2011/09/15 - Tìm hiểu về Tam Thừa

Tìm hiểu về TAM THỪA


Kính thưa quý đồng Đạo,

Từ trước đến nay, những bài Góp Ý non kém của người viết không ngoài chủ tâm là đem Giáo Lý của Đức Thầy cho mọi người biết rõ vsự siêu mầu của nền ĐẠO PGHH mà khuyến tấn tu hành đến nơi, đến chốn.

Hôm nay, chúng tôi xin phép tạm đi xa một chút, đó là tìm hiểu lý TAM THỪA của thời Đức Phật. Bởi vì trong Quyển 5 “Khuyến Thiện”, Đức Thầy cũng có nhắc đến:

Hồi thế kỷ khoảng trong thứ sáu,

Trước kỷ nguyên Tây lịch thời xưa.

Pháp Giáo chưa biệt lập Tam Thừa,

Thuở Trung Quốc nhà Châu Chiêu Đế.

Trước đây khi đọc đến đoạn Sấm Giảng nầy, chúng tôi chỉ biết lờ mờ về chữ Tam Thừa và chưa hiểu nghĩa lý là gì. Vì vậy, chúng tôi cố gắng sưu tầm và tra cứu trong Phật Học Từ Điển, nay xin được trình bày về ý nghĩa chữ TAM THỪA như sau:

TAM THỪA: Ba cỗ xe dùng để chở chuyên. Tức là ba khoa giáo. Mỗi khoa giáo có thể đưa nhà tu học đến Niết bàn, Cõi thanh tịnh.

Tam Thừa là: Thinh văn thừa, Duyên giác thừa (Bích chi Phật thừa) và Bồ tát thừa, tức là Đại thừa. Tam thừa đối với Nhứt thừa, Phật thừa.

Những vị trong thừa Thinh văn thì tuân theo lời dạy của Đức Như Lai mà hành Tứ Diệu Đế, bèn đắc đạo, thành La Hán và nhập Niết bàn.

Những vị trong thừa Duyên giác thì tuân theo lời dạy của Đức Như Lai mà tu hành và diệt Thập Nhị Nhân Duyên, bèn đắc quả Duyên Giác và nhập Niết bàn.

Những vị trong thừa Bồ tát thì tuân theo lời dạy của Đức Như Lai mà cầu cái Toàn giác, cầu cái An lạc cho mình, vừa tế độ chúng sanh bằng Lục Độ (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ ) và quyết đưa họ đến Niết bàn. Trong khi hành Lục Độ, các vị ấy thành Bồ tát Ma ha tát.

Trong Kinh Pháp Hoa, Phật Thích Ca có giảng rằng: Ban đầu, Ngài tạm dùng Tam Thừa giáo mà độ chư đệ tử. Về sau, Ngài thuyết giáo đầy đủ, dồn Tam Thừa thành một thừa duy nhứt tức Nhứt thừa, Phật thừa.

Tam Thừa của Phật ví như ba cỗ xe:

- Thừa Thinh văn ví như xe Dê (dương xa).

- Thừa Duyên giác ví như xe Huơu (lộc xa).

- Thừa Bồ tát ví như xe Bò (ngưu xa).

Tỷ như người Trưởng giả kia muốn cứu bầy con ra khỏi cảnh nhà cháy, hứa đem đồ chơi cho con đặng con chạy ra.

Đàn con chạy ra xong, người Trưởng giả có ba thứ xe: xe Dê, xe Hươu, xe Bò. Song người cha lại đem thứ xe lộng lẫy nhứt là xe Bò trắng lớn mà cho chúng con mặc tình chạy chơi cho thích ý.

Đức Phật cũng như thế, ban đầu Ngài truyền Tam Thừa, kế sau thấy chúng sanh thuần thục, Ngài bèn truyền cái Đại thừa, Nhứt thừa đặng chúng sanh vừa vui hưởng, vừa tu tập cho mau thành Phật.

Vậy, Tam Thừa là phương tiện tùy nghi thuyết pháp, còn Đại thừa, Nhứt thừa, Phật thừa mới thật là cỗ xe duy nhứt đưa những nhà tu hành đến cõi toàn giác, thành Phật Đạo.

Vậy Đức Phật chia từ phương tiện tới cứu cánh cho người tu học hiểu rõ ba Thừa để hành theo thứ tự từng bước. Thật ra, tuy có nhiều phương tiện nhưng cứu cánh chỉ là một.

Trong quyển Chú giải Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ, cố đồng đạo Thiện Tâm cũng có giải thích về nghĩa lý chữ Tam Thừa như sau:

TAM THỪA: Cũng gọi là Tam Thặng, do Phạn ngữ (Trujana) có nghĩa là 3 cỗ xe, tức là ba khoa giáo lý để độ ba hạng người tu Phật.

Sở dĩ Đức Phật phân làm Tam Thừa là vì sau khi Phật thành Đạo, Ngài thuyết Kinh Hoa Nghiêm trọn 21 ngày mà các hàng Thinh Văn không lãnh hội được. Phật mới quán xét căn cơ của các giới chúng sanh chẳng đồng nhau, nên dùng phương tiện thuyết ra Tam Thừa, gồm có:

        1/-Đại Thừa: (Đại Thặng), cũng gọi là Bồ Tát thừa để độ bậc Đại căn, Đại trí đến quả Diệu Giác và hóa độ chúng sanh vô số mà không biết mỏi. Ví như xe Trâu có sức mạnh chuyên chở được nhiều người.

        2/-Trung Thừa: (Trung Thặng), cũng gọi là Duyên Giác thừa để độ bực Trung căn, Trung trí đến quả Đẳng giác, nhưng phần giác tha không được rộng lớn. Ví như xe Nai, có thể chở được một ít người.

        3/-Hạ Thừa: Cũng gọi là Thinh Văn thừa để độ bực Hạ căn, Hạ trí đến quả Thánh Đạo, chỉ tự độ chớ chưa được phần độ tha. Ví như xe Dê có sức chở được một người.

Theo thời nay ta có thể ví ba xe ấy, như: Xe lửa, xe xích lô máy và xe đạp. Trong ba thừa kể trên, tuy có cao thấp khác nhau, nhưng thừa nào cũng đưa người tu hành ra khỏi Tam giới (giải thoát sanh tử), và các bậc tu học ấy, cũng lần lượt tiến lên tối thượng Nhứt thừa (Phật thừa) như nhau.

Đặc biệt về Giáo lý PGHH, Đức Thầy cũng dạy:“Đường đạo đức bước đi từ nấc”. Hay:

“Lựa cho phải kèo xưa danh mộc,

Đừng để lầm thợ khéo sơn da”.

        Đọc Sấm Giảng & Thi Văn Giáo lý của Đức Thầy, chúng ta thấy Ngài cũng chỉ rất nhiều phương tiện nhưng cứu cánh cũng là môt.

Phần đông chúng ta ai cũng muốn tu mau, tu đắc. Nhưng nếu đọc Quyển Thứ Sáu “Những Điều Sơ Lược Cần Biết Của Kẻ Tu Hành” trong đó Đức Thầy giải rất rõ về: Hạng tại gia, Hạng xuất gia, Tam nghiệp, Bát Chánh Đạo, Cách thờ phượng…

Theo thiển nghĩ của người viết, nếu trong chúng ta ai cũng đọc cẩn thận Quyển Thứ Sáu (chỉ có 22 trang giấy mà thôi), và hành đúng theo lời chỉ dạy của Đức Thầy trong đó, chắc chắn chúng ta sẽ đắc quả Đạo hoàn toàn, không cần phải truy tìm nhiều Kinh Sách khác cho mệt sức. (Đôi khi còn bị “tẩu hỏa nhập ma” là khác!).

Tóm lại tu hành theo Giáo Lý PGHH mà Đức Thầy kính yêu đã dày công hoằng hóa thì không cần phải xuất gia mà ở tại nhà tu hành vẫn đạt thành chánh quả:

Ta là cư sĩ canh điền,

Lo nghề cày cuốc cũng chuyên tu hành.

Xa nơi tranh đấu lợi danh,

Giữ lòng thanh tịnh tánh lành trau tria.

Gắng công trì niệm sớm khuya,

Thân tuy còn tục tâm lìa cõi mê.

                                                                    (Khuyến Thiện - Quyển 5)

        Nam mô A Di Đà Phật !

         TRƯƠNG VĂN THẠO

Comments