương gian khó nỗi thung-dung,

436.  Người bạo ác không toàn tánh mạng. 

          Đường đạo-lý chớ nên chán-nản,

          Hãy bền lòng tầm Phật trong tâm.

          Phật Tây-Phương thiệt quá xa-xăm,

440. Phải tìm kiếm ở trong não trí.

          Sau đến việc sơn băng kiệt thủy,

Khùng thảm thương bá-tánh quá chừng.

          Nhìn xem trần nước mắt rưng-rưng,

444.  Cảnh áo-não kể sao cho xiết. 

          Ta dạy-dỗ là vì tình thiệt,

          Cho bá-gia rõ biết người Khùng.

          Thấy dương-trần làm dữ làm hung,

448.  Nên khuyên nhủ cho người lương-thiện.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 433 tới câu 448) :

        -Đoạn giảng trên ý cho biết, bởi chúng sanh quá gian ác, nên Thượng Đế răn phạt, từ đây dân chúng vướng phải nhiều bịnh tật kỳ lạ, nếu kẻ nào còn tiếp tục gây tạo việc tội ác, tất tự chuốc lấy mọi điều thống khổ và khó bảo tồn thân mạng.

        -Trên đường tu học Đạo pháp, hành giả không nên nản lòng (bán đồ nhi phế) mà “Phải bền lòng chặt nẻo sắt đinh”(Diệu Pháp Quang Minh). Và ai muốn gặp Phật chẳng cần phải tìm xa xôi bên ngoài, mỗi người nên dùng trí sáng suốt tìm lại Phật tâm của mình. Bởi Đức Phật xưa từng bảo:“Nhơn nhơn hữu tánh Như Lai”, Đức Thầy nay cũng nhắc lại:“Các chúng sanh đều có như Ta”(Khuyến Thiện, Q.5). Vậy, nhà tu vừa nương theo giáo pháp, vừa dùng trí lực của mình phá tan màn vô minh, tức Phật tánh hiện bày, chứng thành Đạo quả.

        -Đức Thầy cũng cho biết đến lúc biến đổi cuộc đời, sẽ có cảnh hãi hùng thảm khốc đưa đến cho nhân loại. Vì lòng quá thương xót sanh linh cứ lăn sả vào con đường tội ác, nên Ngài mới truyền dạy lời chân thật cho bá tánh rõ, hầu sớm cải dữ về lành.

 

CHÚ THÍCH :

        DỊ KỲ: Lạ lùng, khác thường.

        THUNG DUNG: Thảnh thơi, thong thả.

        CHÁN NẢN: Ngã lòng thối chí, không thiết đến nữa. Ví dụ: Trên đường tu học vẫn tiến hành, không hề chán nản, quyết định sẽ thành công. Đức Thầy hằng khuyên:“Chớ nản chí đường tu bỏ líp”.(Cho Ông Tham Tá Ngà).

        TẦM PHẬT TRONG TÂM: (Xem chú thích “Phật nọ tức tâm” tại tr. 159 Tập 1/3 và nơi câu 283 trên ).

        XA XĂM: Rất xa, xa lắm, cũng có nghĩa như chữ xa khơi. Ví dụ: Ngàn dặm xa xăm.

        NÃO TRÍ: Trí óc sáng suốt. Đức Thầy từng dạy: “Nghe sơ lời Lão cạn bày, Tìm trong não óc gặp ngày bình an” (Từ Giã Bổn Đạo Khắp Nơi).

        SƠN BĂNG THỦY KIỆT: Cũng gọi là thủy kiệt sơn băng. Có nghĩa núi bị vỡ (lở), nước bị hết (khô cạn). Điềm báo tin quốc gia sắp bị tai nạn tức nước mất nhà tan, dân chúng gặp hồi đói đau khổ sở.

        Truyện Đông Châu Liệt Quốc có chép:

        Một hôm Vua nhà Châu (U Vương) đang thiết triều tại Kỳ Sơn có quan Thủ Thần vào tâu:

        - Chẳng biết cớ gì sông Kinh, sông Hà, sông Lạc cùng động đất một lượt.

        U Vương mỉm cười nói:

        -Núi lở, đất động là lẽ thường, nhà ngươi tâu với Trẫm làm gì ?

        Quan Thái sử Bá Dương trở ra cầm tay quan Đại phu Triệu Thúc Đái than rằng:

        -Thuở trước sông Ỷ, sông Lạc cạn, nhà Hạ mất; sông Hà cạn nhà Thương hư. Nay cùng một lúc ba con sông đều động cả, ấy là Trời muốn lấp nguồn, nhà Châu khó tránh sự tai biến.

        Sau vài hôm có tin núi Kỳ Sơn lở, đè chết dân chúng rất nhiều.  Quan Thái Sử đoán rằng:

        -Nếu vua biết răn mình thì chừng 10 năm nữa loạn mới đến, bằng không thì mau hơn.

        Chữ “Sơn băng thủy kiệt” ở đây là chỉ cho cảnh:

                “Nay tận diệt lập đời trở lại,

                     Khắp lê thứ biến vi thương hải,

           Dùng phép mầu lập lại Thượng ngươn”.     

                                        (Kệ Dân, Q.2)

        ÁO NÃO: Sầu thảm, buồn bực. Đức Thầy có câu:“Áo não thương đời đa đói khổ, U buồn trăm họ vẽ vài câu”(Khuyên Người Giàu Lòng Phước Thiện).

        LƯƠNG THIỆN: Người hiền lành tốt đẹp, không vô tình hay cố ý gây thiệt hại cho một chúng sanh nào khác. Đức Thầy từng nói trong bài “Không Buồn Ngủ”:

                “Phật từ bi đặng chữ thanh cao,

          Người lương thiện hưởng muôn điều hạnh phúc”.

 

                                CHÁNH VĂN

449.  Chữ Lục-Tự trì tâm bất viễn,

          Thì lâm nguy có kẻ cứu mình.

          Ai lòng nhơn hoặc chép hay in,

452.  Mà truyền-bá đặng nhiều phước-đức.

          Trong bá-tánh từ nay buồn bực,

          Khùng yêu dân chỉ rõ Đạo mầu. 

          Rán trì tâm tưởng niệm canh thâu,

456.  Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp.

          Việc biến chuyển Thiên-Cơ rất gấp,

          Khuyên chúng-sanh hãy rán tu hành. 

          Cầu linh-hồn cho được vãng-sanh,

460.  Đây chỉ rõ đường đi nước bước.

          Hãy tưởng Phật đừng làm bạo ngược,

          Ta phần hồn dạo khắp thế-gian.

          Vào xác-trần nước mắt chứa-chan,

464.  Khắp lê-thứ nghe lời thì ít .

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 449 tới câu 464) :

        -Đoạn nầy Đức Giáo Chủ khuyên: nếu ai chuyên tâm trì niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, không để phút nào gián đoạn, thì lúc gặp tai nạn nguy hiểm sẽ được Phật Trời gia hộ, hoặc có người cứu thoát.

        Cách đây (1975) khoảng 40 năm, báo chí có đăng câu chuyện ba anh Sĩ quan nọ, cùng đi trên chiếc phi cơ, rủi bị hư máy rớt xuống biển. Có điều lạ là phi cơ bị hư nhưng không chìm liền và ba anh chẳng bị thương tích gì cả. Phi cơ khác tới cứu, vớt ba anh lên, tức thời chiếc phi cơ hư chìm lút xuống nước. Sau hỏi ra được biết ba người ấy đã tu theo Pháp Môn Tịnh Độ và lúc nguy ngập đó chỉ còn biết niệm Phật chờ chết, không ngờ được thoát nạn.

        Trường hợp nầy, suốt thời gian binh lửa tại đất nước Việt Nam, có rất nhiều người niệm Phật được  hưởng  ân huệ của Phật Thần. Nghĩa là nhờ sự chí tâm niệm Phật mà các người ấy đã bao lần thoát chết trước làn gió đạn mưa bom. Ông Sư Vãi Bán Khoai từng bảo:

                “Niệm Phật có Phật vãng lai,

              Lâm cơn nạn tám Phật sai cứu mình”.

        -Đức Thầy hiện nay cũng từng nhắc nhở:

                “Lòng sáu chữ nhớ không có ngớt,

                   Thì nạn tai cũng thoát như không”

(Sa Đéc)

        Ngài cũng hằng kêu gọi người nào có lòng nhơn, nên in hoặc chép lời kệ giảng để truyền bá sâu rộng trong quần chúng, sau nầy sẽ được nhiều phước lợi:

                “Ai làm phước in ra mà thí,

             Thì được nhiều hạnh phúc sau nầy”

(GMTK, Q.4)

        Vì cơ trời chuyển xoay quá gấp nên Đức Thầy giục thúc bá gia hãy mau tu tiến trên đường Đạo do Ngài đã chỉ vạch sẵn và rán hành trì Pháp Môn Niệm Phật để lúc lâm chung được vãng sanh về Cực Lạc.

        -Đồng thời mỗi người hãy tự diệt bỏ những hành động ngang tàng hung ác, giữ tư tưởng, ngôn ngữ cho thuần chánh và luôn luôn tưởng Phật nhớ Phật. Tuy hiện giờ Đức Thầy  nơi xa nhưng lúc nào Ngài cũng dùng hóa thân dạo khắp trần gian để rộng độ chúng sanh:“Tuy là hữu ảnh vô hình, Chớ dân lòng tưởng sân trình đáo lai”.(Từ Giã Bổn Đạo Khắp Nơi). Ngài nhìn thấy số người nghe Kệ Giảng quá ít, phần đông là mắt lấp tai ngơ, nên lòng Ngài ngập tràn nỗi buồn thương, chứa chan dòng lệ.

 

CHÚ THÍCH :

        CHỮ LỤC TỰ: Sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật.

        TRÌ TÂM: Giữ gìn lòng mình cho thuần nhứt một niệm Phật, không hề để một vọng tưởng nào khác xen tạp.

        BẤT VIỄN: Chẳng lìa xa. Ý nói tâm không để tiếng niệm Phật vắng lâu mà phải niệm nối liền như dây xích, khoen nầy mắc liền khoen khác.

        LÂM NGUY: Gặp lúc nguy hiểm nghèo ngặt.

        LÒNG NHƠN: (Xem chú thích chữ “nhơn ái” tại câu 281 trên).

        TRUYỀN BÁ: Gieo rải khắp nơi. Ý nói đem giáo lý pháp mầu phổ biến rộng ra. Thuở xưa Đức Phật từng bảo: “Các con muốn đền ơn Ta ư ? Thì Giáo pháp của Ta đó ! Hãy gắng mà học đi, hãy cố mà hành đi, và hãy quyết mà truyền đi. Mọi sự cúng dường tán Phật, không bằng đem giáo pháp của Ta mà quảng bá”.

        Nay Đức Thầy cũng thường khuyến tấn:

        “Nên cố gắng trau thân gìn đạo,

       Hiệp cùng nhau truyền bá Kinh lành”.

                                (Khuyến Thiện, Q.5)   

        PHƯỚC ĐỨC: Cũng gọi là phúc đức. Làm những việc có ích lợi cho mọi người gọi là phước, lòng nhơn ái từ thiện đối với vạn loại chúng sanh gọi là đức. Người có phước đức luôn có lòng Từ, Bi, Hỉ, Xả và tận tâm giúp đỡ muôn loài những điều phúc lợi. Đức Thầy có câu:“Phước đức quí hơn bạc vàng”(K/Thiện, Q.5) Và:“”Ai nhiều phước đức được vào cõi Tiên”(Sám Giảng, Q.3).

        ĐẠO MẦU: (Xem lại chú thích tại tr. 280 Tập 1/3).

        TƯỞNG NIỆM: Tưởng nhớ. Tưởng Phật, nhớ Phật. Đây ý bảo phải luôn tưởng nhớ sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”.

        CANH THÂU: (Xem lại chú thích tại tr.189 Tập 1/3)

        LINH HỒN: (Xem lại chú thích tại tr.59 Tập 1/3)

        VÃNG SANH: (Xem lại chú thích tại tr.209 Tập 1/3)

        BẠO NGƯỢC: Tàn bạo ngang ngược.

        CHỨA CHAN: Cũng đọc là chan chứa. Có nghĩa dẫy đầy linh láng. Bài “Mượn Cây Đuốc Huệ” có câu:

             “Nghĩ cuộc đời mà chan chứa nỗi hao mòn,

                Xem cảnh thế luống xót xa niềm chích mát”.

                       
                          CHÁNH VĂN

465.  Chốn sơn-lãnh bây giờ mù-mịt,

          Cho nên dân dạy chẳng nghe lời.

          Kể từ nay nói chuyện chiều mơi,

468.  Chớ chẳng nói dông dài khó hiểu.

          Cờ đã thất còn chờ nước chiếu,

          Mà còn ăn con chốt làm chi.

          Ai là người quân-tử tu mi ? 

472.  Phải sớm xử thân mình cho vẹn.

          Chừng lập Hội khỏi thùa khỏi thẹn,

          Với Phật-Tiên cũng chẳng xa chi.

          Lời cao-siêu khuyên hãy gắn ghi,

476.  Ta ra sức dắt-dìu bá-tánh.

 

           NAM-MÔ TAM-GIÁO QUI NGUƠN,

             PHỔ-ĐỘ CHÚNG-SANH A-DI-ĐÀ PHẬT

 

                LƯỢC GIẢI (từ câu 465 tới câu 476) :

        -Bởi nhìn lên các đỉnh núi miền Thất Sơn, vẫn còn mờ mịt những cây lẫn đá, chưa thấy gì gọi là quí báu, nên dân chúng chẳng chịu nghe lời giáo khuyên. Đức Giáo Chủ cho biết, từ đây Ngài sẽ nói những chuyện gần bên, trước mắt cho chúng sanh dễ hiểu, chớ không nói dài dòng hay ẩn dấu điều chi.

        -Cuộc cờ của đất nước sắp tới hồi chiếu bí mà trong bá tánh mãi còn đắm say quyền tước vị danh, để rồi mai đây phải ôm sầu nuốt hận. Cho nên Đức Thầy từng kêu gọi (trong bài Thiên Lý Ca):

                “Cả kêu kìa hỡi là ai,

          Quan trường rời rứt mặt mày chùi lau.

                     Lui chơn ra khỏi cho mau,

           Tầm trong lánh đục tẩu đào mới ngoan”.

                -Vậy ai là người nam nhi quân tử hãy sớm tu thân lập đức, ngôn hạnh song toàn, hiếu trung gồm đủ và diệt trừ các nghiệp nhân tội ác. Có thế, mới không tủi hổ trong ngày Long Hoa đại hội và được kiến diện Phật Tiên, chung hưởng cảnh đời Thượng ngươn Thánh đức.

        -Trước khi dừng bút, Đức Thầy nhủ khuyên mỗi người hãy ghi nhớ những lời cao sâu, mầu nhiệm trong đây hầu sớm hôm trau giồi đạo hạnh. Riêng Ngài lúc nào cũng dốc hết tâm lực để “Dìu nhơn sanh khỏi chốn mê lầm, Bờ giác ngạn kiên tâm lần bước tới”(Tặng Bác Sĩ Cao Triều Lợi).

        -Chót hết Ngài dạy: Khi xem hết quyển Kệ Dân nầy, mỗi người đều tâm nguyện với Đức Phật A Di Đà cùng chư Phật, Thánh, Tiên đồng từ bi tế độ khắp chúng sanh, sớm thoát mê về giác.

 

CHÚ THÍCH :

        SƠN LÃNH: Cũng viết là sơn lĩnh. Có nghĩa: chót núi hay đỉnh núi. Ý chỉ cảnh rừng núi miền Thất Sơn.

        CỜ ĐÃ THẤT CÒN CHỜ NƯỚC CHIẾU, MÀ CÒN ĂN CON CHỐT LÀM CHI ?: Trong bàn cờ tướng, một bên đã thất, chỉ còn nước chiếu nữa là biết ăn thua, thế mà người trong cuộc lại lo ăn con chốt làm chi, cho luống công vô ích; bởi nó không phải là con cờ quan trọng. Ý nói cuộc thế sắp đến hồi biến hoại, cơ tạo hóa sẽ chọn lọc hiền còn, dữ mất, tại sao bá tánh chẳng sớm lo trau thân lập hạnh, lại mãi chạy theo danh lợi ảo huyền. Vì những quyền lợi cao sang ấy không thể cứu sống được mình; trái lại, nó thường kéo mình vào khổ nạn đau thương !

        -Đây còn có nghĩa chỉ  người Pháp sắp bị mất quyền ở đất nước Việt Nam mà kẻ gian nịnh còn bám theo chúng để mưu cầu quyền lợi nhỏ nhen, nhơ xấu, nên Đức Thầy giác tỉnh họ (trong SấmGiảng Q.1):

                “Đừng ham làm chức nắc nia,

             Ngày sau như khóa không chìa dân ôi !”

        QUÂN TỬ: Người có phẩm hạnh cao khiết, lòng nhân ái rộng lớn và chí đức, tài năng siêu xuất hơn kẻ thường. Thánh nhân từng bảo:“Quân tử ái nhân dĩ đức” (Người Quân tử lấy Đạo đức mà thương người). Đức Thầy từng nói:

                “Chí Quân tử lòng nhơn vạn đại,

                     Dốc làm sao rõ mặt tang bồng”.

                                (Diệu Pháp Quang Minh)

        Vậy ai muốn trở thành bậc “Nam nhi Quân tử”, phải tự lo tu sửa tánh tình, ngôn hạnh, đến xử sự đều đứng đắn tốt đẹp. Cho nên người quân tử lúc nào cũng chỉ cầu ở nơi mình:“Quân tử cầu chư kỷ”.

        Thuở xưa Ngụy Văn Hầu hỏi Hồ Quyển Tử rằng:

        -Cha hiền có đủ nhờ cậy chăng ?

        Hồ Quyển thưa:

        -Không đủ ?

        - Con hiền có đủ nhờ cậy không ?

        - Không đủ.

        - Anh hiền có đủ nhờ cậy không ?

        - Không đủ.

        - Em hiền có đủ nhờ cậy không ?

        - Không đủ.

        - Bầy tôi hiền có đủ nhờ cậy không ?

        - Không đủ.

        Văn Hầu đổi sắc mặt, gắt: Quả nhân hỏi nhà ngươi năm điều, mà điều nào ngươi cũng cho là không đủ, tại cớ làm sao ?

        Hồ Quyển thưa:

        - Cha hiền không ai hơn Vua Nghiêu mà con là Đan Chu phải bị đuổi. Con hiền không ai hơn Vua Thuấn mà cha là Cổ Tẩu thật ngoan ngạnh, độc ác. Anh hiền không ai hơn Vua Thuấn mà em là Tượng rất ngạo mạn. Em hiền không ai hơn Chu Công mà Quản Thúc bị giết. Bầy tôi hiền không ai hơn ông Thang, ông Vũ mà Vua Kiệt vua Trụ mất nước…Mong nhờ người không như ý, cậy người không được bền lâu. Nhà vua muốn cho nước được bền trị thì phải cậy ở mình trước, hơn là mong nhờ người khác.(Dẫn theo Cổ học Tinh hoa).

        Chuyện trên đây là mặt xử sự trong đời, muốn được thành công còn phải do nơi sức mình là trước nhất. Đến như người muốn tiến xa trên đường đạo hạnh thì trước phải cần tu thân xử kỷ, sau mới được sự tiếp độ của Phật Tiên.

        TU MI: (Xem lại chú thích nơi câu 111 trên).

        VỚI PHẬT TIÊN CŨNG CHẲNG XA CHI: Bởi tâm tánh của Phật Tiên và chúng sanh đồng một bản thể (Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh). Tất cả đều có từ vô thỉ, song vì các Ngài sớm giác ngộ và tiến hóa, nên trở thành Tiên Phật. Còn chúng ta mãi đắm mê trần tục, tạo nhiều nghiệp nhân, tội lỗi, nên bị luân hồi sanh tử, từ vô lượng kiếp, nay vẫn còn làm chúng sanh. Nếu giờ đây ta biết giác ngộ tu hành, diệt sạch lòng phàm phu vọng tưởng, tức được trở thành Tiên Phật như các Ngài:“Phật Tiên Thánh muôn loài vạn vật, Cũng ở trong quả đất dựng gầy”(Thu Đã Cuối)

        Xưa, Đức Lục Tổ đã bảo:“Chư Thiện tri thức, phàm phu tức là Phật, phiền não tức là Bồ đề. Niệm trước mê muội tức là phàm phu, niệm sau giác ngộ tức là Phật. Niệm trước dính cảnh tức là phiền não, niệm sau lìa cảnh tức là Bồ đề”.

        CAO SIÊU: Quá cao, vượt trên mức thường. Ví dụ: Ý nghĩa cao siêu. Đức Thầy từng nói:

                “Chuyện cao siêu Phật pháp còn dài,

                   Khó gặp chữ không không mà có”.(Sa Đéc)

        GẮN GHI: (Xem lại chú thích tại tr. 174 Tập 1/3)

        NAM MÔ: (Xem lại chú thích tại tr. 81 Tập 1/3)

        TAM GIÁO: Ba Tôn Giáo lớn:Thích (Phật), Khổng ( Thánh), Lão (Tiên). Đức Thầy có câu:

        “Trong Tam giáo ân cần mở Đạo,

          Trường ngoại bang phục đáo như xưa

(Thiên Lý Ca)

        QUI NGUƠN: Cũng gọi là qui nguyên. Có nghĩa hiệp về một gốc. Đức Thầy bảo trong bài “Đến Làng Nhơn Nghĩa”:“Dưới trên hòa thuận chọn đường quy nguyên”.

        PHỔ ĐỘ: Cứu độ khắp cả, tế độ các giới chúng sanh thoát khỏi cảnh mê đồ thống khổ. Đức Thầy từng cho biết:

                “Oai thần đem Đạo huyền thâm,

                 Nhiệm mầu phổ độ âm thầm ai hay”./.

 

Comments