2011/08/29 - ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO

                                                        ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO 


Sách SỬ từ ngàn xưa đến nay phần nhiều đều chọn TAM PHÂN cho có thứ tự dễ hiểu và dễ chứng minh. Chẳng hạn như:

        Về Đạo thì có Tiểu thừa, Trung thừa và Đại thừa.

        Về Đời cũng có ba hạng là Hạ, Trung và Thượng.

Về Xã hội và Tôn Giáo cũng không ngoại lệ. Nếu trong ba hạng mà gồm vào chỉ một thôi, thì sẽ sanh loạn.

        Đức Thầy trong bài “Tự Thán” cũng cho biết:

                “Phật ma, ma Phật mới ra vở tuồng.

                 Trời già tay khéo, khéo luôn,

                 Sắp chi chua ngọt pha buồn lẫn vui?”.

        Thế nên vui quá chưa hẳn là tốt, mà sầu bi quá thì làm sao sống nổi? Vì vậy, phải có vui buồn lẫn lộn. Vì nó là Trung Đạo.

        Sau đây, chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của chữ Trung Đạo theo Phật Học Tự Điển và lời chỉ của Đức Thầy về Trung Đạo, để coi ta phải chọn đường nào cho hợp với căn cơ của mình để hành cho đúng với lời Đức Phật, Đức Thầy chỉ dạy.

        Trước hết, Trung Đạo là từ được dùng chỉ chung các phương pháp giảng dạy của Phật Thích-ca Mâu-ni, là người tránh những cực đoan trong cách tu học - như buông thả theo dục lạc và sống khổ hạnh tuyệt đối.

TRUNG ĐẠO: Đạo trung hòa. Trung nghĩa là hòa hợp, chẳng phân hai; ở chánh trung, chẳng nghiêng, chẳng lệch, chẳng thái quá, chẳng bất cập.

        Khi thành Đạo, Đức Phật xuống thành Ba-La-Nại, vào vườn Lộc Uyển giảng lý Trung Đạo với năm vị Tỳ Kheo (Ngũ Tỳ kheo). Ngài cũng giảng thêm Đạo Bát Chánh. Nghe xong, năm vi ấy đều đắc quả La Hán.

        Tam Luận Tông cho tám điều “chẳng” là trung Đạo: 1.-Chẳng sanh, 2.-Chẳng diệt, 3.-Chẳng đoạn, 4.-Chẳng thường, 5.-Chẳng một, 6.-Chẳng hai, 7.-Chẳng lại, 8.-Chẳng đi.

Đem hòa hiệp là: 1.-Chẳng một cũng chẳng hai, 2-Chẳng thường cũng chẳng đoạn, 3-Chẳng lại cũng chẳng đi, 4.-Chẳng sanh cũng chẳng diệt. Ấy kêu là Trung Đạo.

Niết Bàn Kinh: những phái ngoại Đạo, phái thì nói cái ta (ngã) là Thường, phái thì nói cái ta là Đoạn. Đức Như Lai chẳng như vậy, Ngài cũng nói Hữu ngã (có ta) mà cũng nói Vô ngã. Ngài tùy theo trình độ và phương tiện, khi thì nói có ta, khi thì nói không ta. Đó kêu là TRUNG ĐẠO.

Tìm hiểu thêm về TRUNG ÂM: Trung hữu. Trung: khoảng giữa. Âm: Ngũ âm, thân mạng, ở khoảng giữa.

        Người ta sống rồi thác. Sau khi thác rồi mà chưa sanh lại, trong thời gian ấy, ở âm cảnh, người ta vẫn có đủ ngũ âm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) tức có đủ thân mạng, đó kêu là Trung Âm. Cũng viết: Âm trung âm, Ngũ âm trung âm: Năm âm cõi Trung âm.

Thân mạng đời nầy kêu là hiện âm. Hiện tại âm. Thân mạng sau khi thác, kêu là Trung âm. Thân mạng sau khi đầu thai trở lại kêu là Hậu âm.

Trong phái Tiểu Thừa, Câu Xá Tông nhận định có Trung âm, phái Thành Thiệt Tông chẳng công nhận.

Trong phái Đại Thừa, có Tông nhận là có, có Tông nhận là chẳng có Trung âm.

Niết Bàn Kinh quyển 29, bàn về cái Trung âm có nói: Nhục nhãn chẳng thấy được Trung âm phải có Thiên nhãn mới thấy được.

        Cái Trung âm có ba cách ăn:

1.- Tự thực: Suy nghĩ đến món ăn, tức là ăn no.

2.- Xúc thực: Đụng tới món ăn, tức là ăn no.

3.- Ý thực: trong ý cho là thức ăn, tức là ăn no.

        Trung âm có hai hạng: hạng Thiện nghiệp quả và hạng Ác nghiệp quả. Hạng Thiện nghiệp quả thì nhìn thấy điều lành, việc tốt; hạng Ác nghiệp quả thì nhìn thấy điều dữ, việc xấu mà thôi.

Nương khi cha mẹ giao hội, cái Trung âm hiệp vào, thế là nhập thai. Chừng ấy, cái Trung âm dứt, nhường chỗ cho cái hậu âm, tức là thân mạng hậu lai.

        Niết Bàn Kinh quyển 34: Bậc A-Na-hàm (người đắc Thánh quả thứ ba) có hai hạng: một hạng ngay đời nầy nhập Niết bàn. Một hạng nữa sau khi thác thì thọ lấy Trung âm rồi mới nhập Niết bàn.

Cái Trung âm thân căn được sáng suốt thông minh là nhờ thuở làm người đã làm những hạnh nghiệp trong sạch.

        Cái Trung âm của những chúng sanh tệ ác, dường như cái áo cũ rách, thô nhám của người đời. Cái Trung âm của những chúng sanh thuần thiện, dường như cái áo hàng trắng tinh của Xứ Ba La Nại.

        Những chúng sanh ở cõi Vô sắc giới chẳng có cái Trung âm.

Riêng vGiáo lý PGHH, trong bài Pháp luận “PHẬT LÀ GÌ?” Đức Thầy viết tại Bạc Liêu năm Nhâm Ngũ (1942) có giới thiệu về đường Trung Đạo như sau:

“Phật là Giác giả. Giác giả là tỉnh giả. Khi Đức Thích Ca thành Phật thì Ngài nói pháp Tứ đế mà độ đời trước hơn các pháp, và chỉ con đường Trung Đạo cho người hành theo.”

Khi bàn về “ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO CỦA PHẬT”, Đức Thầy giải thích:

1/- Không trưởng dưỡng xác thịt quá ư sung sướng như: Ăn nhiều, ngủ nhiều, chẳng lo làm công chuyện, chẳng học hỏi, vì sung sướng thái quá thì sanh ra nhiều dục vọng mê đắm, làm cho trí Đạo tối tăm, không thể đạt huệ được.

        2/- Không nên hành xác hay ép xác thịt thái quá như: phơi nắng dầm sương, bỏ ăn, bỏ ngũ, làm quá sức lực của mình, vì ép xác quá độ thì hay sanh bịnh hoạn nhiều, người mà đa mang bịnh tật rồi, tinh thần kém cỏi, mệt nhọc, trí hóa lu mờ, không đủ sức mà học Đạo đặng.

        Nên người biết Đạo chẳng ép xác thái quá mà cũng chẳng để nó sung sướng quá độ, chỉ ăn ngủ có chừng mực, làm việc vừa với sức mình, gìn giữ sức khỏe mới mong học đươc đạo pháp.

        Vậy Phật chẳng buộc ai phải ăn ở khổ hạnh và cũng chẳng biểu ai ăn ở sung sướng, chẳng ép ai ăn chay, chẳng xúi ai ăn mặn, tùy theo trình độ và lòng nhơn của mình.

        Điều cần yếu là phải:

        -Làm hết các việc từ thiện,

        -Tránh tất cả điều độc ác,

        -Quyết rửa tấm lòng cho trong sạch.”

        Ngoài ra, trong Quyển 5, Đức Thầy cũng có nhắc đến Trung Đạo:

                “Thắng Thất Tình giữ vẹn ĐẠO TRUNG,

                 Trừ Lục Dục chớ cho ô nhiễm.

                 Thập tam Ma diệt bằng trí kiếm,

                 Rứt xong rồi vô sự thảnh thơi.”

Chữ Đạo Trung tức Trung Đạo ở đây có thể hiểu là con đường chính giữa. Có hai thuyết giải:

        1-Theo Khổng Giáo, Đạo Trung nói cho đủ là Đạo Trung Dung. Có nghĩa: Không thái quá, không bất cập, giữ mục thường ở giữa thì mọi việc đều được thích trung.

        2-Theo Phật Giáo, Đạo Trung có nghĩa là con đường Trung Đạo: Không trưởng dưỡng xác thịt quá sung sướng, và cũng không ép xác hành khổ thái quá, không thiên chấp hai bên; tức không chấp có, chấp không, không chấp lành, chấp dữ, không vui, buồn, thương, ghét và chẳng duyên theo thất tình lục dục.

Trong bài thuyết pháp đầu tiên (như đã trình bày phần trên), Ðức Phật đã mô tả Con Ðường Trung Ðạo như sau:

“Này các Tỳ kheo, có hai cực đoan mà hàng xuất gia cần phải tránh. Thế nào là hai? Một mặt là tham đắm dục lạc, một lối sống thấp hèn và vô ích, không xứng đáng phẩm hạnh của bậc Thánh, đó là con đường của thế gian; mặc khác là dấn thân theo đuổi lối tu khổ hạnh, như vậy là đau đớn và vô ích, không xứng đáng phẩm hạnh của bậc Thánh.

Bằng cách từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai đã chứng ngộ con đường Trung đạo, là con đường đem lạị nhãn quan, đem lại tri kiến, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn.”

Thật vậy, con đường Trung Ðạo là nguyên lý căn bản nhất của Phật giáo. Ðây là con đường có thể dẫn dắt con người đến mục đích tối hậu của cuộc sống – là Niết Bàn.

Có câu chuyện về một người tên là Sona. Sona sinh ra trong một gia đình giàu có nhưng sau khi nghe Đức Phật giảng, y tuân theo lời dạy và trở nên miệt mài thực hành tất cả các giới luật. Sự nhiệt tình của y quá mãnh liệt đến nổi y đi lên đi xuống con đường gần nhà cho đến khi rách nát cả chân và con đường giống như được một người đồ tể lê bước.

Ở nơi xa, Đức Phật thấy tất cả điều này và Ngài nhận ra rằng Sona rất thành thật, nhưng y làm tất cả điều này thái quá. Sona hết lòng hiến dâng, nhưng y không biết làm thế nào để duy trì được sự thăng bằng, vì thế, Đức Phật quyết định đến chỗ Sona cư ngụ.

Trong khi đó, Sona bắt đầu suy nghĩ, "Tôi đang làm rất siêng năng theo những gì Đức Phật dạy, nhưng dường như tôi đi không đến đâu và không tiến bộ. Điều gì sẽ đến nếu tôi quay lại nhà nơi mà sự giàu có đang chờ đợi tôi? Tôi có thể sử dụng sự giàu có đó giúp đỡ người khác thay vì làm một sư cố gắng mà dường như không có kết quả gì ở đây."

Khi Đức Phật gặp y, Ngài nói "Sona, không phải con đang suy nghĩ điều này hay sao? Con đang suy nghĩ trở lại đời sống trần tục phải không?" Sona trả lời, "Vâng, con đang nghĩ như vậy bởi vì con thực hành không có kết quả." Và Đức Phật nói, "Trước khi con trở thành một nhà sư, con là một nhạc sĩ giỏi. Con đàn rất hay, nhất là đàn dây và khi những sợi dây đàn bị căng con có thể đàn hay được không?"

Sona trả lời, "Không, dĩ nhiên là không.".

"Khi những sợi dây đàn quá chùng con có thể đàn hay được không?"

"Không, con không thể đàn hay được."

Đức Phật dạy y bằng cách nói: "Thực hành tinh thần cũng y như vậy; nếu con quá háo hức để đạt được mục đích của mình, để tới một chốn nào đó, thì nó giống như lên dây đàn quá căng và rồi con sẽ thất bại."

Thật hạnh phúc biết bao cho những ai hành đúng theo đường TRUNG ĐẠO của Đức PHẬT!

                Nam mô A Di Đà Phật!

                 TRƯƠNG VĂN THẠO

Comments