2011/07/23 - Niệm Phật

                                                  Niệm PHẬT
 

        Ngày nay, có rất nhiều người tham gia phong trào niệm PHẬT. Người ta qui tụ thành từng nhóm, từng đoàn có khi lên đến hàng trăm, hàng ngàn người rồi lập các Niệm Phật Đường hay Đạo tràng Niệm Phật để cùng nhau Niệm PHẬT tập thể. Tuy nhiên mỗi người hành mỗi cách, cũng có đôi khi có người ngồi niệm PHẬT hàng ngày, hàng giờ mà vẫn chưa rõ về ý nghĩa và mục đích của việc niệm PHẬT.

        Trong bài “Trong việc tu thân xử kỷ”, Đức Thầy có dạy:“Cũng đừng thấy người ta thờ PHẬT rồi vội vã lập bàn thờ PHẬT, mà chưa hiểu ông PHẬT thể nào và tại sao phải thờ kính Đức PHẬT. Nếu tu như thế, thờ PHẬT như thế, thì càng tu càng thờ bao nhiêu càng tỏ ra cho thiên hạ thấy rõ ta mê tín bấy nhiêu. Đó cũng là cái đích để cho người vô Đạo nhắm đó mà bài bác, nhạo chê hủy báng và cũng rất uổng cho cái công trình thành kính lễ bái của ta vậy.

        Cho được tránh những điều ấy, trước khi thờ, học Đạo nào, hay theo ông thầy nào, ta hãy suy gẫm phán đoán kỹ càng; chừng hiểu biết rõ ràng ta sẽ hành theo Đạo ấy, Thầy ấy. Chẳng được như vậy, dầu mình theo Đạo rất chánh đáng, ông Thầy rất thông minh cũng chẳng có ích chi cho mình cả.”

        Ngài còn dạy thêm:

                “Tưởng nhớ PHẬT như ăn cơm bữa,

                Vọng Cửu Huyền sớm tối mới mầu.

                Chữ Nam Mô dẹp được lòng sầu,

                Sau thấy được nhà Tiên cửa Thánh.”

        Ngoài ra, người Tín đồ PGHH trong hai thời cúng lạy hàng ngày, ở phần cuối “Bài Nguyện Trước Bàn Thờ Phật”, Đức Thầy có chỉ rõ:

        Lạy 4 lạy rồi xá: 1 xá chính giữa niệm: Nam Mô A Di Đà Phật.

        1 xá bên trái niệm: Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

        1 xá bên mặt niệm: Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát.

        Rõ ràng, Đức Thầy đã dạy chúng ta nên Niệm Phật hàng ngày và nhất là trong các quyển Sám Thi, Ngài cũng giải rất nhiều về những lợi ích của môn Niệm Phật, hay nói rõ hơn là Pháp môn Tịnh Độ.

        Sau đây chúng ta tìm hiểu tại sao Đức Thầy dạy chúng ta phải niệm Đức Phật A Di Đà, Đức Đại Thế Chí Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát. Đồng thời, tìm hiểu xem những lợi ích thiết thực nào do công phu Niệm Phật đã đem lại cho sanh chúng.

        A DI ĐÀ PHẬT: Cũng kêu theo nghĩa: Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Tây Phật.

        Theo lời Đức Phật Thích Ca giảng trong Quyển A Di Đà Kinh, thì cõi của Phật A Di Đà nằm về phương Tây cách cõi Ta bà là mười vạn ức cõi Phật. Cõi của Ngài kêu là Cực lạc quốc. Thật là một cõi đầy đủ các công đức trang nghiêm, nhà đất cây cối thảy đều là bửu châu. Lại có tiếng chim ca ngâm những bài thuyết pháp cho người ta nghe.

        Đức Phật A Di Đà hào quang sáng suốt vô lượng, chiếu tới các cõi ở Thập phương mà không bị món gì che ngăn. Vì vậy nên người ta gọi Ngài là Phật A Di Đà (tức Vô Lượng Quang Phật). Và chính đời sống của Ngài với đời sống của chư Phật chư Thánh trong nước của Ngài dài vô lượng, vô biên, dài đến cả triệu ưc kiếp, nên người ta mới gọi Ngài là Phật A Di Đà (tức Vô Lượng Thọ Phật).

Ai muốn sanh về nước Cực lạc của Ngài thì nên phát tâm mà trì niệm danh Ngài không xao lảng, dầu cho một ngày trở đi, thì khi thác cũng được Ngài với chư Thánh, chư Bồ tát hiện lại mà rước về cõi Cực lạc.

        ĐẠI THẾ CHÍ: Bực Bồ tát được cái thế lực, oai thần to lớn, cùng cực. Ngài là một vị trong ba vị: A Di Đà, Quan Âm, Thế Chí mà người ta thường thờ.

        Cũng kêu là Đại Thế Bồ Tát. Kêu theo Phạn: Ma ha bát.

        Theo Kinh Bi Hoa, một đời trước, Ngài là Thái tử NI MA, con vua Vô Tránh Niệm. Vua gặp Phật Bảo Tạng, phát tâm và ngộ đặng chơn lý. Thái tử cũng phát tâm tu hành, phụng sự Phật Bảo Tạng với chúng tăng trong ba tháng và phát nguyện cầu thành Phật Đạo. Đức Phật Bảo Tạng thọ ký cho Ngài, bảo rằng Ngài sẽ là Đại Thế Chí Bồ Tát ở cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.

        Đại Thế Chí oai thần rộng lớn, dùng trí huệ sáng suốt soi khắp mười phương, khiến cho mọi loài chúng sanh đều nhờ ơn đức Ngài mà thoát khổ trong ba đường dữ. Ngài bước chơn tới đâu thì tất cả cõi Đại thiên Thế Giới đều chấn động làm cho cung điện của Ma Vương đều nghiêng ngã. Vì oai thần như vậy nên gọi Ngài là Đại Thế Chí. Khi Đức Phật Thích Ca xuất thế, Ngài Đại Thế Chí có hiện thân đến làm đệ tử đặng trợ đương Phật sự, giáo hóa chúng sanh.

        QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT: Người ta cũng gọi Ngài là: Quán Tự Tại, Từ Tâm Bất Sát. Quan Thế Âm nghĩa là: Nghe xét các âm thinh của chúng sanh trong pháp giới (hầu có hiện sức thần thông mà cứu vớt họ).

        Bồ Tát Quan Thế Âm thường được người Đạo Phật ở Viễn Đông tôn trọng theo hình đàn bà. Người Đạo Phật ở Tây Tạng tôn trọng Ngài theo hình đàn ông, cho rằng Ngài lãnh phần hộ trợ xứ Tây Tạng. Họ lại cho rằng chính Ngài chuyển vào thần đức vua Đạt Lai Lạt Ma.

        Ngài có dự nghe Đức Thích Tôn diễn Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Trọn phẩm Phổ Môn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa xưng tụng công đức và lòng từ bi cứu thế của Ngài. Hễ ai thờ Ngài, ắt được các sự phước đức; ai cầu nguyện và niệm tưởng Ngài, thì được sức lành của Ngài che chở và cứu trợ trong các nạn nguy.

        Vì lòng từ bi cứu khổ cứu nạn cho các chúng sanh và vì sự truyền Phật pháp, Ngài tùy tiện mà hiện thân, khi làm Phật, khi làm Bồ Tát, khi làm Duyên giác, khi làm Thanh văn, khi làm Tiên, khi làm Quỉ, Thần, khi làm Quốc vương, hoặc Đại thần, Trưởng giả hay Tỳ kheo Cư sĩ... Và Ngài cũng mang thân phụ nữ mà độ chúng sanh nữa.

        Ai gặp phải những cảnh ngộ dưới đây mà thành tâm niệm danh hiệu Ngài, thế nào cũng được toại chí: Kẻ nào bị nạn lửa hoặc bị nạn nước mà muốn thoát ra, kẻ chìm thuyền mà muốn được vào bờ, kẻ bị bỏ oan nơi núi cao đồng vắng, kẻ bị giặc cướp hãm hại, kẻ bị tra khảo tù rạc, kẻ bị ếm chú bùa thư, kẻ bị ác thú bao vây, độc xà toan hại; hoặc là đàn bà muốn cầu sanh trai lành gái đẹp, mà chiêm ngưỡng lễ bái Quan Thế Âm, thì thế nào cũng được thỏa nguyện. Như những ai thọ trì danh hiệu Ngài, dầu có tham lam dâm dục, sân nhuế và ngu si, cũng lần lần thoát khỏi các cảnh hôn mê ấy mà trở nên thanh tịnh, an lạc và trí huệ.

        Chính vì vậy, khi sáng tác các quyển Sấm Thi, giáo hóa tín đồ, Đức Thầy đã nhiều lần khuyến tấn môn đệ của Ngài nên phát tâm, trì chí Niệm Phật hầu mang lại những lợi lạc trong đời sống tu hành và nhất là sẽ được vãng sanh về cõi Tây phương Cực lạc. Như trong Quyển 6, nói về “Sự cúng lạy của người Cư sĩ tại gia”, Đức Thầy có dạy:“ Nam mô A Di Đà Phật, sáu chữ đi, đứng, nằm, ngồi, rán niệm chớ quên, không đợi gì thời khắc.”

        Ngoài ra, trong bài “Chư Phật có bốn đại đức”, Đức Thầy có giảng rõ về tầm quan trọng của phương pháp Niệm Phật:“Còn phương pháp niệm Phật là để trừ cái vọng niệm của chúng sanh, vì trong tâm của chúng sanh niệm niệm mê lầm chẳng dứt; vì cái vọng niệm về việc thế trần ấy mà không cho cõi lòng an lạc, phiền não ngăn che, chơn tâm mờ ám. Nên nay, hễ thành tâm niệm Phật thì nếu được một niệm Phật ắt lìa xa được một niệm chúng sanh, mà niệm niệm Phật thì lìa tất cả niệm chúng sanh. Cho đến khi nhứt tâm bất loạn, chừng ấy vọng niệm chúng sanh đã dứt thì lòng ham muốn và các tình dục còn đâu mà nảy sanh ra được?

        Nên niệm Phật là niệm cái bản lai thanh tịnh của Phật cho lòng của mình nương theo đó mà được thanh tịnh và chẳng còn trược nhiễm trần ai. Cần tu thập thiện thì sự niệm mới có hiệu quả. Tu thập thiện, dứt được thập ác (cũng gọi là tịnh tam nghiệp).”

        Sau đây là những lời châu báu của Đức Thầy đã truyền dạy chúng ta có liên quan đến công phu Niệm Phật và những lợi ích vô cùng do sự chí tâm Niệm Phật đem lại:

                “Niệm Phật mà gây lấy thiện duyên,

                Cho đẹp mặt Tổ-tiên nòi-giống.”

                                        (Q.5, KT)

                “Niệm Phật nào đợi mùi hương,

                Miễn tâm thành-kính tòa-chương cũng gần."

                                        (Q.3, SG)

                “Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,

                Ghi vào lòng sáu chữ Di-Đà."

                                        (Q.4, GM Tâm Kệ)

                “Ao sen báu Tây-Phương đua nở,

                Chờ chúng-sanh niệm Phật chí tâm.”

                                        (Q.5, KT)

                “Ở Tây-Phương chư Phật ngóng-trông,

                Chờ bá-tánh rủ nhau niệm Phật.”

                                        (Q.2, Kệ Dân)

                “Cầu cho già trẻ gái trai,

                Rủ nhau niệm Phật liên-đài ắt lên.”

                                        (“Từ-giã làng NHƠN-NGHĨA”)

                “Tu cầu trăm họ hiền-lương,

                Đồng thinh niệm Phật tai-ương chẳng còn.”

                                        (Q.5, KT)

                “Khuyên chúng-sanh niệm Phật coi đời,

                Cõi Hạ-Giái rồng-mây chơi-giỡn."

                                        (Q.2, Kệ Dân)

                “Bá-gia phải rán làm lành,

                Niệm-Phật cho rành đặng thấy Thần-Tiên.”

                                        (Q.1, KNĐTN)

                “Có thiện-căn sớm lại cửa thiền,

                Câu niệm Phật chờ ngày chung cuộc."

                                        (“DIỆU PHÁP QUANG-MINH”)

                “Từ đây đến buổi thanh-bình,

                Muôn người niệm Phật quả mình biết bao.”

                                        (AN-ỦI MỘT TÍN-ĐỒ)

                “Đừng khi nhà lá một căn,

                Mà biết niệm Phật sau bằng bạc muôn.”

                                        (Q.1, KNĐTN)

                “Tuy nghèo dùng đỡ cháo rau,

                Bền lòng niệm Phật thì sau thanh-nhàn.”

                                        (Q.3, SG)

                “Dứt mê-tâm dứt điều hờn ghét,

                Rán cần-chuyên niệm Phật làm lành.”

                                        (Q.5, KT)

                “Trau tâm luyện tánh cho minh,

                Chuyên lo niệm Phật sửa mình cho trơn.”

                                        (Q.5, KT)

                “Giúp người đói-khó nhu-mì,

                Dạy nó tâm trì niệm Phật làm ngay.”

                                        (KHUYÊN NGƯỜI GIÀU LÒNG PHƯỚC-THIỆN)

                “Lòng yêu dân chẳng nệ vắn dài,

                Cho bổn-đạo giải-khuây niệm-Phật.”

                                        (Q.2, Kê Dân)

                “Mãn-kiếp hồng-trần sanh Lạc-quốc,

                Hưởng công niệm Phật rất yên lành.”

                                        (CHO CÔ NĂM VÕ-THỊ-HỢI Ở BẠC-LIÊU)

                “Gìn giới cấm sửa tâm ô-tạp,

                Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.”

                                        (Q.4, GMTK)

                “Nếu như ai cố chí làm lành,

                Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật-Quốc.

                Cả vũ trụ khắp cùng vạn vật,

                Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc sanh.

                Cứ nhứt tâm tín, nguyện, phụng hành,

                Được cứu cánh về nơi an dưỡng.

                Chỉ một kiếp Tây phương hồi hướng,

                Thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi.”

                                        (Q.5, KT)

                Kính chúc chư quý Đồng đạo và quý vị thân tâm thường an lạc, Đạo quả sớm viên thành.

                            Nam mô A Di Đà Phật !

                                          TRƯƠNG VĂN THẠO
Comments