2011/07/02 - Đạo tà

                                                        ĐẠO TÀ
 

        Giác Mê Tâm Kệ tức SG. quyển Tư do Đức Thầy sáng tác vào ngày 20 tháng 9 năm Kỷ Mão (1939), lúc Ngài còn ở Tổ Đình, Thánh Địa Hòa Hảo.

        Giác Mê là tỉnh biết sáng suốt, hết mê lầm. Tâm Kệ là quyển Kệ dạy hành giả tu ngay tâm để kiến tánh thành Phật. Vậy quyển Giác Mê Tâm Kệ có ý nghĩa là Đức Thầy khuyên dạy môn đồ các phương pháp sửa đổi tâm chúng sanh để trở thành tâm Phật. Tuy nhiên, nhằm chỉ cho môn đồ biết rõ đường tà nẻo chánh để khỏi lâm vấp trên bước đường hành Đạo, Ngài đã ân cần dạy bảo:

                “Các Đạo tà mưu khéo âm thầm,

                Dân rán tránh kẻo lâm mà khổ.

                Chúng nó xuống khuyên răn nhiều chỗ,

                Dùng phép mầu loè mắt chúng sanh.

                Ai ham linh theo nó tập tành,

                Sa cạm bẫy khó mong sống sót.”

        Đức Thầy cho biết: hiện nay có rất nhiều Tà đạo ra đời, mỗi người hãy nhận định cho sáng suốt để xa lánh, kẻo bị lạc lầm theo chúng mà phải mang khổ về sau:“ Đừng bạ đâu tin tưởng nghe càn, Làm ngu muội đọa thân uổng kiếp”.

        Các Tà Đạo xuất hiện nhiều nơi và dựng đặt nhiều lý thuyết, để cám dỗ nhân sanh. Ngoài ra, chúng còn bày vẽ: nào luyện bùa trao phép, ơn trên nhập xác, nào phong tước đặt tên, soi căn đoán tâm lý v.v...nếu ai ham linh thính hoặc còn mến tríu lợi danh, chạy theo tập tành với chúng, chẳng khác nào loài chim bị sa vào cạm bẫy, mong gì được thoát khổ.

        Theo Từ Điển Phật học, TÀ đối với CHÁNH. Có nghĩa là không ngay thẳng; không thành thật, không theo Chánh đạo, Chánh pháp, không theo Phật giáo, lại qui ngưỡng theo Tà ma Quỉ mỵ. Như: Tà thần, Tà giáo, tinh Tà v.v. Cho đến theo Đạo Phật mà không tu tập Pháp lý rốt ráo, lại mộ theo âm thinh sắc tướng, cũng là TÀ. Trong KIM CANG KINH, Phật có thuyết bốn câu kệ nầy:

                Nhược dĩ sắc kiến ngã,

                Dĩ âm thanh cầu ngã;

                Thị nhơn hành tà đạo,

                Bất năng kiến Như lai.

        Dịch nghĩa :

                Thấy sắc cho rằng thấy Phật,

                Nghe thinh lại bảo đó là ta;

                Người như vậy tức hành tà đạo,

                Hồ dễ thấy tường đức Phật a!.

        TÀ ĐẠO: Đạo lý thi hành không chơn chánh, pháp giáo thi hành một cách phi lý, sự tu hành không đúng chánh pháp. Đồng nghĩa: Tà giáo, Tả đạo, Dị giáo, Dị đoan, Tà quán. TÀ ĐẠO cũng có nghiã: Nẻo tà, nơi sanh sống của loài tà mị.

        Kinh THỦ LĂNG NGHIÊM, Quyển sáu: Những kẻ tu tam muội, dẫu có đa trí, thấy phép Thiền định hiện ra, nhưng họ chẳng dứt trộm cấp, ắt họ lạc vào Tà đạo: bực cao thì làm tinh linh, bực giữa thì làm yêu mỵ, bực thấp thì làm người tà theo phường yêu mỵ.

Kinh THỦ LĂNG NHGIÊM, Quyển 9: Trước Đại chúng Đức Phật bảo Ngài A Nan! Ngươi phải biết trước, mới khỏi luân hồi, nếu mê lầm không biết, thì đọa Địa ngục vô gián.

        Lại như vầy nữa, Thiện nam tử, vì thọ ấm luống mầu nhiệm không gặp Tà lự, nên viên định phát tỏ, trong Chánh định tâm thích huyền ứng, cứu xét tinh vi, tham cầu minh cảm.

        Bấy giờ Thiên Ma Nhân có dịp tiện lợi, nhập xác người, miệng thuyết Kinh pháp, nói mình thành đạo Niết bàn vô thượng, đến chỗ cầu của Thiện nam tử, ngồi tọa cụ thuyết pháp, khiến các thính giả vừa thấy, thân ví như người được trăm ngàn tuổi, tâm sanh ái nhiễm, không hay xả ly, thân làm nô bộc, cúng dường bốn thứ: ẩm thực, y phục, ngọa cụ, y dưọc, chẳng ngại khó nhọc, khiến tâm của các người ở dưới pháp tọa, nhận lầm vị đó vốn là Tiên sư, Thiện tri thức, riêng khởi phép “ái”, dính mắc như keo sơn, đặng cái chưa từng có.

        Các người ấy ngu mê, tin lầm là Bồ tát, lòng hằng thân cận, phá luật nghi của Phật, lần lượt làm việc tham dục, miệng ưa nói: “Ở đời trước, ta tự chỗ đó sanh ra, trước độ người của ta, đương thời là thê thiếp huynh đệ, nay đến đây cứu độ lẫn nhau, đem nhau về thế giới của ta, cúng dường Phật ở đó, hoặc nói có riêng một cõi Trời đại quang minh, Phật trụ ở đó và cũng là nơi an nghỉ của chư Phật.

Các người ấy không biết, tin lầm lời dối trá, quên mất bổn tâm đó là do Lệ quỉ, tuổi già thành ma phá rối người, đến khi tâm sanh chán, bỏ xác người, thì đệ tử cùng Sư đều bị nạn Vua phép nước.

        Vào năm Canh Thìn (1940), khi Đức Thầy bị Thực dân Pháp chỉ định lưu cư ở làng Nhơn Nghĩa, tỉnh Cần Thơ, có ông Hương quản Diệp ở Hòa Hảo và ông Út Trác ở Mỹ Hội Đông đến viếng. Hai ông nầy có trình lên Đức Thầy một việc như sau:

        - Bạch Thầy, hiện giờ ở trên Long Xuyên có ông Đạo mới ra đời, họ trị bịnh cũng na ná như Thầy. Người ta tới lui rất đông đảo, nhưng không biết ông ấy là TÀ hay CHÁNH, nhờ Thầy phân giải dùm để anh em tín đồ khỏi lầm lạc.

        Đức Thầy không trả lời ngay ông Đạo đó tà hay chánh mà Ngài chỉ cầm viết, viết ra mấy dòng chữ như sau:

        - Từ đây sắp tới, bất luận ai ra đời độ thế, nếu còn ăn tiền bạc là Tà.

        - Còn dùng màu sắc là Tà.

        - Còn lên xuống xưng hô Thần Thánh là Tà.

        - Còn bỏ tóc xả, để đầu đanh là Tà.

        (theo quyển “Chuyện Bên Thầy”, câu chuyện nầy do ông Út Trác ở Mỹ Hội Đông thuật lại).

        Nhận xét:

        Xưa nay, hễ có Phật ra đời khai hóa nhân sinh thì luôn có Tà ma theo dõi để phá rối người tu Phật.

        Hay nói cách khác, thời nào Tà ma, ngoại Đạo lộng hành gạt người mê tín, nhiễu hại lê dân thì Phật Tiên cũng lâm phàm để khai thông Chánh Đạo, dẹp tan Tà thuyết để giác tỉnh chúng sanh trở về con đường Chánh tín:

        “…Bởi đời nầy pháp môn bế mạc, Thánh đạo trăn vu, người tâm trí tối đen, đời lắm Ma Vương khuấy rối. Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu Đạo nơi quốc độ nào thì cũng phải trở về quốc độ ấy mà trợ tế nhân dân…” Hoặc là:

                “Thời kỳ nầy nhiều quỉ cùng ma,

                Trời mở cửa Quỉ Vương xuống thế.

                Nên Ta mới ra tay cứu tế,

                Kẻo chúng sanh bịnh khổ quá chừng.”

                                                (GMTK, Q.4)

        Căn cứ theo lời dạy của Đức Thầy, chúng ta có thể phân biệt được Tà Đạo nhờ các đặc điểm như sau:

        - Lợi dụng tiền bạc của người và hay dùng màu sắc để lòe đời, bịp thiên hạ. Trái với điểm nầy, là Chánh Đạo:

                “Bây giờ bất luận người nào,

                Không dùng của thế, sắc màu cũng không.

                Nói cho bổn đạo rõ lòng,

                Ấy là chơn chánh mới hòng vinh vang.” (Q.3)

        Màu sắc ở đây chỉ cho các ông Đạo tu hành theo âm thinh, sắc tướng, xá phướn, lầu kho… như các thầy nhưn bông, đi làm đám, tụng Kinh mướn lấy tiền của bá tánh, xa rời Chánh pháp Vô vi của Đức Phật.

        - Lên xuống xưng hô Thần Thánh…tức chỉ hạng thượng xác cỡi đồng, thầy pháp, thầy phù thủy, soi căn, cầu hồn, bùa chú, sát sanh cúng tế…Những loại người nầy, Đức Thầy từng chỉ rõ:

                “Bàn môn tài phép nào tường,

                Kêu Trời giậm Đất cũng thì dạ rân.

                Nói cho trần thế liệu toan,

                Chớ theo tả Đạo mà tan xác hồn.

                Nó làm nhiều phép nhiều môn,

                Bùa mê thuốc lú mê hồn chúng sanh.

                Thành binh sái đậu cũng rành,

                Nếu tin thì mắc tan tành về sau.” (SG, Q.3)

        Và:

                “Dương gian làm huyễn nói càn,

                Cùng xóm cuối làng đâu cũng như đâu.

                Hò reo giục trống nhiều câu,

                Sai đồng khiển quỉ nói lâu nực cười.

                Ta khuyên hết thảy các người,

                Nhiều chuyện trò cười hãy bỏ bớt đi.

                Đừng hò đừng réo làm chi,

                Nghinh ngang kêu múa có khi hại mình”.(SG, Q.3)

        - Đặc điểm cuối của Đạo tà theo lời dạy của Đức Thầy là “còn bỏ tóc xả, để đầu đanh” tức chỉ những thầy tu hay làm ra vẻ đạo mạo khác thường để lừa dối bá tánh, như bỏ tóc xả dài không bới, không chải gở để tóc đanh lại...Họ thường tự xưng là tu luyện lâu năm, từ trên non, trên động vừa xuống núi để cứu thế độ dân, nhưng trong thâm tâm của hạng người nầy vẫn còn ô nhiễm danh, lợi, tình như hàng thế tục. Đây là hạng người tu lệch đạo Tiên, do vọng tưởng quá độ mà ra hoặc từ trong Lục sư ngoại Đạo truyền lại.

        Để môn đồ khỏi lầm lạc theo Tà sư, ngoại Đạo, Đức Thầy đã dặn dò vô cùng cặn kẻ:

        “Cho được tránh những điều ấy, trước khi thờ, học Đạo nào, hay theo ông Thầy nào, ta hãy suy gẫm phán đoán kỹ càng; chừng hiểu biết rõ ràng ta sẽ hành theo Đạo ấy, Thầy ấy. Chẳng được như vậy, dầu mình theo Đạo rất chánh đáng, ông Thầy rất thông minh cũng chẳng có ích chi cho mình cả.” (Trong Việc Tu Thân Xử Kỷ).

        Tóm lại, những đặc điểm mà Đức Thầy chỉ dạy ông Quản Diệp và Út Trác trên đây, chính là một qui định tất yếu cho Tín đồ của Ngài theo đó mà biết lọc lừa Tà, Chánh. Bởi vì:

                "Đạo với lý từ đây nhiều chỗ,

                Phải lọc lừa cho kỹ mà nhờ.

                Chọn nơi nào Đạo chánh phượng thờ,

                Thì mới được thân sau cao quý."./.

                    Nam mô A Di Đà Phật !

                     TRƯƠNG VĂN THẠO
Comments