2011/06/05 - Tìm hiểu Ý nghĩa Chủ nhơn ông

                                Tìm hiểu Ý nghĩa chữ CHỦ NHƠN ÔNG
 

        Ngày xưa, mỗi khi nghe ông già, bà lão hay các cháu nhỏ tuổi dùng loa phóng thanh ngâm nga các bài Sấm Giảng của Đức Thầy từ các Độc giảng đường, người ta thường nghĩ rằng đây chỉ là những câu thơ vè với nội dung tầm thường, bình dân, giản dị…ai nghe qua cũng đều hiểu biết.

        Tuy nhiên, Đức Thầy vốn là vị Cổ Phật lâm phàm độ thế nên kim ngôn ngọc ngữ của Ngài cũng chính là lời Phật dạy và Giáo lý của Ngài cũng không khác gì lời Kinh tiếng Kệ dùng để giáo hóa chúng sanh trong thời Mạt pháp. Vả lại, Ngài từng tiết lộ:“Rút trong các Luật các Kinh, Tùy lòng không ép làm in Giảng nầy.”

        Thế nên, nếu có những đoạn Sấm Giảng hay Thi Văn của Ngài có liên quan tới Phật pháp mà chúng ta chưa có dịp nghiên cứu hay học hỏi qua Giáo Lý Phật Đà thì chắc chắn sẽ khó mà tường thông nghĩa lý.

        Kính mời Quý vị đọc lại đoạn Thi Văn sau đây trong bài “Sa Đéc” mà Đức Thầy viết tại Sa Đéc, đêm rằm tháng 4 Canh Thìn sẽ thấy ngay điều đó:

                “Khó tìm cho gặp chủ-nhơn-ông,

                Còn ẩn ánh nơi vòng sanh-chúng.

                Ai mê tâm nghe qua không phủng,

                Rán suy tầm đặng mở tánh linh.

                Lòng ngộ rồi chẳng đợi nhiều kinh,

                Thì cũng thấy bổn lai diện mục.”

          Rõ ràng, đoạn thi thơ nầy Đức Thầy đã dùng nhiều Từ ngữ Phật học, mang ý nghĩa diệu mầu, nếu chúng ta không truy tầm học hỏi từ Kinh, Luật, Luận của Phật giáo thì không thể nào thấu hiểu nghĩa lý của những từ ngữ cũng như ý nghĩa của cả đoạn Giáo lý nầy.

          Trước hết, chúng tôi xin lược giải về nội dung của đoạn Thi văn nầy:

          Từ xưa đến nay, trong đời tu hành rất khó có ai tìm gặp “Chủ nhơn ông” của chính mình. Bởi vì nếu đã là chúng sanh thì Ông chủ nầy lúc nào cũng ẩn sau bức màn vô minh dày bịt. Nhưng nếu chúng ta phá được đám mây mù kia thì mặt thật Ông chủ sẽ hiện bày, chớ khỏi tìm đâu xa lạ.

            Phần đông người ta đi tìm cầu Phật bên ngoài, mà Ông chủ bên trong thì không ai biết. Do đó, nếu người nào còn mê muội thì chưa nhận ra Ông chủ. Thế nên, Đức Thầy thường bảo: 

                “Phật tại tâm chớ có đâu xa,

                 Mà tìm kiếm ở trên Non Núi.” (Quyển 2)

          Vì vậy, chúng ta phải cố gắng truy tầm để cho trí huệ được khai thông, hầu thấy được Bản tâm thanh tịnh.

        Trên phương diện tu hành, Kinh điển chỉ là phương tiện dẫn dắt bước ban đầu, cũng như ngón tay chỉ mặt trăng. Người tu phải trực ngộ Bản lai tâm bằng trực giác của chính mình, chớ không đợi thuộc nhiều Kinh điển.

          Sau đây, chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa chữ CHỦ NHƠN ÔNG để biết được thế nào là BỔN LAI DIỆN MỤC.

        CHỦ NHƠN ÔNG: Là ông chủ của chính mình. Theo kinh Phật giải: Mỗi người đều có trí vô sư, tức là Phật tâm. Ông Phật thật nầy có từ đời vô thỉ, trước càn khôn vũ trụ, san hà đại địa; không do ai sinh, không do ai tạo. Như câu: “Có một vật không sinh mà có, không tạo mà nên, không lập mà thành”. Đức Thầy cũng xác định trong quyển “Khuyến Thiện” như sau:

                “Các chúng sanh đều có như ta,

                Bị vô minh vọng tưởng vạy tà.

                Nên quay lộn Ta Bà cõi khổ”.

        Thật vậy, chúng ta thuộc một trong 4 loài Sanh chúng.

        SANH CHÚNG: Cũng gọi là chúng sanh, gồm có bốn loài: Thai, noãn, thấp, hóa.

        -Loài sanh bằng bào thai.

        -Loài sanh bằng trứng.

        -Loài sanh nơi ẩm thấp (cá rô, cá trạch…)

        -Loài hóa sanh, như: Rệp nước hóa sanh ra chuồn chuồn, rễ gáo hóa thành lươn…

        Do đó, hầu hết ai cũng MÊ TÂM: Tâm mê muội, tâm chưa giác ngộ. Nghĩa bóng: Chỉ cho người còn còn chạy theo hình tướng sắc màu chưa nhận được chơn lý.

        Tuy nhiên, vì mỗi trong người chúng ta đều có Phật tánh như nhau nên một khi màn Vô minh không còn, chơn lý sẽ được tỏ ngộ.

        PHẬT TÁNH: Cái tánh chơn thật. Cũng gọi là tánh Phật của mỗi chúng sanh. Có nhiều tên gọi khác nhau, như Chơn tâm, Bổn lai diện mục, Chủ nhơn ông, Như lai tạng.v.v...

        PHẬT TÁNH còn có nghĩa là tánh Phật, Tánh giác ngộ, cái Bổn tánh lành, Mầm lương thiện ở mỗi người mỗi vật. Còn gọi là Như lai tánh. Đối nghĩa với Chúng sanh tánh. Trong Phạm võng Kinh: “Tất cả chúng sanh đều có sẳn cái tánh giác ngộ nơi mình (Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh). Nhờ cái tánh giác ngộ ấy, cái Bổn tánh lành ấy, chúng ta mới công nhận và thấu đạt lý Nhân quả, hiểu cái thể tự nhiên của mình đồng với PHẬT. Do vậy, Đức Thầy cho biết:

                “Tánh an nhiên bất diệt trường tồn,

                Tử thần kia đâu dám dắt hồn.

                Thoát luân chuyển khỏi đeo khổ tử.”

                                        (Khuyến Thiện,  Quyển 5)

        Trong “Pháp Bảo Đàn Kinh” - Phẩm thứ Hai, Đức Lục Tổ có giải rằng: “Dầu kẻ ngu, dầu người trí cũng đều có Phật tánh như nhau. Chỉ tại sự mê, ngộ chẳng đồng đó thôi. Cho nên mới có kẻ ngu người trí.”

            Phật tánh cũng tức là Chơn Như, là cái tánh chơn thật như thường, không biến cải, chẳng sanh chẳng diệt. Song với kẻ ngu, vì bị nhiều sở dục, vì bị nghiệp chướng ngăn bít, nên cái Phật tánh, cái Chơn như phải bị lu mờ. Còn đối với người trí ít tham, ít dục, mỗi việc tu hành, nên cái Phật tánh, cái Chơn Như tỏ rõ ra, biết lẽ quấy mà tránh, biết lẽ phải mà theo.

            Đối với chúng sanh trong Thập giới, cái Phật tánh ở trong ba hàng: Địa ngục, Ngạ quỉ và Súc sanh thì kém tối; ở trong ba hàng:Thiên, Nhơn, Atu-la thì khá hơn; rồi từ Thinh văn, Duyên giác, Bồ tát càng tốt hơn nhiều; cho đến  bực PHẬT, thì cái Phật tánh sáng suốt hoàn toàn.

           Trong NIẾT BÀN KINH (quyển 25), Bồ tát cho biết rằng: Phật tánh có bảy đức tánh, bảy nghĩa lý: 1.- Thường (Thường, chẳng đổi), 2.- Tinh (trong sạch), 3.- Thật (Thành thật), 4.- Thiện (Lành, chẳng ác), 5.- Đương kiến (Cái mà người ta đương thấy và sẽ thấy), 6.- Chơn (Chơn chánh, chẳng giả),7.- Khả chứng (Cái mà mình có thể chứng đắc).

        Trong PHÁP BẢO ĐÀN KINH, Tổ bảo rằng:“Nầy đại chúng! Người đời tự sắc thân mà thành, mắt tay mũi lưỡi là cửa, ngoài có năm cửa, trong có cửa ý. Tâm là đất, tánh là vua, vua ở trên đất tâm, tánh còn thì vua còn, tánh đi thì vua mất, tánh ở thì thân tâm còn, tánh đi thì thân tâm hoại. Phật nhằm ở trong tánh mà tạo, chớ hướng ra ngoài mà cầu. Tự tánh mê tức là chúng sanh, tự tánh giác tức là Phật. Từ bi tức là Quán Thế Âm, Hỷ xả gọi là Đại Thế Chí, hay tịnh tức là Đức Phật Thích Ca, bình trực tức là Phật Di Đà. Nhơn ngã ấy là Tu Di, tà tâm là biển độc, phiền não là sống mòi, độc hại là rồng dữ, hư vọng là quỉ thần, trần lao là rùa trạnh, tham sân là địa ngục, ngu si là súc sanh. Nầy thiện trí thức! Thường làm mười điều lành thì thiên đường liền đến, trừ nhơn ngã thì núi Tu Di ngã, dẹp được tham dục thì biển  độc khô, phiền não không có thì sóng mòi mất, độc hại trừ thì rồng cá đều dứt. Ở trên tâm địa mình là giác tánh Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa thanh tịnh hay phá sáu cõi trời dục, tự tánh trong chiếu ba độc tức liền trừ địa ngục.v.v…các tội một lúc đều tiêu diệt, trong ngoài sáng tột, chẳng khác với cõi Tây phương, không chịu tu như thế nầy thì làm sao đến được cõi kia?”

        Đồng nghĩa lý với Phật tánh, với Chơn Như, danh từ Phật học còn có thêm từ BỔN LAI DIỆN MỤC.

        BỔN LAI DIỆN MỤC: Còn gọi là Bổn Lai tâm, tức là trực nhận tâm Phật của chính mình. Nếu giác ngộ là Phật. Còn mê muội là chúng sanh. Cũng như sóng và nước, vọng và chơn, chân và giả. Nó vốn sinh từ gốc bản lai. Do câu chuyện như sau:

          Xưa, Đức Lục Tổ ở xứ Lãnh Nam vốn là người không biết chữ, một hôm Ngài đi đốn củi đổi gạo gặp một Sa Môn đọc kinh Kim Cang đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, thì Ngài giác ngộ đi tu. Sau tám tháng giã gạo tại chùa Huỳnh Mai được Ngũ Tổ bảo hãy vào nhà sau truyền pháp. Ngũ Tổ cũng lấy kinh Kim Cang giảng nghĩa cho ông nghe, và cũng đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” như trên ông liền đắc ngộ. Vì thế ông thốt lên bài Kệ:

                “Nào dè tánh mình vốn sẵn thanh tịnh,

                 Nào dè tánh mình vốn không sanh diệt.

                 Nào dè tánh mình hay sanh muôn pháp,

                 Nào dè tánh mình vốn sẵn đầy đủ,

                 Nào dè tánh mình vốn luôn trong sạch”.

          Cuối cùng, sau khi tìm hiểu ý nghĩa của CHỦ NHƠN ÔNG, của PHẬT TÁNH thì chúng ta thấy HUỜN LAI BỔN TÁNH cũng cùng chung nghĩa lý.

        HUỜN LAI BỔN TÁNH: Trở về tánh bản lai, tức tánh nguyên thỉ của mình thuở trước. Theo kinh điển cho biết: Mỗi người đều có tánh bản lai, nó vốn thanh tịnh hằng hữu. Nhưng bản tánh nầy chưa có thời gian gạn lọc nên bị vô minh che mờ. Nếu nay chúng ta phá được mây, huệ nhựt sẽ hiện bày tức khắc. Cái bản lai thanh tịnh đắc ngày nay thật nó không khác cái bản lai của ta trước kia. Nhưng cái chưa lọc và cái đã lọc rồi. Nó ví như chất nước chưa lọc và chất nước đã lọc, nó không khác. Có khác chăng là tại lớp bùn sịn còn chất chứa trong nước trong mà thôi. Do vậy, Đức Thầy có dạy:

        Cỏ cùng cây điểu-thú chim-muông,

        Nhơn với vật huờn lai bổn-tánh.

                                (Nang thơ Cẩm Tú)

        Tóm lại, giáo lý của nhà Phật rất cao siêu bí hiểm. Chúng ta không chỉ nhìn nơi hình tướng qua loa bề ngoài mà thông hiểu được, mà rồi thâm tâm mình cũng không được gì. Bởi ngoài tâm không có Đạo, mà ngoài Đạo không có tâm. Mà: Đạo tại tâm, tâm Đạo bất tùng, tùng Phật Đạo mới là thật Đạo. Và phải nhớ rằng cái Đạo vốn“chẳng có, chẳng không, không chẳng không”. Và “Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Sắc bất vị không, không bất vị sắc”.(Kinh Kim Cang). Vì vậy chúng ta muốn đạt đến cái cao quý đó, thì ngày đêm phải sở cầu và sở hành một cách tha thiết chuyên cần tinh tấn, mới mong thâu được kết quả.(Phụ chú: Những định nghĩa về các danh từ Phật học trong bài viết nầy được trích từ quyển "Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ Chú Giải" của Cố Đồng đạo Thiện Tâm và một số Kinh Phật). 

        Chúng ta cũng nên biết rằng: Cái thần hồn và linh tánh trí tuệ của mỗi người đều hòa đồng với nhau một thể. Bởi tâm thần linh tánh là thể, còn thân xác ngôn ngữ và tướng là dụng. Vậy ai muốn kiến tánh hãy nhìn kỹ:

                “Trong cây có trái hoa,

                Trong tâm có Phật Đà.

                Chớ thấy bằng nội tướng,

                Phải thấy bằng tâm ta”./.

                   Nam mô A Di Đà Phật !

                           TRƯƠNG VĂN THẠO
Comments